Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHÍA BẮC NƯỚC TA HIỆN NAY

PHÍA BẮC NƯỚC TA HIỆN NAY

Tải bản đầy đủ - 0trang

Ngun đã khơng ngừng trưởng thành và lớn mạnh về  mọi mặt, đáp  ứng 

ngày càng tốt hơn u cầu đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học ­  

cơng nghệ; phục vụ  đắc lực cho phát triển kinh tế  ­ xã hội của   khu vực 

trung du, miền núi phía Bắc và đất nước; từng bước khẳng định vị  trí, vai  

trò của Đại học Vùng trong hệ thống giáo dục ­ đào tạo và trong sự nghiệp 

cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. 

Trường Đại học Tây Bắc nằm trên địa bàn thành phố  Sơn La ­ Tỉnh  

Sơn La (thuộc khu vực miền núi phía Bắc nước ta). Trường Đại học Tây  

Bắc là ngơi trường có lịch sử  lâu đời, với bề  dày truyền thống về  giáo ­  

dục tạo cho con em đồng bào các dân tộc khu tự trị Thái Mèo (trướ c đây)  

nói riêng và khu vực Tây Bắc nói chung. T rườ ng Đại học Tây Bắc đã ra 

đời từ  năm 1960 với nhiều lần đổi tên, chuyển qua nhiều địa điểm khác 

nhau trong tỉnh Sơn La. M ục tiêu phát triển của trường Đại học Tây Bắc  

là: Xây dựng Nhà trườ ng thành đại học đa ngành, đa cấp định hướng 

nghề nghiệp ­  ứng dụng, có đội ngũ cán bộ  giảng viên đạt trình độ  mức 

chung của ngành và có cơ  cấu phù hợp, đảm bảo uy tín chất lượ ng trong  

đào tạo và nghiên cứu, góp phần bảo tồn, phát triển văn hố các dân tộc 

Tây Bắc. Sinh viên đượ c trang bị  kiến thức và phương pháp có đủ  năng 

lực trong mơi trường cạnh tranh. Từng b ước phát triển nguồn tài chính 

để  thực hiện tự  chủ  về  tài chính. Trường xứng đáng là trung tâm đào 

tạo, nghiên cứu hàng đầu của Vùng, tiếp cận trình độ các trường đại học 

có đẳng cấp cao trong nước và khu vực.  Đến nay, trường đã có hơn 55 

năm thành lập, phát triển và trưởng thành, trường đã có một cơ ngơi mới  

khang trang, với trang thi ết b ị ngày càng hiện đại, đáp  ứng nhu cầu học 

tập, nghiên cứu của giảng viên, sinh viên, góp phần quan trọng vào cơng  

tác giáo ­ dục đào tạo của vùng Tây Bắc nói chung và cả nước nói riêng. 

2.1.1.2. Đặc điểm chung



Một là,  Đại học Thái Ngun và trường đại học Tây Bắc  ở  trên địa 

bàn khu vực trung du, miền núi phía Bắc nước ta – nơi giàu truyền thống u 

nước, là cái nơi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Nhiều giảng viên, 

sinh viên của các trường trong thời kỳ kháng chiến cứu nước đã gác bút lên 

đường nhập ngũ, chiến đấu, hy sinh theo tiếng gọi của tổ  quốc. Điều này  

tác động rất lớn đến thế hệ  trẻ, đặc biệt là các em sinh viên đang học tập  

tại các trường, do đó cơng tác giáo dục LLCT cho sinh viên có nhiều thuận 

lợi.

Hai là, các trường được Bộ Giáo dục và Đào tạo, tỉnh Thái Ngun và 

tỉnh Sơn La ln tạo mọi điều kiện về vật chất và tinh thần góp phần giúp 

các trường khơng ngừng phát triển. Đây là một trọng những động lực quan  

trọng giúp các trường đại học khu vực trung du, miền núi phía Bắc đổi mới  

giáo dục đào tạo, trong đó có đổi mới phương pháp giáo dục LLCT cho sinh 

viên.

