Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ NGHIÊN CỨU TỰ NHẬN THỨC BẢN THÂN CỦA HỌC SINH LỚP 4, 5 TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN BỈNH KHIÊM

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ NGHIÊN CỨU TỰ NHẬN THỨC BẢN THÂN CỦA HỌC SINH LỚP 4, 5 TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN BỈNH KHIÊM

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Tham khảo ý kiến của giáo viên hướng dẫn về bảng câu hỏi và chỉnh sửa

lần một.

- Từ ngày 11/05 – 13/05: Khảo sát thử lần hai trên học sinh lớp 4, 5 trường

TH Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thành phố Hồ Chí Minh trong giờ sinh hoạt Kỹ năng

sống chính khóa tại trường, sử dụng bảng câu hỏi sau khi chỉnh sửa lần một.

- Tổ chức buổi sinh hoạt tại trường với các trò chơi nhằm phát triển kỹ

năng tự nhận thức bản thân cho học sinh tham gia nghiên cứu.

- Từ ngày 14/05 – 16/05: Điều chỉnh bảng câu hỏi lần hai dựa trên thông tin

tổng hợp và rút kinh nghiệm sau buổi khảo sát thử lần hai, tham khảo ý kiến của

giáo viên hướng dẫn.

• Giai đoạn 2: Khảo sát trên mẫu nghiên cứu học sinh từ ngày 19/05 –

27/05.

- Từ ngày 19/05 – 25/05: Khảo sát trên học sinh khối lớp 4 cùng với giáo

viên chủ nhiệm và phụ huynh học sinh. Tổ chức buổi sinh hoạt để trẻ tham gia

trò chơi thực hành kỹ năng tự nhận thức bản thân.

- Từ ngày 26/05 – 27/05: Khảo sát trên học sinh khối lớp 5 cùng với giáo

viên chủ nhiệm của các em. Tổ chức buổi sinh hoạt để trẻ tham gia trò chơi thực

hành kỹ năng tự nhận thức bản thân.

• Giai đoạn 3: 28/05 – 30/06: Tổng hợp các bảng câu hỏi, nhập liệu và xử

lý số liệu.

2.1.3. Phương pháp nghiên cứu

2.1.3.1.



Phương pháp điều tra bằng bảng câu hỏi khảo sát



• Mơ tả phương pháp

Các thơng tin về đặc điểm của sự tự nhận thức bản thân của học sinh được

cụ thể hóa thành dạng câu hỏi viết, học sinh có thể trả lời bằng cách đánh dấu

vào ơ có đáp án tương ứng với suy nghĩ (đối với câu hỏi đóng) và viết vào bảng

câu hỏi (đối với câu hỏi mở). Thông qua các câu trả lời của học sinh, người

nghiên cứu tổng hợp, phân tích các dữ kiện và đưa ra kết luận.



• Mơ tả công cụ nghiên cứu

Bảng câu hỏi khảo sát gồm có 15 câu, được chia làm hai phần:

- Phần 1: Thu thập thông tin cá nhân của học sinh như: Họ và tên, năm

sinh, giới tính, học vấn, học lực, số đo chiều cao, số cân nặng, hồn cảnh gia

đình, việc tham gia các hoạt động ngoại khóa.

- Phần 2: Khảo sát về đặc điểm tự nhận thức bản thân của học sinh, trong đó:

+ Từ câu hỏi 1 đến câu hỏi 4: tìm hiểu về đặc điểm và mức độ tự nhận

thức của học sinh về các đặc điểm hình thức bên ngồi của mình.

+ Câu hỏi 5 và câu hỏi 6: tìm hiểu về đặc điểm tự nhận thức của học sinh

về năng lực học tập của mình.

+ Câu hỏi 7 và câu hỏi 8: tìm hiểu về đặc điểm và mức độ tự nhận thức

bản thân của học sinh về các nét tính cách của mình.

+ Từ câu hỏi 9 đến câu hỏi 12: tìm hiểu về đặc điểm tự nhận thức của học

sinh về mối quan hệ với bạn bè và gia đình mình.

