Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
i. Khả năng giao tiếp, ứng xử khéo léo

i. Khả năng giao tiếp, ứng xử khéo léo

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chương 2: Nghiên cứu về nghề kế toán và thực trạng cơ hội việc làm kế toán ở việt nam hiện nay



Nghề kế tồn đã có từ rất lâu, thế nhưng độ hot của nó thì chưa bao

giờ là giảm. Với sự ra đời và mọc lên như nấm của nhiều doanh nghiệp tư, thì

nhu cầu nghề nghiệp đối với ngành này là rất nhiều đặc biệt là ở các thành phố

lớn, nơi tập trung của hàng triệu công ty lớn bé trên khắp cả nước.

Khi bạn càng đi sâu tìm hiểu thêm về nghề kế tốn hoặc làm việc với

trong các tập đồn kiểm toản lớn như Big4 thì rất có thể bạn sẽ có cơ hội được

tiếp xúc, làm quen và thậm chí là trực tiếp làm việc với một mạng lưới các

chuyên gia kế toán tài năng và lão làng trong ngành này. Ngoài ra, bạn cũng có

thể khám phá ra rằng nghề kế tốn có thể giúp bạn có được một cơng việc ổn

định, lương cao, môi trường làm việc chuyên nghiệp, đào tạo bài bản và đồng

nghiệp rất thân thiện.

2.2.2. Tổng quan tình hình việc làm nghề kế toán tại Việt Nam

Cùng với sự gia tăng của các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp

nhỏ và vừa, cơ hội việc làm cho những cử nhân kế toán cũng mở rộng hơn. Tuy

nhiên, nhiều sinh viên tốt nghiệp đại học chuyên ngành kế toán của trường đại

học đại học sau khi ra trường còn chưa tìm được việc hoặc làm việc không đúng

chuyên ngành. Thực trạng về tình trạng việc làm của sinh viên khoa Kế toán,

nguyên nhân và những giải pháp nhằm giúp sinh viên sớm tìm được việc làm

và nhà trường có định hướng trong đào tạo để đáp ứng nhu cầu xã hội.

Việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội,

phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất. Người lao động được coi

là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã

hội nhờ có việc làm mà người lao động mới thực hiện được quá trình lao động

tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân, như vậy, một hoạt động được coi là

việc làm khi người lao động nhận được tiền cơng, đó là những cơng việc mà

người lao động thu lợi nhuận cho bản thân và gia đình, hoạt động đó phải được

pháp luật thừa nhận.

Việc làm có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, không thể thiếu

đối với từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cốt lõi và xuyên suốt trong

Nhóm nghiên cứu D15KT02



64



Chương 2: Nghiên cứu về nghề kế toán và thực trạng cơ hội việc làm kế toán ở việt nam hiện nay



các hoạt động kinh tế, có mối quan hệ mật thiết với kinh tế và xã hội, nó chi

phối toàn bộ mọi hoạt động của cá nhân và xã hội.

2.2.2.1. Thực trạng đào tạo ngành kế toán tại Việt Nam

Thực trạng về chương trình đào tạo kế tốn – kiểm toán hiện nay, theo

điều 39 luật giáo dục quy định về mục tiêu, nội dung và yêu cầu đào tạo ở

trường đại học là: “Đào tạo trình độ đại học giúp sinh viên nắm vững kiến thức

chuyên môn và có kỹ năng thực hành thành thạo, có khả năng làm việc độc lập,

sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo…” Tuy

nhiên, khung chương trình cho chun ngành kế tốn mà Bộ Giáo dục đào tạo

ban hành chủ yếu nhấn mạnh đến phần giáo dục đại cương, các yêu cầu về kiến

thức chuyên ngành còn rất thấp so với những yêu cầu của IFAC, đặc điểm này

chưa thể hiện được tinh thần hội nhập trong chương trình đào tạo và phần nào sẽ

ảnh hưởng trực tiếp khi người học muốn tiếp tục theo học các chương trình đào

tạo hay thi lấy bằng CPA ở các quốc gia khác theo chuẩn quốc tế sau khi tốt

nghiệp có thể nói,hiện tại đặt hồn tồn vào các trường đại học , trong khi chưa

có một đánh giá về khả năng đáp ứng của chương trình đào tạo của các trường

trong việc thoả mãn các kiến thức, kỹ năng cho người hành nghề kế toán – kiểm

toán đặc biệt là chương trình đào tạo về tài chính, ngân hàng hoặc kế tốn ngành

( ví dụ kế tốn du lịch …) Theo số liệu thống kê hiện tại Việt Nam hiện có

khoảng 50 trường đại học có đào tạo chính quy về kế tốn. Thời lượng đại học là

3,5 -4 năm các chương trình đào tạo kế tốn chính quy của Việt Nam còn dạy

q nhiều mơn khác. Thời lượng học kế toán chủ yếu là lý thuyết, ít có cơ hội

thực hành nghề nghiệp

Về giáo trình: Bên cạnh những giáo trình chỉ được biên soạn thuần tuý

bởi chế độ kế tốn nhưng cũng có khơng ít giáo trình hiện nay đã được biên soạn

dựa trên các chuẩn mực kế tốn cụ thể giáo trình của khoa kế toán – kiểm toán

trường Đại học kinh tế Thành Phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên hầu hết các giáo