Ba là, Đảng  ủy Ban Giám hiệu các trường ln quan tâm đến cơng 

tác giáo dục LLCT nói chung và đổi mới phương pháp giáo dục LLCT nói 

riêng. Cơng tác tun truyền, giáo dục Chủ  nghĩa Mác Lênin, tư  tưởng Hồ 

Chí Minh; Giáo dục đường lối chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật 

của Nhà nước; Giáo dục tri thức và kinh nghiệm chính trị trong nước và thế 

giới ln được triển khai đồng bộ, đầy đủ, có chiều sâu.

Bốn là, các trường đại học có số lượng giảng viên đơng về số lượng 

và tốt về chất lượng. Trong đó, số lượng giảng viên LLCT ở các trường đa 

số  là giảng viên trẻ, được đào tạo chính quy, bài bản, có trình độ  và bản 

lĩnh chính trị  vững vàng. Đây là nguồn lực rất quan trọng để  các trường  

tiến hành đổi mới phương pháp giáo dục LLCT cho sinh viên thành cơng. 

Năm là, cở  sở  vật chất phục vụ  cho giáo dục, đào tạo, nghiên cứu 

khoa học của các trường về  cơ  bản đáp  ứng được các u cầu của q  



trình đổi mới phương pháp giáo dục cho sinh viên. Các trang thiết bị  vật  

chất ­ kỹ  thuật và các phương tiện dạy học  ngày càng được tăng cường 

theo hướng hiện đại, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của cả giảng viên  

và sinh viên các trường. 

2.1.1.3. Đặc điểm riêng

* Đại học Thái Ngun:

­ Đại học Thái Ngun là đại học vùng đào tạo đa ngành, đa cấp, 

được chính phủ  xác định là Đại học trọng điểm quốc gia. Đại học Thái 

Ngun có 11 đơn vị  đào tạo (trong đó có 7 trường trường đại học, 01  

trường cao đẳng, 02 khoa trực thuộc và trung tâm giáo dục quốc phòng), 12 

ban chức năng và 12 đơn vị nghiên cứu và phục vụ. Đại học Thái Ngun 

đào tạo 284 ngành và chun ngành trong đó 27 ngành tiến sĩ, 43 ngành thạc  

sĩ, 162 ngành đào tạo đại học (xem phụ lục 3). Trong đó, chỉ có trường Đại 

học Sư Phạm có khoa giáo dục lý luận đào tạo sinh viên chun ngành Mác  

– Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, còn các trường đại học khác đều dạy học 

các mơn LLCT là mơn cơ  bản.  Ở  các trường có bộ  mơn LLCT trực thuộc  

Khoa học Cơ Bản.

­ Đại học Thái Ngun tập trung số giáo sư, phó giáo sư, piến sĩ, Nhà  

nghiên cứu, nhà khoa học trình độ cao. Đại học Thái ngun có 4.232 cán bộ 

viên chức, trong đó có 2.734 cán bộ dạy học  với 98 phó giáo sư, 389 tiến sĩ,  

1558 thạc sĩ, 796 đại học  (xem 3.2, phụ  lục 3). Giảng viên LLCT của các 

trường đại học trực thuộc đại học Thái Ngun có 101 người với 13 tiến sĩ, 

87 thạc sĩ, 11 đại học, giáo sư, phó giáo sư  chưa có (xem 3.11, phụ  lục 3). 

Các giảng viên LLCT có tuổi đời tương đối trẻ, được đào tạo chính quy, bài 

bản, nhiệt huyết, u nghề.

­ Cở sở vật chất phục vụ cho giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học 

của Đại học Thái Ngun ngày càng tăng cao cả về số lượng và chất lượng.  



