Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trƣớc khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999

Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trƣớc khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999

Tải bản đầy đủ - 0trang

các quy định  của chương này là người chưa thành niên phạm tội. Hơn nữa, 

Bộ  luật   hình sự  năm   1985  còn  thể  hiện  thống  nhất  một  nguyên  tắc 

chung  là:  Người  chưa  thành



niên phạm  tội  phải  chịu trách nhiệm hình sự  theo những quy  định của 

chương này, đồng thời theo những quy định khác của Phần chung Bộ  luật 

khơng  trái với những quy định của chương này. Điều này có nghĩa khi áp 

dụng  các ngun tắc xử  lý người chưa thành niên phạm tội, các cơ  quan 

chức năng phải lấy quy định của chương này để ưu tiên áp dụng, đồng thời 

vận dụng các  quy định khác thuộc phần chung nhưng phải "khơng trái" với 

quy định   của chương này, nếu trái thì khơng được áp dụng.

Thứ  hai,  tuổi  chịu  trách  nhiệm  hình  sự  cũng  được  các  nhà  lập 

pháp hình sự thời kỳ này quy định một cách cụ thể. Điều 58 Bộ luật hình 

sự năm 1985 đã quy định: "Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 

tuổi  phải chịu trách nhiệm hình sự  về  những tội phạm nghiêm trọng do cố 

ý, và  người từ  đủ  16  tuổi  trở  lên  phải  chịu  trách  nhiệm  hình  sự  về  mọi 

tội  phạm"  [52]. Theo Điều 8 khoản 2 Bộ luật hình sự năm 1985 thì:

Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây ra nguy hại lớn 

cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy 

là trên năm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

Những tội phạm khác là tội phạm ít nghiêm trọng [52].

Như  vậy,  điều  luật  quy  định  phân  hóa  trách  nhiệm  hình  sự  đối 

với   người  chưa  thành  niên.  Nếu  người  chưa  thành  niên  phạm  tội  là 

người  đã  đủ 16  tuổi  trở  lên  thì  họ  phải  chịu  trách  nhiệm hình  sự  về  mọi 

hành  vi  phạm tội mà họ  thực hiện. Nếu họ  là người từ  đủ  14 đến 16 tuổi 

thì chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi tội mà họ thực hiện là tội nghiêm 

trọng  và  được  thực  hiện với  lỗi  cố  ý.  Còn  nếu  tội  đó  là  tội  ít  nghiêm 

trọng,  hoặc  là  tội  nghiêm  trọng nhưng  người  chưa  thành  niên  lại  thực 

hiện với lỗi vơ ý thì  khơng phải chịu trách nhiệm hình sự.

Thứ  ba,  Bộ  luật  hình  sự  năm  1985  đã  quy  định  cả  một  hệ  thống 

các nguyên  tắc  xử  lý  đối  với  người  chưa  thành  niên  phạm  tội.  Điều  59 

Bộ  luật



hình sự năm 1985 quy định các ngun tắc cơ bản để xử lý hành vi phạm 

tội của người chưa thành niên. Những ngun tắc này bao gồm:

Ngun tắc thứ  nhất: Việc xử  lý hành vi phạm tội của người chưa 

thành niên chủ  yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ  họ  sửa chữa sai lầm, phát triển 

lành mạnh và trở thành cơng dân có ích cho xã hội.

Trong  mọi  trường  hợp  điều  tra,  truy  tố,  xét  xử  hành  vi  phạm  tội 

của người  chưa  thành  niên,  các  cơ  quan  nhà  nước  có  thẩm  quyền  phải 

xác  định khả  năng  nhận  thức  của  họ  về  tính  chất  nguy  hiểm  cho  xã  hội 

của  hành  vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện xảy ra phạm tội.

Nguyên tắc trên thể  hiện quan  điểm nhân  đạo của  Đảng và Nhà 

nước ta, đối với người chưa thành niên, mục của hình phạt khơng phải là 

để  trừng trị  họ  mà để  giáo dục, cải tạo họ  thành cơng dân có ích. Để  đạt 

được mục  đích này Bộ  luật hình sự  năm 1985 u cầu trong mọi trường 

hợp điều tra, truy  tố, xét xử  hành vi phạm tội của người chưa thành niên, 

các cơ  quan nhà nước  có thẩm quyền phải xác  định khả  năng nhận thức 

của họ  về  tính chất nguy  hiểm  cho xã hội  của hành  vi  phạm tội,  nguyên 

nhân và  điều kiện gây ra tội phạm để  từ  đó  quyết  định  có  cần  áp  dụng 

hình  phạt  hay  có  thể  áp  dụng  biện  pháp  giáo dục  khác.  Khi  quyết  định 

vấn  đề  này  cần  quán  triệt  nguyên  tắc  giáo  dục  là chính.