+ Câu hỏi 13 và câu hỏi 14: tìm hiểu về đặc điểm tự nhận thức của học

sinh về vai trò của mình trong gia đình.

+ Câu hỏi 15: tìm hiểu về đặc điểm tự nhận thức của học sinh về vai trò

của mình trong lớp học.

• Thang điểm đánh giá

- Phần 1 – thông tin cá nhân: chỉ dùng biện pháp thống kê tần số nhằm mục

đích cung cấp những thơng tin phục vụ cho việc so sánh các chỉ số liên quan.

- Phần 2 – đặc điểm tự nhận thức bản thân của học sinh:

+ Với những câu hỏi định danh, định tính, định lượng: dùng biện pháp

thống kê tần số và tìm mối liên hệ giữa các giá trị nghiên cứu.

+ Cho điểm theo từng câu hỏi: Mỗi câu hỏi có ba mức độ trả lời tương

ứng là cao, trung bình và thấp.



Ví dụ 1:

Em nhận thấy chiều cao của mình như thế nào?



 Cao

 Trung bình

 Thấp

Được quy định lần lượt là:

Cao: 1 điểm

Trung bình: 2 điểm

Thấp: 3 điểm

Ví dụ 2:

Em hài lòng về chiều cao của mình như thế nào?



 Rất hài lòng

 Hài lòng

 Khơng hài lòng

Được quy định là:

Rất hài lòng: 1

Hài lòng: 2

Khơng hài lòng: 3

Từ kết quả khảo sát, chúng tơi tính điểm trung bình của giá trị các mức độ

tương ứng.

2.1.3.2.



Phương pháp quan sát



• Lựa chọn mẫu để tổ chức bài tập thực hành

Vì tính chất của bài tập là trò chơi tập thể có định hướng nên cần sự tập

trung đến từng học sinh. Trong điều kiện thời gian và khả năng cho phép, chúng

tôi chỉ thực hiện ở 20/50 học sinh lớp 4 và 20/50 học sinh lớp 5 của trường Tiểu

học Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thành phố Hồ Chí Minh.

• Tổ chức trò chơi



Bên cạnh bảng câu hỏi khảo sát, chúng tơi còn tổ chức bài tập thực hành

dưới dạng trò chơi tập thể để quan sát biểu hiện sự tự nhận thức bản thân của

học sinh.

Bài tập thực hành được xây dựng dựa vào nội dung hai phần chính trong

bảng câu hỏi. Trong đó, tập trung vào ba đặc điểm:

- Hình thức bên ngồi: số đo chiều cao, cân nặng; khuôn mặt; dáng người;

màu da; cách ăn mặc

- Nội dung bên trong: tính tình; mơn học u thích; mơn học đạt điểm cao

nhất; ưu điểm; nhược điểm

- Mối quan hệ xã hội: số bạn thân

Phương pháp thống kê và phân tích kết quả bằng phần



2.1.3.3.

mềm SPSS



Tổng hợp kết quả nghiên cứu và phân tích bằng phương pháp thống kê

thơng qua phần mềm SPSS.

2.1.4. Mẫu khách thể nghiên cứu

Bảng 1: Thống kê chung về khách thể nghiên cứu phân bố theo giới tính và

cấp lớp

Lớp



Tổng cộng



4



5



SL



%



SL



%



SL



%



Giới



Nam



25



50.0



25



50.0



50



50.0



tính



Nữ



25



50.0



25



50.0



50



50.0



50



100.0



50



100.0



100



100.0



Tổng cộng



Để có kết quả nghiên cứu khách quan và thuận tiện trong quá trình so

sánh kết quả, chúng tơi chọn mẫu nghiên cứu có số lượng khách thể đồng đều về

lứa tuổi và giới tính. Mẫu nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên ở học sinh khối lớp

4 và khối lớp 5 theo tiêu chí đồng đều về giới tính.