Trang thiết bị phục vụ thực hành, thực tập ngày càng được tăng cường theo 

hướng hiện đại, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu dạy, học và nghiên cứu 

khoa học cho giảng viên và sinh viên. Trong giai đoạn từ  năm 2010 – 2015 

Đại học Thái Ngun đã đầu tư  xây dựng cơ  sở  vật chất đạt trên 1,203 tỷ 

đồng (trong đó đầu tư từ nguồn vốn ngồi ngân sách Nhà nước cấp cho xây  

dựng  cơ  bản   đạt   504,532  tỷ   đồng,  chiếm   41,9%  tổng  kinh  phí   đầu  tư)  

(Nguồn: Báo cáo chính trị  trình Đại hội đại biểu Đảng bộ  Đại học Thái  

Ngun nhiệm lần thứ V nhiệm kỳ 2015 – 2020). Tuy nhiên, vẫn còn nhiều 

khóa khăn, một số trường đại học trực thuộc Đại học Thái Ngun lâu đời, 

mặc dù có cơ  sở  vật chất, quy mơ phòng học tốt song trang thiết bị, các 

phương tiện dạy học  chưa đồng bộ. Các trường mới thành lập tuy cơ  sở 

vật chất, phòng học còn hạn chế, nhưng cơ sở vật chất, các phương tiện kỹ 

thuật nói chung được đầu tư mới, đồng bộ, hiện đại. Điều này cho thấy, có  

sự đa dạng giữa các trường thành viên trong Đại học Thái Ngun. Ký túc xá 

cho sinh viên Đại học Thái Ngun hiện nay mới chỉ đáp ứng được khoảng 

30% số chỗ ở cho sinh viên. Trong khi đó, nhiều sinh viên của đại học Thái 

Ngun  ở  các vùng khó khăn, huyện nghèo 30A, sinh viên là đồng bào các  

dân tộc thiểu số, đi học xa nhà... Do đó, khu nội trú ký túc xá mới chỉ  đáp  

ứng được một phần nhu cầu chỗ ở và mơi trường học tập cho sinh viên. 

* Trường đại học Tây Bắc:

­ Nhà trường có 10 khoa với 21 ngành đào tạo trình độ đại học và 13  

khoa đào tạo trình độ  cao đẳng; có 10 phòng, 06 trung tâm, 01 trường phổ 

thơng thực hành Chu Văn An trực thuộc.  Trường Đại học Tây Bắc có 539 

cán bộ viên chức, trong đó khoa LLCT có 22 giảng viên (xem phụ lục 4).

­ Đại học Tây Bắc có Khoa lý luận chính trị, đào tạo sinh viên chun 

ngành Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với quy mơ đào tạo 363 sinh viên 

(năm học 2014 – 2015). Các giảng viên LLCT nhà trường có trình độ chun 



mơn cao, đa số  là giảng viên trẻ, u nghề, nhiệt huyết trong giảng dạy . 

Nhiều cán bộ là con em Tây Bắc được cử đi học tập sau đó về cơng tác phục  

vụ nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho khu vực. 

­ Cơ  sở  vật chất kỹ  thuật và các phương tiện dạy học   của nhà 

trường đã được cải thiện nhiều nhưng nhìn chung còn nhiều khó khăn, 

chưa theo kịp với xu hướng phát triển ngày càng nhanh mạnh nền giáo dục 

hiện đại Việt Nam cũng như khu vực và thế giới hiện nay.  Khu Nội trú nhà 

trường được đầu tư  xây dựng khang trang, hiện đại trên khn viên khn 

viên rộng, bao gồm 8 tòa nhà 5 tầng  với 473 phòng  ở, 8 phòng sinh hoạt 

chung, đáp ứng khoảng 3.000 chỗ ở cho sinh viên. 

2.1.2. Đặc điểm sinh viên các trường đại học khu vực trung du,  

miền núi phía Bắc

Quy mơ số lượng sinh viên các trường đại học khu vực trung du, miền  

núi phía Bắc có số  lượng rất đơng. Trong đó, đại học Thái Ngun có hơn  

90.000 sinh viên, học viên theo học, trong đó sinh viên đại học hệ chính quy  

có  56.753  sinh viên (năm học 2014 ­ 2015). Trường Đại học Tây Bắc có  

7.135 sinh viên chính quy theo học (năm học 2014 – 2015). (Xem 4.3, phụ lục  

4)

2.1.2.1. Đặc điểm chung 

Một là, sinh viên các trường đại học khu vực trung du, miền núi phía 

Bắc cũng giống như các trường đại học khác của cả nước chịu ảnh hưởng 

từ  q trình tồn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Cùng với cả  nước, khu vực 

trung du, miền núi phía Bắc đang ra sức đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện 

đại hóa, thực hiện tiến trình tồn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Q trình này  

diễn ra mạnh mẽ và sơi động trên tất cả các mặt của đời sống xã hội. Nó tác 

động theo cả hai chiều tích cực và tiêu cực đến sinh viên các trường đại học.  