Nguyên  tắc  thứ  hai:  Đối  với  người  chưa  thành  niên  phạm  tội, 

Viện kiểm  sát  và  Tòa  án  áp  dụng  chủ  yếu  những  biện  pháp  giáo  dục, 

phòng ngừa; gia đình, nhà trường và xã hội có trách nhiệm tham gia tích cực 

vào việc thực hiện những biện pháp ấy.

Bộ  luật  hình  sự  năm  1985  đã  chỉ  rõ  Viện  kiểm sát  và  Tòa  án  chủ 

yếu áp  dụng  biện  pháp  giáo  dục,  phòng  ngừa  đối  với  người  chưa  thành 

niên,  coi mặt  cơng  tác  này  là  chính  yếu  trong  đấu  tranh,  phòng  chống  tội 

phạm  người chưa thành niên. Nguyên tắc này cũng xác  định trách nhiệm 

của cơ quan   nhà



nước  tổ  chức  xã  hội  trong  việc  tham  gia  tích  cực  vào  thực  hiện  những 

biện pháp có tính chất giáo dục, phòng ngừa người chưa thành niên phạm 

tội. Coi việc  giúp  đỡ,  giáo  dục  người  chưa  thành  niên  phạm  tội  là  trách 

nhiệm  của toàn  xã  hội  chứ  khơng  chỉ  có  các  cơ  quan  tiến  hành  tố  tụng, 

bởi  có  sự  chung sức của tồn xã hội sẽ  tạo cho em một mơi trường phát 

triển lành mạnh, giúp các em nhanh chóng tự hồn thiện bản thân và trở lại 

cộng đồng.

Ngun  tắc  thứ  ba:  Viện  kiểm  sát  có  thể  quyết  định  miễn  truy 

cứu trách nhiệm hình sự  người chưa thành niên phạm tội nếu người  đó 

phạm tội  ít nghiêm trọng, gây hại khơng lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ 

và nếu  được  gia  đình và tổ  chức xã hội nhận trách nhiệm giám sát, giáo 

dục.

Chỉ  đưa  người  chưa  thành  niên  phạm  tội  ra  xét  xử  và  áp  dụng 

hình  phạt  đối  với  họ  trong  trường  hợp  cần  thiết,  căn  cứ  vào  tính  chất 

nghiêm trọng của  hành  vi  phạm tội,  vào  những  đặc  điểm  về  nhân  thân  và 

u cầu của việc phòng ngừa.

Ngun tắc này cho phép Viện kiểm sát có quyền miễn truy cứu 

trách nhiệm hình sự  người chưa thành niên phạm tội nếu người đó phạm 

tội ít nghiêm trọng, gây hại khơng lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ  và nếu 

được  gia đình  hoặc  một  tổ  chức  xã  hội  nhận  trách  nhiệm  giám  sát,  giáo 

dục.  Người phạm tội nói chung cũng có thể  được miễn trách nhiệm hình 

sự  nhưng  chỉ  trong  những  trường  hợp  đặc  biệt.  Đối  với  người  chưa 

thành  niên  phạm  tội, điều kiện để  có thể được miễn trách nhiệm hình sự 

thấp hơn so với điệu  kiện miễn  trách nhiệm hình  sự đối với người phạm 

tội  nói  chung.  Với  chức  năng và  nhiệm  vụ  thực  hành  quyền  công  tố  và 

kiểm  sát  việc  tuân  theo  pháp  luật trong  hoạt  động  tư  pháp  của  Viện 

kiểm  sát,  việc  quy  định  Viện  kiểm  sát  có quyền  quyết  định  miễn  truy 

cứu  trách  nhiệm  hình  sự  nêu  trên  vừa  đảm  bảo việc miễn truy cứu trách 



nhiệm hình sự  đúng pháp luật, vừa  đảm bảo tính  kịp thời  ngay  cả  trong 

giai  đoạn  điều  tra,  tránh  cho  việc  người  chưa  thành  niên phải tham gia 

nhiều hoạt động tố tụng, ảnh hưởng đến tâm lý các em.