trình này đều viết trên tinh thần của các thông tư hướng dẫn chuẩn mực. Trên

thực tế , đây chỉ là phần hướng dẫn thực hành nên hạn chế phần nào đến khả

Nhóm nghiên cứu D15KT02



65



Chương 2: Nghiên cứu về nghề kế toán và thực trạng cơ hội việc làm kế toán ở việt nam hiện nay



năng suy luận và phát triển kiến thức của sinh viên, cũng cần nhận thức một vấn

đề là hệ thống chuẩn mực quốc tế vế trình bày báo cáo tài chính cũng ln thay

đổi. Do vậy, hiểu đúng bản chất các chuẩn mực và vận dụng vào điều kiện Việt

nam là rất cần thiết.

Về đội ngũ giảng viên: Theo Thứ trưởng Bộ giáo dục Bùi Văn Ga là số

giảng viên đại học hiện nay chỉ mới đáp ứng được 70% nhu cầu thực tế. Có thể

nói nhận định này có thể dựa trên các cơ sở sau:

- Sự phát triển q nhanh chóng của quy mơ đào tạo trong hơn 10 từ năm 1998

đến năm 2011 có trên 300 trường đại học , cao đẳng được thành lập mới hoặc

nâng cấp , trong đó 2/3 có đào tạo ngành kế tốn áp lực này còn tăng lên từ việc

phát triển đồng thời với các hệ đào tạo khơng chính quy như: Vừa học vừa làm,

liên thơng từ Cao đẳng lên đại học , văn bằng 2, đào tạo từ xa…

- Sự phát triển của nghề nghiệp thu hút nhân lực chất lượng cao, trong khi thu

nhập của giảng viên các trường đại học không cao nên khó phát triển đội ngũ

giảng viên từ những người có kinh nghiệm thực tế.

- Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, công tác giáo đào tạo , nghiên cứu

đòi hỏi phải được chun mơn hố, đòi hỏi người thầy phải có trình độ ngoại

ngữ. Hiện nay, đây cũng là một điểm yếu , điều này sẽ gây khó khăn cho các

trường đại học, các viện nghiên cứu khi mở rộng hoạt động và phát triển trong

điều kiện hội nhập như vậy vấn đề giảng viên kế tốn có chất lượng cao là một

thách thức lớn cho các trường đại học cụ thể:

Đội ngũ các giảng viên có học hàm, học vị thì khơng có ngoại ngữ

hoặc có thì khơng nhiều hoặc có ngoại ngữ nhưng khơng phải tiếng Anh do

trước đó họ được đào tạo ở các quốc gia không sử dụng tiếng anh , đội ngũ

giảng viên trẻ có ngoại ngữ nhưng chưa có nhiều kinh nghiệm thực tiễn.

Khó khăn chung về đội ngũ làm cơng tác đào tạo, giảng dạy nghiên

cứu ở các trường đại học trong nước hiện nay là chế độ đãi ngộ thù lao còn thấp

Nhóm nghiên cứu D15KT02



66



Chương 2: Nghiên cứu về nghề kế toán và thực trạng cơ hội việc làm kế toán ở việt nam hiện nay



so với cơ sở đào tạo nghiên cứu nước ngoài. Do thu nhập thấp nên có hiện tượng

các giảng viên cùng một lúc có thể tham gia giảng dạy cho nhiều trường mà

khơng còn thời gian để nghiên cứu khoa học thậm chí có những giảng viên

không bao giờ viết bài báo cho chuyên ngành kế tốn- kiểm tốn mà mình đang

giảng dạy đây chính là thách thức đối với các trường đại học , viên nghiên cứu

muốn phát triển nguồn nhân lực hiện nay.

Nhu cầu xây dựng năng lực để đào tạo – giáo dục nhằm nâng cao chất

lượng sinh viên chuyên ngành kế toán- kiểm toán của các trường đại học hiện

nay .

Nhà nước cần phải hỗ trợ các trường đại học xây dựng định hướng,

chiến lược phát triển đào tạo, nghiên cứu cho phù hợp với yêu cầu hội nhập. Tái

cấu trúc lại tổ chức bộ máy, tuyển dụng đào tạo nguồn nhân lực. Định hướng

phát triển các trường , theo hướng tăng cường hỗ trợ đào tạo, tư vấn cho các

doanh nghiệp về chuẩn mực kế toán kiểm toán.