Đây vừa là cơ hội nhưng đồng thời cũng là thách thức cho sinh viên trong q 

trình đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới phương pháp giáo dục LLCT 

nói riêng.

Hai là, sinh viên các trường đại học khu vực trung du, miền núi phía 

Bắc nói riêng và sinh viên nước ta nói chung là bộ phận thanh niên  ưu tú đã 

được tuyển chọn qua các kỳ  thi quốc gia và được đào tạo trong các trường 

đại học, cao đẳng. Họ  là lớp người được đào tạo để  có trình độ  học vấn  

cao, trình độ  khoa học kỹ  thuật và chun mơn giỏi; sớm tiếp nhận các tri 

thức khoa học và cơng nghệ tiên tiến; nhạy cảm và năng động trong tư duy; 

có nhiều hồi bão ước mơ và lý tưởng cao đẹp. Họ sẽ là lực lượng lao động  

chủ  yếu của sự  nghiệp cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước, nhiều 

người trong số họ sẽ  trở thành những cán bộ  chủ  chốt trong các ngành của  

tỉnh và khu vực. 

Ba là, sinh viên các trường đại học khu vực trung du, miền núi phía Bắc 

sinh ra trên q hương cách mạng, sớm có nhận thức chính trị  sâu sắc. Thái 

Ngun và Sơn La đều là những tỉnh có truyền thống u nước, chống giặc 

ngoại xâm, có nhiều di tích lịch sử  gắn liền với các cuộc kháng chiến cứu  

nước của dân tộc. Vì vậy, người dân hai tỉnh ln có tinh thần cách mạng, 

lòng u nước sâu sắc, điều này có ảnh hưởng rất tích cực đối với thế hệ trẻ 

­ sinh viên đại học. Đây là một yếu tố quan trọng tạo ra sự thuận lợi cho nhận 

thức chính trị của sinh viên các trường thuộc Đại học Thái Ngun và trường  

Đại học Tây Bắc. 

Bốn là, sinh viên các trường thuộc Đại học Thái Ngun và trường 

Đại học Tây Bắc đa phần đều là con em thuộc các tỉnh trung du miền núi 

phía Bắc, trong đó sinh viên dân tộc thiểu số và sinh viên có hồn cảnh khó 

khăn chiếm số lượng lớn. Đa số các em đều hiếu học , có ý trí và sự  nỗ lực 

vươn lên trong học tập để vượt qua đói nghèo. Tuy nhiên, khu vực trung du, 



miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, nhìn chung điều kiện kinh tế còn nhiều 

khó khăn, trình độ nhận thức chính trị của một bộ phận người dân còn hạn  

chế... do đó, sinh viên cũng dễ  bị  các đối tượng xấu lợi dụng để  tun  

truyền, lơi kéo làm ảnh hưởng tiêu cực đến q trình giáo dục LLCT trong 

các trường đại học.

Năm là, sinh viên các trường đại học khu vực trung du, miền núi 

phía Bắc có điểm đầu vào đại học thường thấp hơn so với sinh viên các  

trường Đại học ở thành phố lớn như Hà Nội hay Thành phố Hồ Chí Minh.  

Điều này ảnh hưởng khơng nhỏ đến chất lượng giáo dục trong đó có giáo 

dục LLCT cho sinh viên.

2.1.2.2. Đặc điểm riêng

* Sinh viên đại học Thái Ngun:

­ Đại học Thái Ngun có số  lượng sinh viên đơng, đa dạng về  các 

chun ngành đào tạo, quy mơ và mức độ đổi mới phương pháp giáo dục giữa  

sinh viên các trường đại học trực thuộc Đại học Thái Ngun khơng giống 

nhau. 

