Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
d. Kết quả khảo nghiệm:

d. Kết quả khảo nghiệm:

Tải bản đầy đủ - 0trang

141

Các ký hiệu trong bảng:

∑: Tổng điểm;   X : Điểm trung bình; TB: Xếp thức bậc; r: hệ  số  tương  

quan.

Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm các giải pháp đề xuất

Mức độ cần thiết



TB

X



Giải pháp đề xuất



TT

1

2

3

4



Xây dựng và phổ  biến   VHCL 



Mức độ khả thi



TB

X



300



2.5



2



220 1.833



1



320



2.667



1



200 1.666



2



265



2.209



4



185 1.541



3



CLĐT   (thực   hiện   đánh   giá  272



2.267



3



170 1.416



4



ở HVPG VN

Cụ  thể  hóa các tiêu chuẩn trong 

khung CL ở  HVPG VN

Đảm bảo căn bản các điều kiện 

cho đảm bảo CLĐT ở HVPG VN

Tổ  chức thực hiện kiểm  định 

trong) ở HVPG VN





1157



775



Nếu gọi “Mức độ  cần thiết” là X, “Mức độ  khả  thi” là Y ta có bảng  

sau:

Bảng 3.2: Bảng quy đổi kết quả khảo nghiệm các giải pháp đề xuất để 

tính hệ số tương quan Spearman

TT

1

2



Mức độ cần thiết (X)

X

Y

X2



Mức độ khả thi (Y)

Y2

XxY



300



220



90000



48400



66000



trong khung CL  ở    HVPG  320



200



102400



40000



64000



185



70225



34225



49025



170



73984



28900



46240



Giải pháp đề xuất

Xây   dựng   và   phổ   biến 

VHCL ở HVPG VN

Cụ  thể  hóa các tiêu chuẩn 

VN

Đảm   bảo   căn   bản   các 



3



điều   kiện   cho   đảm   bảo  265

CLĐT ở HVPG VN

Tổ   chức   thực   hiện   kiểm 



4



định CLĐT (thực hiện đánh  272

giá trong) ở HVPG VN



142





1157



775



336609



151525



225265



143

Hệ số tương quan Spearman (r.sp) được tính  theo cơng thức 



Kết quả  r.sp = 0,70 cho thấy tương quan về nhận thức giữa “mức độ 

cần thiết” và “mức độ  khả  thi” đối với bốn giải pháp của các chun gia là 

khá chặt chẽ, mặc dù mức độ chặt chẽ chưa phải là lý tưởng nhưng điều này 

cho thấy đây là những giải pháp có độ  tin cậy và có thể  áp dụng để  QLĐT 

theo tiếp cận đảm bảo CL tại Học viện trong thời gian tới. Giải thích hệ  số 

tương quan chưa đạt lý tưởng giữa “mức độ cần thiết” và “mức độ  khả  thi”  

của 4 giải pháp được khảo nghiệm chúng tơi có thể đưa ra lý do là: Việc tìm 

hiểu các nội dung, cách thức QLĐT theo tiếp cận ĐBCL tại HVPG VN vẫn 

đang là bước đầu, còn nhiều khó khăn do nhiều yếu tố  khách quan và chủ 

quan, đặc biệt là mơ hình QLĐT theo tiếp cận ĐBCL chưa chính thức phổ 

biến và áp dụng đồng bộ  tại Học viện, mà mới chỉ  manh nha đề  cập hoặc 

mang bóng dáng tương tự mà thơi cho nên việc nhận thức đủ sâu, và dự đốn 

được tính cần thiết và khả  thi của các giải pháp đối với các khách thể  liên 

quan được khảo sát thực nghiệm là một thách thức. Khắc phục tình trạng này 

để nâng cao tầm nhận thức của họ là vấn đề trong tương lai và cần có các tác 

động phù hợp, các trải nghiệm cụ  thể  để  họ  hiểu, có niềm tin, và tham gia 

thực hiện QLĐT có hiệu quả mơ hình QLĐT theo tiếp cận ĐBCL tại Học viện 

vẫn đang là điều hướng đi của đề tài mong đợi, nhưng là sau đó.



144



Biểu đồ 3.1: Mối quan hệ giữa “mức độ cần thiết” và “mức độ khả thi”

của 4 giải pháp

Ghi chú:

A: Xây dựng và phổ biến VHCL ở HVPG VN;

B: Cụ thể hóa các tiêu chuẩn trong khung CL ở  HVPG VN;

C: Đảm bảo căn bản các điều kiện cho đảm bảo CLĐT ở HVPG VN;

D: Tổ chức thực hiện kiểm định CLĐT (thực hiện đánh giá trong) ở HVPG 

VN.

Nhìn bảng kết quả và biểu đồ cho thấy nhận thức về “mức độ cần thiết”  

và “mức độ khả thi “có sự khác nhau. Mặc dù các chuyên gia đều đánh giá cao  

về  “mức độ  cần thiết” phải áp dụng bốn giải pháp đã đề  xuất cho việc thực 

hiện QLĐT tại Học viện theo tiếp cận ĐBCL ” (Bảng 3.1): “Cụ thể hóa các tiêu 

chuẩn trong khung CL ở  HVPG VN” đứng thứ nhất, đứng thứ hai là “Xây dựng  

và phổ  biến VHCL  ở  HVPG VN”, đứng thứ  ba “Đảm bảo căn bản các điều 

kiện cho đảm bảo CLĐT  ở  HVPG VN”. Cuối cùng, đứng thứ  tư  là “Tổ  chức 

thực hiện kiểm định CLĐT (thực hiện đánh giá trong)  ở  HVPG VN” để  tập  

dượt, kiểm chứng và rút kinh nghiệm. Điều này là khá phù hợp với việc đạt CL 

trong ĐT vì khung CL là định hướng, căn cứ cụ thể các tiêu chí CL cần phải đạt 

được. Khi đó thì việc xây dựng và hình thành văn hóa CL sẽ thuận lợi vì chủ thể 

liên quan cũng đã hiểu CL trong ĐT cần đạt những gì thơng qua khung CL đã 

thiết lập trước đó. Đến lượt đánh giá trong cần phải thực hiện sau khi đã cơng 

cụ khung chất lượng, CL đã được hình thành một cách tự nhiên như những giá 



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

d. Kết quả khảo nghiệm:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×