Để đảm bảo tính khách quan, chúng tôi chọn học sinh từ lớp 4A1 đến

4A9, mỗi lớp 6 học sinh và 5A1 đến 5A8, mỗi lớp 7 học sinh. Sau khi thu thập

và tổng hợp các bảng câu hỏi khảo sát, chúng tôi loại những bảng câu hỏi không

hợp lệ (trả lời không đúng yêu cầu, trả lời thiếu câu hỏi, …) và chọn ra 100 bảng

câu hỏi hợp lệ như trên.

Qua q trình khảo sát thơng tin chung của khách thể nghiên cứu, cụ thể

là thông tin về xếp loại về kết quả học tập thì chúng tôi thu được kết quả như sau:

Bảng 2: Học lực của học sinh phân bố theo cấp lớp

Lớp



Tổng cộng



4



5



SL



TL %



SL



TL %



SL



TL %



50



100.0



92



92.0



8



8.0



Kết quả



Giỏi



42



84.0



học tập



Tiên tiến



8



16.0



Kết quả khảo sát cho thấy kết quả học tập của học sinh được xếp loại cao.

Khi được hỏi: “Kết quả học tập học kỳ I của em xếp loại gì?”, có 92% học sinh

trả lời xếp loại giỏi, trong đó có 50 học sinh lớp 5, chiếm tỷ lệ 100% trong số

học sinh lớp 5 tham gia khảo sát, có 42 học sinh lớp 4, chiếm tỷ lệ 84% trong số

học sinh lớp 4 tham gia khảo sát. Số lượng học sinh có kết quả học tập xếp loại

tiên tiến chiếm tỷ lệ rất thấp là 8%, trong đó chỉ có học sinh lớp 4, và khơng có

học sinh nào xếp loại trung bình, yếu và kém.

Kết quả học tập của học sinh lớp 5 cao hơn của học sinh lớp 4 chứng tỏ

các em đã có sự nỗ lực lớn trong học tập để chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp và

vào cấp II. Trong những năm gần đây, bên cạnh trường tiểu học Nguyễn Bỉnh

Khiêm, học sinh ở các trường tiểu học khác cũng có kết quả học tập cao hơn.

Kết quả này trước hết là học sinh có điều kiện học tập tốt hơn, bên cạnh học

chính khóa, các em còn tham gia lớp học thêm và ngoại khóa khác. Ngồi ra, cơ



hội tiếp xúc với nhiều mạng thông tin như báo chí, truyền hình, internet, giao

lưu với bạn bè và những người khác đã giúp các em hiểu biết nhiều hơn. Đây

cũng là yếu tố giúp trẻ có thể nhận thức tốt hơn về bản thân mình.

2.2. Đánh giá nghiên cứu về sự tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5

trường Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm, Tp. HCM

2.2.1. Đặc điểm tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5 tại trường Tiểu

học Nguyễn Bỉnh Khiêm

Như đã trình bày ở trên, sự tự nhận thức bản thân của trẻ được thể hiện ở

ba nội dung cơ bản là: hình thức bên ngồi, nội dung bên trong, các vị thế và

quan hệ xã hội. Do đó, để nghiên cứu về sự tự nhận thức bản thân của học sinh,

chúng tơi tìm hiểu về sự tự nhận thức của các em về các đặc điểm hình thức bên

ngồi, đặc điểm về tính cách, năng lực cùng vị trí của mình trong mối quan hệ

với gia đình, trường lớp và bạn bè.