­ Sinh viên đại học Thái Ngun đa dạng về  văn hóa. Đại học Thái 

Ngun là đại học vùng, số lượng sinh viên đơng, phân bố ở nhiều tỉnh thành 

thuộc khu vực trung miền núi phía Bắc, đồng bằng sơng Hồng, dun hải 

miền Trung, thậm chí có cả  sinh viên khu vực Tây Ngun và Nam bộ  theo 

học. Ngồi ra, còn có khoảng hơn 2.000 sinh viên là lưu học sinh nước ngồi  

đang   học   tập   và   nghiên   cứu   tại   các   trường   đại   học   thuộc   đại   học   Thái 

Ngun. Điều này thể hiện sự đa dạng về văn hóa, dân tộc của sinh viên đại 

học Thái Ngun, từ đó tác động trực tiếp đến q trình đổi mới phương pháp  

giáo dục LLCT cho sinh viên nhà trường.

­ Sinh viên Đại học Thái Ngun chịu nhiều tác động từ  mơi trường 

kinh tế ­ xã hội của Thái Ngun. Thái Ngun là trung tâm kinh tế ­ văn hóa 



của khu vực trung du, miền núi phía Bắc nước ta, do đó sinh viên khi học tại 

Đại học Thái Ngun có điều kiện tiếp cận nhanh hơn với tri thức, văn hóa, 

khoa học… Trong những năm gần đây, Thái Ngun đang trên đà phát triển 

nhanh, q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa được đẩy mạnh... Số  lượng  

người tập trung về  Thái Ngun học tập, làm việc ngày càng đơng. Theo số 

liệu thống kê tại Thái Ngun: dân số  Thái Ngun có khoảng  1,2 người, 

ngồi ra có khoảng hơn 100.000 sinh viên, học viên theo học, nhiều khu cơng 

nghiệp mới mọc lên, đặc biệt là khu cơng nghiệp Samsung có khoảng 50.000  

– 70.000 cơng nhân đang làm việc... Nhìn chung, tình hình an ninh ­ trật tự, văn  

hóa – xã hội của Thái Ngun tương đối phức tạp, nếu các em sinh viên khơng 

có lập trường tư tưởng vững vàng, động cơ và mục đích học tập tốt thì rất có 

thể bị phân tán tư tưởng, xao nhãng trong trong học tập, ảnh hưởng đến cơng 

tác giáo dục LLCT và đổi mới phương pháp giáo dục LLCT cho sinh viên.

* Sinh viên trường đại học Tây Bắc:

­ Sinh viên trường Đại học Tây Bắc đa số là con em đồng bào các dân  

tộc thiểu số khu vực Tây Bắc, nên các em có những nét đặc thù riêng về sinh  

hoạt, về  văn hóa, về  ý thức học tập. Sinh viên trường đại học Tây Bắc có  

71,37% là đồng bào dân tộc ít người, trong đó dân tộc Thái chiếm đa số. Điều  

này có ảnh hưởng nhất định đến q trình giáo dục LLCT cho sinh viên ở đây. 

­ Sinh viên nhà trường chưa có nhiều điều kiện tiếp xúc với các 

phương pháp mới, sử  dụng các phương tiện giáo dục hiện đại còn nhiều 

hạn   chế,   nhất   là   sử   dụng   máy   tính,   mạng   internet...   Trình   độ   tin   học, 

ngoại ngữ của sinh viên còn tương đối yếu so với mặt bằng chung của cả 

nước. Đây là một trong những khó khăn trong q trình đổi mới phương  

pháp giáo dục LLCT cho sinh viên của nhà trường.



2.2. Thực trạng đổi mới phương pháp giáo dục lý ln chính 

trị cho sinh viên các trường đại học khu vực trung du mi ền núi phía 

Bắc nước ta hiện nay

2.2.1. Thành tựu  và ngun nhân 

2.2.1.1. Thành tựu đạt được trong q trình đổi mới phương pháp  

giáo dục lý luận chính trị cho sinh viên

Căn cứ vào nội dung đổi mới phương pháp giáo dục LLCT nêu trên, 

chúng   ta   có   thể   khảo   sát   thành   tựu   đạt   được   trong   q   trình   đổi   mới  

phương pháp giáo dục LLCT cho sinh viên các trường đại học khu vực 

trung du, miền núi phía Bắc.