Người  chưa  thành  niên  phạm  tội  chỉ  được  đưa  ra  xét  xử  trong 

những trường hợp cần thiết, đánh giá là cần thiết hay khơng cần thiết phụ 

thuộc  vào các yếu tố, tính chất, mức độ  nguy hiểm cho xã hội của hành vi 

phạm tội, những  đặc  điểm  phụ  thuộc  về  nhân  thân  của  người  phạm  tội 

và  yêu cầu  của việc  phòng  ngừa  tội  phạm.  Việc  quy  định  này  tránh  cho 

người  chưa  thành niên  mặc  cảm về  hành vi phạm tội  của mình, giúp các 

em  nhanh  chóng  hòa nhập và tự  cải tạo bản thân, bởi vì một người được 

coi là có tội chi khi  người đó bị xét xử bằng bản án kết tội có hiệu lực của 

Tòa án, do vậy đối với  trường hợp khơng cần thiết và việc giáo dục, cải 

tạo người chưa thành niên khơng  bị   ảnh hưởng thì khơng nhất thiết phải 

đưa họ ra xét xử.

Ngun  tắc  thứ  tư:  Khơng  xử  phạt  tù  chung  thân  hoặc  tử  hình 

người chưa  thành  niên  phạm  tội.  Khi  phạt  tù  có  thời  hạn,  Tòa  án  cho 

người  chưa thành  niên  phạm  tội  được  hưởng  mức  án  nhẹ  hơn  mức  án 

áp  dụng  đối  với người chưa thành niên.

Người chưa thành niên phạm tội được giam riêng.

Không  xử  phạt  tiền  và  áp  dụng  các  hình  phạt  bổ  sung  đối  với 

người chưa thành niên phạm tội.

Ngun tắc này quy  định khơng áp dụng hình phạt tử  hình và tù 

chung thân  đối  với  người  chưa  thành  niên  phạm  tội.  Đây  là  hai  hình 

phạt  nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt được quy định trong Bộ 

luật  hình  sự  thể  hiện  người  phạm  tội  khơng  còn  khả  năng  giáo  dục 

buộc  phải  loại  bỏ  hoặc cách  ly  vĩnh  viễn  họ  ra  khỏi  xã  hội.  Việc  quy 

định  không  áp  dụng  hai  hình phạt  này  đối  với  người  chưa  thành  niên 

phạm  tội,  dù  họ  phạm  tội  nghiêm  trọng  thế  nào  chăng  nữa  thì  mọi 

trường  hợp  người  chưa  thành  niên  phạm  tội vẫn có cơ  hội  để  cải tạo 

thành người có ích cho xã hội. Điều này thể  hiện ngun tắc nhân đạo của 



pháp luật hình sự hiện đại. Đây là một quy định có tính  chất  tiến  bộ  nên 

trong  các lần sửa đổi  sau  này, quy định  này vẫn  được tiếp tục ghi nhận.



Trong  trường  hợp  phải  áp  dụng  hình  phạt  tù  có  thời  hạn,  Tòa  án 

cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ  hơn mức án 

áp  dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng. Điều 64 Bộ luật 

hình sự  năm 1985  quy  định  trực  tiếp  mức  án  cao  nhất  của  hình  phạt  tù 

khơng  được  tun vượt q khi quyết định hình phạt đối với người chưa 

thành niên phạm tội  là mười  lăm  năm  hoặc  mười  hai  năm  tù,  tùy  từng 

trường  hợp  phạm  tội  cụ  thể. Để  đảm  bảo  an  toàn  đối  với  chưa  thành 

niên,  việc  giam  giữ  họ  tại  nhà  tạm giữ, trại  tạm giam,  trại  giam phải  có 

sự  phân  loại,  có  buồng  giam  giữ  riêng, hạn chế  sự  tiếp xúc giữa họ  với 

những đối tượng lưu manh.

Ngun tắc này cũng quy  định Tòa án khơng  được áp dụng hình 

phạt tiền và hình phạt bổ  sung  đối với người chưa thành niên bởi vì  đối 

tượng  này chưa nằm trong độ  tuổi lao động nên việc họ  tự  có thu nhập là 

hầu như  khơng có,  việc  áp  dụng  hình  phạt  tiền  đối  với  họ  là  khơng  khả 

thi  và  khơng  có  tác dụng. Hình phạt bổ  sung là hình phạt bổ  trợ  cho hình 

phạt chính, có tác dụng hỗ  trợ  cho  hình  phạt  chính,  do  vậy  Tòa  án  khơng 

nên  áp dụng  hình  phạt  này đối với người chưa thành niên để  làm xấu hơn 

tình trạng họ.

