Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
4 Đánh giá cải thiện chức năng

4 Đánh giá cải thiện chức năng

Tải bản đầy đủ - 0trang

74



Thị lực của nhóm Bevacizumab tăng lên nhanh vào thời điểm 3 tháng

sau đó tăng chậm hơn cho tới thời điểm 12 tháng. Sự thay đổi của thị lực

theo thời gian có ý nghĩa (p < 0,0001; Friedman). Phân tích hậu kiểm cho

thấy thị lực ở tất cả các lần thăm khám đều hơn lúc ban đầu (p<0,0001; R

nparcomp package). Thời điểm 12 tháng thị lực cao hơn có ý nghĩa so với

thời điểm 3 tháng (p=0,0001) và 6 tháng (p= 0,0242); sự khác biệt giữa tháng

thứ 3 và 6 khơng có ý nghĩa (p=0,3384). Như vậy, thị lực sau điều trị của

nhóm Bevacizumab tăng nhanh sau khi điều trị 3 tháng, tăng không đáng kể

từ 3-6 tháng và tiếp tục tăng tới thời điểm 12 tháng.

Tương quan thị lực trước và sau điều trị 12 tháng

Để thấy được mối quan hệ của thị lực trước và sau điều trị cũng như

xác định được những điểm dữ liệu ngoại vi (outlier), thị lực trước và sau điều

trị của nhóm Bevacizumab được thể hiện bằng biểu đồ phân tán sau đây.



Biểu đồ 3.10 Biểu đồ phân tán thị lực trước và sau khi điều trị 12 tháng ở

nhóm Bevacizumab. Vùng màu xám thể hiện KTC 95% và đường hồi qui.



75



Bảng 3.7 Tỷ lệ điều trị thành cơng nhóm Bevacizumab sau 12 tháng

Số lượng



Thành công



Tỷ lệ



47/55



85,5%



Thành công vừa



9/55



16,4%



Thành công tốt



25/55



45,5%



Mất dữ liệu

2/55

3,6%

Biểu đồ trên cho thấy thị lực ban đầu của bệnh nhân càng cao thì thị

lực ở thời điểm 12 tháng càng cao. Hệ số tương quan mạnh là 0,8 (p < 0,001).

Thị lực ban đầu giải thích được 63% biến thiên thị lực sau khi điều trị 12

tháng (Adjusted R-squared = 0,6285). Phân tích hồi qui tuyến tính

Mơ hình hồi qui tuyến tính được xây dựng với biến phụ thuộc là thị

lực của bệnh nhân ở thời điểm 12 tháng; các biến độc lập bao gồm: thị lực

ban đầu, CRT, tăng huyết áp, tăng lipid máu, sử dụng insulin, tiền sử hút

thuốc, giới tính, mức độ trầm trọng của bệnh võng mạc đái tháo đường, hình

thái phù trên chụp mạch huỳnh quang với fluorescein, còn thủy tinh thể hay

khơng. Phân tích hồi qui tất cả các phân nhóm (All subsets regression) được

thực hiện cho thấy các yếu tố sau đây cho kết quả đạt mức ý nghĩa thống kê:

thị lực ban đầu (hệ số: 0,73; p<0,0001), phù khu trú (hệ số 6,04; p=0,009) và

sử dụng insulin có khuynh hướng đạt mức ý nghĩa (-3,75; p=0,051).

3.4.2 Đánh giá thị lực nhóm laser

Thay đổi thị lực theo thời gian

Diễn tiến thị lực trung bình của bệnh nhân nhóm Laser theo các thời

điểm thăm khám được thể hiện trong bảng sau đây.

Bảng 3.8 Thị lực trung bình nhóm Laser theo thời gian

Thời điểm



Thị lực trung bình



Trước khi điều trị



66,04 ± 10,01



3 tháng



66,65 ± 13,00



6 tháng



68,37 ± 10,18



12 tháng



68,29 ± 13,71



p



p= 0,2 (Friedman)



76



Bảng trên cho thấy khơng có sự khác biệt về thị lực trung bình giữa

các lần thăm khám cũng như trước khi điều trị (p=0,2; Friedman). Có thể

thấy rõ hơn nhận định này thông qua biểu đồ hộp thể hiện diễn tiến thị lực

của bệnh nhân nhóm Laser trong suốt q trình theo dõi và điều trị.