2.2.1.1. Về hình thức bên ngồi

Để tìm hiểu về đặc điểm tự nhận thức bản thân của học sinh về hình thức

bên ngồi, chúng tơi tiến hành nghiên cứu trên 100 học sinh lớp 4, lớp 5 và thu

được kết quả như sau:

Bảng 3: Ba đặc điểm hình thức bên ngoài được học sinh quan tâm nhất

TL % theo giới tính



STT



Nữ



Nam



Đặc điểm về



Tổng cộng



hình thức



SL



TL %



SL



TL %



SL



TL %



1



Chiều cao



46



59



32



41



78



100



2



Cân nặng



34



56.7



26



43.3



60



100



3



Khuôn mặt



21



43.7



27



56.3



48



100



4



Dáng người



26



41.3



37



58.7



63



100



5



Màu da



3



21.4



11



78.6



14



100



6



Cách ăn mặc



20



54.1



17



45.9



37



100



Kết quả khảo sát trên cho thấy ba đặc điểm về hình thức bên ngoài được

học sinh quan tâm nhất là chiều cao 78/100 học sinh, dáng người 63/100 và cân

nặng 60/100 học sinh. Đây cũng là ba yếu tố mà các em thường được người

khác đánh giá về mình: cao – thấp, to – nhỏ, mập - ốm. Nếu một em học sinh có

chiều cao tốt thì trơng to hơn các bạn khác trong nhóm.

Bên cạnh đó, trong khi các em học sinh nam quan tâm nhiều hơn đến đặc

điểm về chiều cao và cân nặng thì còn các học sinh nữ quan tâm nhiều hơn đến

dáng người. Học sinh tiểu học phát triển về tư duy trực quan sinh động nên các

em rất coi trọng hình thức bên ngồi. Các em nam tham gia các hoạt động thể

thao, trò chơi vận động nên cho rằng cao và to là mạnh khỏe hơn, nhìn lớn hơn.

Các em nữ đã bắt đầu để ý đến vẻ đẹp của mình nên cho rằng dáng người đẹp sẽ

mặc quần áo đẹp.

Do đó, chiều cao là yếu tố được các em quan tâm nhiều nhất. Điều này thể

hiện rõ ở kết quả sau đây:

Bảng 4: Hình thức được học sinh quan tâm nhất

Giới tính



STT

Đặc điểm về



Tổng cộng

Nữ



Nam



hình thức



SL



TL %



SL



TL %



SL



TL %



1



Chiều cao



27



54.0



16



32.0



43



43.0



2



Cân nặng



6



12.0



10



20.0



16



16.0



3



Khuôn mặt



1



2.0



14



28.0



15



15.0



4



Dáng người



5



10.0



10



20.0



15



15.0



5



Cách ăn mặc



10



20.0



10



10.0



6



Màu da



1



2.0



1



1.0



Tổng cộng



50



100.0



100



100.0



50



100.0



Trong các đặc điểm về hình thức bên ngồi, có 43% học sinh quan tâm

nhiều nhất đến chiều cao của mình, chiếm tỷ lệ cao nhất so với các đặc điểm còn



lại. Trong đó, có 38% học sinh cho rằng: “Nếu cao có thể lấy đồ ở chỗ cao và

chơi các môn thể thao như cầu lông”, và 5% học sinh cho rằng: “Nếu thấp so

với các bạn khác thì nhìn rất xấu”. Kết quả trên cho thấy học sinh nhận thức

được những ưu điểm khi có được chiều cao tốt như nhìn cao lớn hơn các bạn

khác, dễ chơi các mơn thể thao như bóng đá, cầu lơng, bóng rổ, …

Bên cạnh yếu tố chiều cao, các em học sinh nữ quan tâm đến cân nặng và

dáng người nhiều hơn học sinh nam (20%). Kết quả này rất phù hợp với nhận

định của TS. Nguyễn Thị Bích Hạnh và TS. Trần Thị Thu Mai trong nghiên cứu

về “Tâm lý học tiểu học và tâm lý học sư phạm tiểu học” khi cho rằng học sinh

tiểu học có nguyện vọng giữ gìn về ngồi sạch, đẹp, muốn người mình sạch sẽ,

ăn mặc gọn gàng. Tuy nhiên, điều này thể hiện sự khác nhau trong quan niệm về

cái đẹp giữa học sinh nam và học sinh nữ. Nếu như đối với các học sinh nam vẻ

đẹp thể hiện ở việc ăn mặc như: quần áo sạch đẹp, gọn gàng vì “ăn mặc sạch sẽ,

gọn gàng sẽ được người khác đánh giá cao về mình” thì các bạn nữ cho rằng thể

hiện ở dáng người vì “dáng người là vẻ bề ngồi giúp mình có nét đẹp và xinh

xắn” hay “dáng người đẹp sẽ tự tin ra đường hơn”.