Ngun tắc thứ năm: Án đã tun đối với người phạm tội chưa đủ 

16 tuổi thì khơng tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.

Tính  chất  giảm  nhẹ  trách  nhiệm  hình  sự  của  quy  định  này  thể 

hiện  ở  chỗ  nếu  người  chưa  thành  niên  từ  đủ  14  đến  dưới  16  tuổi  thực 

hiện  tội  phạm lần  thứ  hai  thì  cũng  khơng  được  xác  định  là  tái  phạm 

hoặc  tái  phạm  nguy hiểm  để  tăng  nặng  hình  phạt  đối  với  họ.  Mặt  khác, 

tái  phạm  hoặc  tái  phạm nguy  hiểm  là  tình  tiết  thể  hiện  nhân  thân  người 

phạm  tội  có  khả  năng  giáo dục,  cải  tạo  thấp  nên  việc  quy  định  nguyên 

tắc  này  cũng  tạo  điều  kiện  cho người chưa thành niên phạm tội một lần 



nữa có cơ hội sửa chữa sai lầm của mình, cũng như tránh cho các em mặc 

cảm về nhân thân.

Tóm  lại,  ngun  tắc  xử  lý  đối  với  người  chưa  thành  niên  phạm 

tội  là những  nguyên  tắc  vừa  có  tính  định  hướng  lại  vừa  cụ  thể,  những 

nguyên tắc



này  yêu  cầu  các  cơ  quan  tiến  hành  tố  tụng  khi  xem  xét  vấn  đề  xử  lý 

người chưa  thành  niên  phạm  tội  trong  những  trường  hợp  phạm  tội  cụ 

thể  phải  có quan điểm tồn diện, trên tinh thần lấy giáo dục, phòng ngừa 

là chính. Bộ luật hình sự năm 1985 buộc các cơ quan tiến hành tố tụng phải 

xác định được hai vấn đề  có tính ngun tắc đó là khả  năng nhận thức của 

họ  về  tính nguy  hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, ngun nhân và 

điều kiện gây ra tội phạm.

Thể  hiện  một  cách  cụ  thể  nội  dung  các  nguyên  tắc  trên,  Bộ  luật 

hình sự  năm 1985 đã quy định hệ  thống các biện pháp tư  pháp và hình phạt 

có  thể áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội. Điều đáng chú ý 

là Bộ luật hình  sự  năm 1985  đã  quy định  các  biện  pháp tư pháp  lên  trước 

sau  đó  quy định  đến  hệ  thống  hình  phạt  chính  có  thể  được  áp  dụng  đối 

với  người  chưa thành  niên  phạm tội. Điều  này thể  hiện  một  cách  cụ  thể 

ngun  tắc  lấy  giáo dục, phòng ngừa là chính, việc áp dụng hình phạt chỉ 

là biện pháp cuối cùng.

CÁC NGUN TẮC XỬ  LÝ NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN  PHẠM TỘI 

TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƢỚC



Các ngun tắc xử  lý ngƣời chƣa thành niên phạm tội  trong 

pháp luật quốc tế

Kể  từ  khi  Liên  hợp  quốc  ra  đời,  năm  1945,  đặc  biệt  từ  khi  Bộ 

luật quốc  tế  về  quyền  con  người  (bao  gồm  Tun  ngơn  thế  giới  về 

quyền  con người 1948; Cơng ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị 1966; 

Cơng ước quốc  tế  về  các  quyền  kinh  tế,  xã  hội  và  văn  hóa  1966),  quyền 

con  người  đã vượt khỏi phạm vi quốc gia trở  thành Luật Quốc tế. Bên 

cạnh đó, ở tất cả  các quốc gia, từ xưa đến nay, trẻ em là đối tượng được 

quan  tâm,  chăm  sóc  đặc biệt  kể  cả  khi  họ  vi  phạm  pháp  luật,  thì  nhân 

loại  ln  dành  cho  các  em  sự  cảm thơng chia sẻ, giúp các em trở  lại với 

cuộc sống bình thường, giúp đỡ các em khẳng định tư  cách của mình trong 



gia đình và xã hội, trong học tập và lao động,  bởi  vậy,  Liên  hợp  quốc  đã 

ban  hành  nhiều  văn  kiện  về  tư  pháp  người chưa thành niên như:  Công 

ước về quyền trẻ em năm 1989 cùng với hai   Nghị



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trƣớc khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×