Biểu đồ 3.11 Thị lực trong nhóm Laser theo thời gian

Biểu đồ trên cho thấy thị lực của nhóm Laser tăng ít trong giai đoạn 3

tháng đầu điều trị, sau đó khơng thay đổi cho tới thời điểm 12 tháng. Như

vậy, thị lực của nhóm Laser khơng tăng đạt mức có ý nghĩa thống kê sau khi

điều trị (p=0,2; Friedman).

Tương quan thị lực trước và sau điều trị 12 tháng

Để thấy được mối quan hệ của thị lực trước và sau điều trị cũng như

xác định được những điểm dữ liệu ngoại vi (outlier), thị lực trước và sau điều

trị của nhóm Laser được thể hiện bằng biểu đồ phân tán. Biểu đồ 3-12 cho

thấy thị lực ban đầu của bệnh nhân càng cao thì thị lực ở thời điểm 12 tháng

càng cao. Hệ số tương quan ở mức trung bình là 0,4 (p = 0,006). Thị lực ban

đầu chỉ giải thích được 19% biến thiên thị lực sau khi điều trị 12 tháng

(Adjusted R-squared = 0, 1852)



77



Biểu đồ 3.12: Biểu đồ phân tán thị lực trước và sau khi điều trị 12 tháng ở

nhóm Laser. Vùng màu xám thể hiện KTC 95% và đường hồi qui.

Bảng 3.9 Tỷ lệ điều trị thành cơng nhóm Laser sau 12 tháng

Số lượng



Tỷ lệ



Thành công



27/57



47,4%



Thành công vừa

Thành công tốt

Giảm thị lực

Giảm thị lực trầm trọng

Mất dữ liệu



5/57

10/57

7/57

5/57

1/57



8,8%

17,5%

12,3%

8,8%

1,8%



Phân tích hồi qui tuyến tính

Mơ hình hồi qui tuyến tính được xây dựng với biến phụ thuộc là thị

lực của bệnh nhân ở thời điểm 12 tháng; các biến độc lập bao gồm: thị lực

ban đầu, CRT, tăng huyết áp, tăng lipid máu, sử dụng insulin, tiền sử hút

thuốc, giới tính, mức độ trầm trọng của bệnh võng mạc đái tháo đường, hình



78



thái phù trên chụp mạch huỳnh quang với fluorescein, còn thủy tinh thể hay

khơng. Phân tích hồi qui tất cả các phân nhóm (All subsets regression) được

thực hiện cho thấy các yếu tố sau đây cho kết quả đạt mực ý nghĩa thống kê:

thị lực ban đầu (hệ số: 0,89; p<0,0001), bệnh võng mạc đái tháo đường tăng

sinh (hệ số -11,3; p=0,002) và độ dầy võng mạc trung tâm (-0,06; p=0,003).

3.4.3 So sánh giữa hai nhóm về thị lực

Nhằm đánh giá sự khác biệt giữa hai phương pháp điều trị về hiệu quả

cải thiện chức năng là thị lực, chúng tơi so sánh hai nhóm Bevacizumab và

Laser về thị lực trung bình, mức tăng thị lực trung bình và tỷ lệ phần trăm

tăng thị lực.

Thị lực trung bình

Thị lực trung bình của nhóm Bevacizumab và nhóm Laser như sau:

- Ban đầu: 63,80 ± 10,71 so với 66,04 ± 10,01 chữ

- 3 tháng: 72,33 ± 10,49 so với 66,65 ± 13,00 chữ

- 6 tháng: 73,43 ± 10,18 so với 68,37 ± 13,96 chữ

- 12 tháng : 75,96 ± 9,91 so với 68,29 ± 13,71 chữ

Thị lực trung bình trước khi điều trị ở hai nhóm khơng có sự khác biệt

(p=0,70; Mann Whitney U). Chúng tôi sử dụng R Core Team (2017) và gói

lme4 (Douglas Bates, Martin Maechler, Ben Bolker, Steve Walker 2015) để

phân tích mối liên hệ giữa thị lực và phương pháp điều trị bằng mơ hình phân

tích hỗn hợp (mixed effects model analysis). Yếu tố cố định (fixed effects)

chúng tơi sử dụng nhóm điều trị và thời điểm theo dõi (không xem xét tương

tác). Yếu tố ngẫu nhiên (random effects) chúng tôi sử dụng là sự biến thiên

ban đầu của thị lực của từng mắt. Có sự khác biệt về thị lực giữa hai nhóm

điều trị (p= 0,0400; Chi squared/ mixed model) và có sự khác biệt theo thời

gian theo dõi (p<0,001; Chi squared/ mixed model). Như vậy, thị lực sau

điều trị của nhóm Bevacizumab tốt hơn so với nhóm Laser (Biểu đồ 3.13).