Bảng 2 và bảng 3 có kết quả tương đương nhau. Dù được lựa chọn ba hay

một yếu tố thì học sinh quan tâm nhiều nhất đến yếu tố “chiều cao”, sau đó là

“cân nặng” và “dáng người”, ở bảng 3 có thêm yếu tố “cách ăn mặc”. Như vậy,

kết quả trên có độ tin cậy cao.

Kết quả nghiên cứu trên cho thấy học sinh lớp 4, 5 nói riêng và học sinh

tiểu học nói chung rất quan tâm và tin vào sự đánh giá của người khác, cụ thể là

thầy cô, người lớn trong gia đình và bạn bè về mình. Từ đó, các em biết được

những đặc điểm nào thường được người khác khen tốt thì các em tin là tốt, và

ngược lại. Mặt khác, các em cũng thường so sánh đặc điểm của bản thân với

các bạn đồng trang lứa, các em sẽ tỏ ra mất tự tin trong tập thể nếu bản thân có

nhiều điểm thua kém hơn bạn như: quá gầy, quá mập, thấp, nhỏ, ăn mặc xuề xòa, …

Để làm rõ vấn đề trên, chúng tơi đã tìm hiểu về sự tự nhận thức và mức độ

hài lòng của các em về sáu đặc điểm hình thức của mình.



Bảng 5: Mức độ tự nhận thức và mức độ hài lòng về hình thức bên ngồi của

học sinh

STT



Hình thức



Mức độ tự nhận thức



Mức độ hài lòng



ĐTB



ĐLC



ĐTB



ĐLC



1



Chiều cao



1.66



0.54



1.80



0.71



2



Cân nặng



1.86



0.38



2.21



0.52



3



Khn mặt



1.79



0.41



1.75



0.46



4



Dáng người



1.90



0.41



1.93



0.41



5



Màu da



1.86



0.47



1.90



0.54



6



Cách ăn mặc



1.64



0.48



1.62



0.55



Điểm trung bình cho mức độ tự nhận thức của học sinh về các đặc điểm

hình thức bên ngoài từ 1.64 đến 1.90, tương ứng với mức độ trên trung bình.

Đây là những đặc điểm các em có thể nhìn thấy, so sánh được, thậm chí cân, đo

được nên có thể tự tin và mạnh dạn đánh giá. Điều này phù hợp với kết quả quan

sát đã thực hiện trong quá trình nghiên cứu. Hầu hết học sinh cho mình ở mức

trung bình, và số học sinh còn lại ở mức cao hơn, đẹp hơn. Điều này phù hợp

với đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học rằng các em có xu hướng đánh giá

mình cao hơn so với thực tế.

Bảng 6: Số đo chiều cao và cân nặng của trẻ em Việt Nam từ 10 – 11 tuổi đã

được công bố theo “Hằng số sinh học của người Việt Nam” năm 2003.

Cân nặng (kg)

Nam



Nữ



Chiều cao (m)

Nam



Nữ



Lớp 4 (10 tuổi)



23.22 ± 2.70



22.62 ± 2.72 126.02 ± 5.17 126.07 ± 5.35



Lớp 5 (11 tuổi)



25.14 ± 3.04



25.42 ± 3.55 130.41 ± 5.50 132.17 ± 6.12



Có 88.0% học sinh lớp 4, 5 có chiều cao từ 1.25m đến 1.50m, trong đó có

56.8% là học sinh nam và 43.2% là học sinh nữ. Có 12.0% học sinh cao từ



1.50m trở lên là học sinh lớp 5 và khơng có học sinh nào cao dưới 1.25m. Khi so

sánh với số liệu trên, chiều cao của các em ở mức trung bình trở lên, các em lớp

5 thì cao hơn. Trong 28 phụ huynh của học sinh tham gia khảo sát, có 100.0%

phụ huynh cho rằng chiều cao của con mình nằm ở mức từ 1.25m đến 1.50m.

