Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN MỞ ĐẦU I. Lý do chọn đề tài

PHẦN MỞ ĐẦU I. Lý do chọn đề tài

Tải bản đầy đủ - 0trang

Tìm ra một phương pháp học tập hiệu quả, phù hợp và phát huy khả năng sang

tạo của mỗi cá nhân là vần đề hết sức quan trọng và cấp thiết. Xuất phát từ những

vấn đề trên, nhóm tiến hành tìm hiểu về những khó khăn gặp phải của sinh viên

Diễn viên kịch Điện ảnh trường ĐHSPNTTW trong quá trình tự học theo học chế tín

chỉ. Đó cũng chính là lý do nhóm chúng tơi chọn đề tài: “Thực trạng về vấn đề tự

học của sinh viên chuyên ngành Diễn viên kịch Điện ảnh trường ĐHSPNTTW”



2. Mục đích

nghiên cứu:



Nghiên cứu thực trạng kĩ năng tự học , và

đề ra các biện pháp hình thành kĩ năng tự

Giúp sinh viên xây dựng được cho mình kỹ năng



học sinh viên ngành Diễn viên kịch Điện ảnh



học tập có hiệu quả.



trường ĐHSPNTTW.



Lập được kế hoạch học tập, phương

pháp học “SQ3R”)



3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu:

+ Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu về vấn đề kĩ năng tự học của sinh viên.

+ Khách thể: Khách thể của đề tài là sinh viên Diễn viên kịch Điện ảnh trường ĐHSPNTTW



4. Giả thuyết nghiên cứu:



+ Nếu trong quá trình dạy học ở trường, giáo viên tổ chức cho sinh viên

nắm vững yêu cầu và quy trình hình thành các kĩ năng tự học, cải tiến việc

+ Thực trạng kĩ năng tự học của sinh viên Diễn viên kịch



tổ chức quá trình dạy học bộ môn theo hướng dạy - tự học, bản thân sinh



Điện ảnh trường ĐHSPNTTW còn ở mức độ thấp, sinh



viên có ý thức tích cực trong tự học thì sinh viên sẽ nhanh chóng hình



viên chưa nắm được u cầu và quy trình hình thành các



thành được các kĩ năng tự học và kết quả học tập của sinh viên sẽ được



kĩ năng tự học



nâng cao.



5. Phương pháp nghiên cứu

:+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu

+ Phương pháp quan sát

+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

+ Phương pháp phân tích tổng hợp

- Trong các phương pháp trên, phương pháp nghiên cứu tài liệu là chủ đạo,

còn các phương pháp còn lại là phương pháp bổ trợ cho nghiên cứu tài liệu



PHẦN NỘI DUNG

Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn



I.



Cơ sở lí luận:



1. Khái niệm, tầm quan trọng, ý nghĩa của việc tự học:

1.1 Khái niệm:



và có khi cả cơ bắp (khi sử dụng công cụ) cùng các

phẩm chất của chính bản thân người học (tính

trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, kiên trì,

nhẫn nại, lòng say mê khoa học)



cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế



Tự học là động não, suy nghĩ, sử dụng



giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực nào đó,



năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân



biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”



tích…)



1.2 Tầm quan trọng của việc tự học:

Tự học có vai trò vơ cùng quan trọng trong quá trình học đại học của sinh viên. Tự học nhằm phát huy tính tự giác

học và nghiên cứu. Việc tự học đối với sinh viên có vai trò hết sức quan trọng vì qua đó góp phần giúp cho sinh viên

rèn luyện khả năng tư duy và sáng tạo của cá nhân. Tuy nhiên để nhằm bổ sung thêm kiến thức sinh viên thường

tạo ra những nhóm học để các bạn dễ dàng trao đổi kiến thức và giúp đỡ nhau trong học tập. Có lớp cho rằng việc

tự học có nghĩa là học theo nhóm. Sinh viên cho rằng tự học theo nhóm mang lại hiệu quả cao nhưng cũng có ý

kiến cho rằng vào học chỉ lo trò chuyện, cười giỡn khơng thể tiếp thu được nhiều nên hiệu quả kém.



1.3 Ý nghĩa:

Tự học có ý nghĩa to lớn đối với bản thân sinh viên để hoàn thành nhiệm vụ học tập của họ đối với chất

lượng, hiệu quả của quá trình dạy học - đào tạo trong nhà trường. Tự học là sự thể hiện đầy đủ nhất vai trò

chủ thể trong q trình nhận thức của sinh viên. Trong q trình đó, người học hồn tồn chủ động và độc

lập, tự lực tìm tòi, khám phá để lĩnh hội tri thức dưới sự chỉ đạo, điều khiển của giáo viên.Để phát huy tính

tích cực chủ động sáng tạo của mình, sinh viên cần tự rèn luyện phương pháp tự học, giúp nâng cao hiệu

quả học tập.



II. Cơ Sở Thực Tiễn



1.



Nhận thức của sinh viên ngành DVK-ĐA về vấn đề tự học:



Nhiều sinh viên ngành DVK-ĐA cảm thấy thời gian học tập sao quá nhàn hạ để họ có thể cho phép mình

được vui chơi thoải mái. Đa số sinh viên chưa biết và cũng chưa có ý thức chủ động tìm kiếm kiến thức

mới. Giảng viên dạy tới đâu, sinh viên học đến đó, giảng viên dặn điều gì thì sinh viên học và làm điều ấy.

Một số sinh viên học theo lối thực dụng: những phần nào giảng viên cho cho thi, liên quan đến điểm số thì

mới đầu tư học tập.



Hầu hết sinh viên ngành DVK ĐA đêu hiểu biết về phương pháp tự học nhưng dù vậy họ vẫn có thói quen ỷ lại, lười

biếng.

Đối với các mơn khơng chun thì sinh viên ngành DVK ĐA thường chỉ về làm bài theo u cầu của các thầy cơ, chỉ

học những gì các thầy cô dậy, cứ như vậy cho đủ tiêu chí qua mơn.

Ví dụ bạn Đào Ngọc Cường lớp k3 DVK ĐA khi học môn “ Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học” thì bạn chỉ đến lớp

ngồi nghe cơ giáo giảng bài sau đó về nhà làm đúng những gì cơ nói. Khơng bao giờ tự giác hỏi bài cơ hay vấn đề

liên quan đến môn học không nằm trong mục cơ giảng.

Điều đó khiến cho sinh viên bị hao hụt kiến thức vì những gì nhà trường dạy chỉ là kiến thức cơ bản còn muốn ra

ngồi sống thì phải tự học để bổ sung thêm.



Đối với môn chuyên ngành như Kỹ Thuật Biểu Diễn

Các bạn đã có ý thức thường xuyên tìm hiểu bài, vở diễn và giả bài đầy đủ.

Trên lớp các bạn cũng có tinh thần lắng nghe thầy cô chỉ đạo và vui vẻ học tập.

Nhưng bên cạnh đó, hầu hết các bạn khơng có phương pháp tự học đúng đắn, về nhà các bạn thường không

biết phải tự học như thế nào nếu thiếu sự chỉ dẫn của Giảng viên.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN MỞ ĐẦU I. Lý do chọn đề tài

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×