79



Biểu đồ 3.13: Biểu đồ hộp thị lực theo thời gian và nhóm điều trị.

Mức tăng thị lực trung bình

Để đánh giá cải thiện thị lực của bệnh nhân sau điều trị chúng tôi sử

dụng mức tăng thị lực trung bình. Thơng số này là trung bình của hiệu số thị

lực ở từng thời điểm thăm khám so với ban đầu của mỗi mắt. Đây cũng là

thông số được sử dụng thường xuyên trong các nghiên cứu lâm sàng trên thế

giới. Mức tăng thị lực trung bình của nhóm Bevacizumab so với nhóm Laser

theo các thời điểm như sau:

- 3 tháng: 8,53 ± 6,49 so với 0,61 ± 10,3 chữ

- 6 tháng: 9,78 ± 7,86 so với 2,33 ± 11,89 chữ

- 12 tháng: 12,17 ± 6,65 so với 2,11 ± 11,84 chữ

Phân tích mơ hình tuyến tính hỗn hợp (mixed effects model analysis)

cho thấy có sự khác biệt về thị lực giữa hai nhóm (Chi squared; p<0,0001)

và có sự khác biệt theo thời gian theo dõi (Chi squared; p=0,0010). Mắt được

điều trị bằng Bevacizumab có mức tăng thị lực hơn mắt được điều trị Laser

quang đông khoảng 10 chữ ở thời điểm 12 tháng (p<0,0001; Mann-Whitney

U test). Thị lực của nhóm Laser tăng ít và chậm còn nhóm Bevacizumab thì

tăng thị lực nhiều và nhanh ngay từ tháng thứ 3 (Biểu đồ 3.14).



80



Biểu đồ 3.14: Biểu đồ hộp sự thay đổi thị lực theo thời gian và điều trị.

Tỷ lệ phần trăm tăng hoặc mất thị lực

Những mắt có thị lực tăng ≥ 15 chữ (tương đương với 3 hàng thị lực)

được gọi là mức tăng thị lực đáng kể. Tỷ lệ phần trăm tăng ≥ 15 chữ trong

nhóm Bevacizumab so với nhóm Laser nhiều hơn gấp 2,5 lần ở thời điểm 6

tháng và gấp 5 lần ở thời điểm 12 tháng. Tỷ lệ % tăng ≥ 10 chữ trong nhóm

Bevacizumab so với nhóm Laser nhiều hơn gấp 3 lần ở thời điểm 6 tháng và

gấp 2,5 lần ở thời điểm 12 tháng. Tương tự như vậy, tỷ lệ % tăng ≥ 5 chữ

trong nhóm Bevacizumab so với nhóm Laser nhiều hơn gấp 2 lần ở tất cả

các thời điểm. Sau 12 tháng theo dõi và điều trị, tỷ lệ phần trăm mắt đạt

những tiêu chí khác nhau ở mỗi nhóm được thể hiện trong bảng và biểu đồ.

Bảng 3.10: Tỷ lệ mắt thay đổi thị lực so với ban đầu của hai nhóm sau 12 tháng.