Như vậy, đánh giá của học sinh về chiều cao của mình tương đối phù hợp với

nhận thức về chiều cao hiện tại.

Có 53.0% học sinh có cân nặng từ 21.0kg đến 40.0kg, trong đó có 58.5%

học sinh lớp 4 và 41.5% học sinh lớp 5. Có 60.7% phụ huynh nhận định tương

tự. Như vậy, 47.0% học sinh còn lại có cân nặng cao từ 40.0kg trở lên. So sánh

với số liệu trên thì cân nặng của học sinh ở mức độ từ trung bình trở lên.

Bảng 7: Kết quả về nhóm cân nặng giữa nhận thức của phụ huynh và học

sinh

STT



Nhóm cân nặng



TL %



(kg)



Phụ huynh



Học sinh



1



22 – 40.5



60.7



53.0



2



41 – 43



14.3



14.0



3



Lớn hơn 43



25.0



33.0



100.0



100.0



Tổng cộng



Khi so sánh giữa chiều cao và cân nặng do học sinh tự nhận thức về bản

thân mình với đánh giá của phụ huynh thì tương đối phù hợp (bảng 6). Có

53.0% học sinh cho rằng mình ở mức cân nặng từ 22 kg đến 40.5 kg, và có 60.7

phụ huynh cùng có ý kiến trên. Tuy nhiên, khi so sánh kết quả cân nặng trên với

số liệu chuẩn năm 2003 về hằng số sinh học của Người Việt Nam thì ở mức

trung bình trở lên. Điều đó cho thấy học sinh lớp 4, 5 có số đo về chiều cao và



cân nặng lớn hơn số đo chuẩn. Để giải thích cho điều này, chúng tơi đã tìm hiểu

thêm về biểu đồ phát triển chiều cao và cân nặng trẻ em của tổ chức WHO năm

2007 thì có kết quả như sau:

Bảng 8: Số đo cân nặng và chiều cao chuẩn theo thống kê của tổ chức WHO

năm 2007

Cân nặng (kg)



Chiều cao (m)



Nam



Nữ



Nam



Nữ



Lớp 4 (10 tuổi)



23 – 40.5



21 – 40



1.25 – 1.47



1.23 – 1.45



Lớp 5 (11 tuổi)



25 – 44



22 – 43



1.30 – 1.55



1.27 – 1.50



Số liệu trên cho thấy chỉ số chiều cao và cân nặng của học sinh lớp 4, 5

theo thống kê năm 2007 cao hơn so với năm 2003. Điều này chỉ mang tính chất

tương đối vì đây là số liệu thống kê quốc tế, không chỉ dành riêng cho người

Việt Nam. Nhưng cũng thể hiện sự thay đổi và phát triển sinh học của trẻ em

trong những năm gần đây theo chiều hướng tăng lên.

Từ kết quả phân tích trên cho thấy với các đặc điểm cụ thể, có thể cân, đo

được thì học sinh lớp 4, 5 trường Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm tự nhận thức

tương đối hợp lý so với thực tế và có xu hướng cao hơn.

Để xác định sự khác biệt về mức độ tự nhận thức các đặc điểm hình thức

bên ngồi của bản thân với học lực, chúng tôi đã tiến hành kiểm định ChiSquare với các mức ý nghĩa tương ứng là:

- Mức độ nhận thức về chiều cao và học lực: Sig = 0.5

- Mức độ nhận thức về cân nặng và học lực: Sig = 0.014



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ NGHIÊN CỨU TỰ NHẬN THỨC BẢN THÂN CỦA HỌC SINH LỚP 4, 5 TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN BỈNH KHIÊM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×