Một là, đổi mới phương pháp giáo dục LLCT trên cơ sở áp dụng các  

phương pháp giáo dục mới, hiện đại cho sinh viên.

­ Sự đổi mới phương pháp của các chủ thể giáo dục LLCT: 

Một số  chủ  thể  giáo dục LLCT đã có những sáng tạo nhất định về  

phương pháp trong giáo dục LLCT cho sinh viên. 

Trong q trình giáo dục LLCT, các chủ  thể  giáo dục đã ln nỗ  lực  

trong đổi mới phương pháp giáo dục và sáng tạo ra các phương pháp mới 

nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả q trình giáo dục cho sinh viên. Tùy vào  

điều kiện, hồn cảnh cụ thể các chủ thể ln tìm tòi, thay đổi nhằm đáp ứng 

nhu cầu của người học. Nhiều cách nghĩ, cách làm, cách dạy mới đã được thử 

nghiệm và áp dụng gây được sự chú ý, hứng thú của sinh viên. Một số giảng  

viên trẻ đã sáng tạo ra các phương pháp pháp truyền đạt kiến thức mới: Tổ 

chức dạy học   bằng cách phân vai, u cầu sinh viên đóng vai trò là người tổ 

chức, duy trì một chủ  đề  thảo luận đã định trước; thiết kế  các mơdun bài 

giảng theo các chủ  đề, sau đó hệ  thống hóa thành các kết luận có tính định  

hướng cao; giải  đáp thắc mắc trực tuyến cho sinh viên thơng qua mạng  



internet; cho sinh viên sáng tạo các clip phục vụ cho bài học... Theo kết quả 

khảo sát của sinh viên về mức độ đổi mới phương pháp dạy học   tích cực, có 

sáng tạo, gây được sự hứng thu cho người học thì  80,21% sinh viên đánh giá  

khá và tốt...(Xem 2.1.1, phụ lục 2). 

Phương pháp giáo dục LLCT thơng qua các hoạt động chính trị  ­ xã 

hội thực tiễn cũng được các chủ thể giáo dục sử  dụng linh hoạt, sáng tạo. 

Từ đó, khơi gợi niềm đam mê, hứng thú cho sinh viên, nâng cao chất lượng  

giáo dục LLCT trong các trường  đại học. Hoạt động tun truyền chủ 

trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến sinh viên có 

nhiều thay đổi về nội dung, hình thức, phương pháp (các cuộc thi Olimpic 

Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thơng quan game show truyền hình; các 

cuộc thi Báo cáo viên giỏi các cấp được tổ  chức hấp dẫn, thu hút được  

đơng đảo các đối tượng tham gia; cuộc vận động đẩy mạng học tập và làm  

theo tư  tưởng, tấm gương đạo đức Hồ  Chí Minh được thực hiện dưới 

nhiều hình thức...)

Các chủ  thể  giáo dục đã có sự  kế  thừa, chọn lọc những phương  

pháp giáo dục mới, hiện đại trong giáo dục LLCT cho sinh viên.

Ở  các trường đại học khu vực trung du, miền núi phía Bắc, một số 

chủ thể giáo dục đã tích cực sử dụng phương pháp giáo dục mới, hiện đại 

trong giáo dục LLCT cho sinh viên. Đó là những phương pháp nhằm phát 

huy tính tích cực, sáng tạo của người học. 

Trong dạy học  LLCT các phương pháp như: dạy học   cùng tham gia, 

đàm thoại, nêu vấn đề, thảo luận nhóm, xemina... đã thường xun được các 

giảng viên sử dụng. Đây là nhóm các phương pháp dạy học   góp phần phát 

huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của sinh viên. Theo kết quả  khảo sát  

giảng viên,  các  phương  pháp  được sử  sử   dụng chủ  yếu  trong dạy học  

LLCT cho sinh viên thì 72,50%: thuyết giảng, 50,00%: đàm thoại, 37,50%:  



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHÍA BẮC NƯỚC TA HIỆN NAY

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×