Tỷ lệ %

(số mắt/tổng số)



Nhóm

Bevacizumab



Nhóm Laser



p



39,7 (21/53)



8,9 (5/56)



0,0004*



Tăng thị lực ≥10 chữ



64,2 (34/53)



26,8 (15/56)



0,0002*



Tăng thị lực ≥ 5 chữ



88,7 (47/53)



48,2 (27/56)



<0,0001*



Mất thị lực ≥15 chữ



0 (0/53)



8,9 (5/56)



0,057 +



Tăng thị lực ≥15 chữ



Chú thích: * Chi-squared test, + Fisher Exact test



81



Biểu đồ 3.15 Tỷ lệ % tăng thị lực ≥15 chữ



Biểu đồ 3.16 Tỷ lệ % tăng thị lực ≥ 10 chữ



Biểu đồ 3.17 Tỷ lệ % tăng thị lực ≥ 5 chữ



82



Tỷ lệ mắt đạt thị lực tăng ≥ 15 chữ của nhóm Bevacizumab là 39,6%

trong khi đó tỷ lệ này ở nhóm Laser là 8,9% (p=0,0004; Chi-squared). Tỷ lệ

mắt có thị lực tăng ≥ 10 chữ của nhóm Bevacizumab là 64,2% và tỷ lệ này ở

nhóm Laser là 26,8% (p=0,0002; Chi-squared). Tỷ lệ mắt có thị lực tăng ≥ 5

chữ của nhóm Bevacizumab là 88,7% và tỷ lệ này ở nhóm Laser là 48,2%

(p<0,0001; Chi-squared). Trong nhóm Bevacizumab khơng có mắt nào bị

mất thị lực từ 15 chữ trở lên còn trong nhóm Laser tỷ lệ này là 8,9% nhưng

sự khác biệt giữa hai nhóm khơng có ý nghĩa thống kê (p=0,057; Fisher

Exact).

Ngồi ra, tỷ lệ mắt có thị lực đạt ≥20/40 trong nhóm Bevacizumab và

nhóm Laser trước khi điều trị lần lượt là 33,7% (18/55 mắt) và 38,6% (22/57

mắt) và sự khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê (p=0,65, Chi-squared test).

Tỷ lệ này ở thời điểm 12 tháng lần lượt là 77,4% (41/53 mắt) và 51,8% (29/56

mắt) và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p=0,005, Chi-squared test).

3.5 Đánh giá cải thiện cấu trúc

Chúng tôi đánh giá hiệu quả cải thiện cấu trúc thông qua phân tích sự

thay đổi CRT (CRT) trong q trình theo dõi và điều trị. Đây cũng chính là

thước đo khách quan nhất và sớm nhất trên lâm sàng.

3.5.1 Đánh giá CRT nhóm Bevacizumab

Diễn tiến CRT trung bình của bệnh nhân nhóm Bevacizumab theo các

thời điểm thăm khám được thể hiện trong bảng và biểu đồ sau đây.

Bảng 3.11 CRT trung bình nhóm Bevacizumab theo thời gian

Thời điểm



CRT trung bình (µm)



Trước khi điều trị



398,75 ± 137,50



p

(So với trước điều trị)



3 tháng



285,95 ± 85,41



p<0,0001



6 tháng



265,52 ± 74,60



p<0,0001



12 tháng



256,53 ± 73,69



p<0,0001



83



Biểu đồ 3.18 Độ dầy võng mạc trung tâm nhóm Bevacizumab theo thời gian

Độ dầy võng mạc trung tâm của nhóm Bevacizumab giảm rất nhanh

ngay từ tháng thứ ba và sau đó giảm thêm khơng đáng kể. Sự thay đổi CRT

có ý nghĩa (p<0,0001; Friedman). Phân tích hậu kiểm cho thấy CRT ở các

thời điểm đều tốt hơn so với ban đầu (p<0,0001; R nparcomp package)

Khơng có sự khác biệt về độ dầy võng mạc trung tâm giữa 3 và 6 tháng

(p=0,6366) và cũng không khác biệt giữa 6 và 12 tháng (p=0,5241). Như

vậy, độ dầy võng mạc trung tâm sau điều trị của nhóm Bevacizumab giảm

nhanh sau khi điều trị 3 tháng và không giảm thêm cho tới thời điểm 12

tháng.

Để thấy được mối quan hệ của độ dầy võng mạc trung tâm trước và

sau điều trị cũng như xác định được những điểm dữ liệu ngoại vi (outlier),

độ dầy võng mạc trung tâm trước và sau điều trị của nhóm Bevacizumab

được thể hiện bằng biểu đồ phân tán Biểu đồ 3-19. Thêm vào đó Bảng 3.12

đều cho thấy hầu hết các trường hợp đều thành công về mặt cải thiện cấu trúc

ở thời điểm 12 tháng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

4 Đánh giá cải thiện chức năng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×