Tạo cơ hội nâng cao khả năng liên kết giữa các trường đại hoc , viện

nghiên cứu trong nước với các trường đại học nước ngoài , nhất là trong lĩnh

vực nghiên cứu về kế toán – kiểm toán.

Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực cho các trường đại học. Đào tạo nâng

cao trình độ chun mơn, tiếp cận với phương pháp đào tạo, nghiên cứu tiên tiến

của thế giới.Tài trợ cho các đại học cử giảng viên, nghiên cứu đi học, bồi dưỡng

nghiệp vụ , tu nghiệp ở nước ngoài để có cơ hội tiếp cận với phương pháp tư

duy, nghiên cứu của các nước có trình độ tiên tiến về kế tốn- kiểm tốn , mở

rộng tầm nhìn ra bên ngồi. Hỗ trợ đào tạo nâng cao trình độ ngoại ngữ ( tiếng

anh và một số ngôn ngữ thông dụng khác) đến mức thành thạo cho cán bộ giảng

dạy và cán bộ nghiên cứu vì ngoại ngữ là chìa khố dẫn đến sự thành công và

phát triển trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.



Nhóm nghiên cứu D15KT02



67



Chương 2: Nghiên cứu về nghề kế toán và thực trạng cơ hội việc làm kế toán ở việt nam hiện nay



Thiết lập mối liên kết giữa các trường đại học với các doanh nghiệp , ở

các doanh nghiệp có các nhà quản lý giỏi, trình độ chun mơn tốt, có kinh

nghiệm và uy tín, có thể bổ sung lực lượng này cho cơng tác đào tạo và nghiên

cứu, từ đó cơng tác đào tạo và nghiên cứu mới đáp ứng tốt cho yêu cầu của

doanh nghiệp.

Đặc biệt là muốn đổi mới chương trình giảng dạy kế tốn ở bậc đại

học thiết nghĩ chúng ta cần quan tâm các vấn đề cơ bản sau đây:

- Thực hiện phải khảo sát thị trường trước

- Cần tổ chức họp mặt thường xuyên giữa nhà trường và các đơn vị sử dụng lao

động kế toán – kiểm tốn.

- Thu thập phản hồi từ các cơng ty tuyển dụng sinh viên.

- Hợp tác với các công ty trong cùng lĩnh vực thường xuyên tổ chức các chương

trình hướng nghiệp.

- Các chương trình mời chuyên gia từ giỏi từ giới kinh doanh đến nói chuyện

với sinh viên.

- Mối quan tâm của các doanh nghiệp khi sinh viên thực tập.

- Sử dụng công nghệ trong việc đổi mới nội dung giảng dạy tại các trường đại

học.

- Chia sẻ kinh nghiệm về chương trình đào tạo kế tốn quốc tế tại Việt Nam với

các trường đại học quốc tế đã có mặt tại Việt nam.

Có thể nói, đổi mới công tác giảng dạy không phải là một vấn đề dễ

dàng , bởi có rất nhiều việc phải cân nhắc , có rất nhiều người liên quan, nhiều

cuộc thảo luận cần thực hiện và phải thực hiện thường xuyên. Do vậy, nhằm

từng bước nâng tầm kế toán – kiểm toán Việt Nam lên vị trí tương xứng trong

Nhóm nghiên cứu D15KT02



68



Chương 2: Nghiên cứu về nghề kế toán và thực trạng cơ hội việc làm kế toán ở việt nam hiện nay



nghề nghiệp ở khu vực và thế giới, chúng ta hãy thay đổi tư duy giáo dục, xác

định lại quan niệm về mục tiêu, yêu cầu đào tạo của các trường Đại học, từ đó

thay đổi cung cách dạy, học và phương pháp , nội dung tổ chức và quản lý giáo

dục với một nền tảng giáo dục phù hợp hơn với yêu cầu của xã hội và cuộc sống

trong kỷ nguyên kinh tế trí thức.

2.2.2.2.Đánh giá thực trạng phát triển và cơ hội việc làm nghề kế toán

tại Việt Nam

Thực tế cho thấy ngành kế toán được xem là ngành có nhiều sinh viên

lựa chọn và theo học. Tốt nghiệp ngành này, sinh viên dễ dàng tìm được việc

làm và có thu nhập ổn định. Vì kế tốn là bộ phận không thể thiếu trong tất cả

các công ty, tổ chức, do đó, đây là một trong những nghề không lo thất nghiệp

nhất.

Đồng thời, theo kết quả nghiên cứu mới công bố của Navigos Group –

Mạng việc làm và tuyển dụng uy tín tại Việt Nam cho biết: Nhu cầu về kế tốn

tài chính xếp thứ 3 trong số 5 bộ phận chức năng có nhu cầu tuyển dụng cao

nhất, trong tổng số nhu cầu về nhân sự kế tốn tài chính có: 33% là nhu cầu

tuyển cho các vị trí chun viên kế tốn, 38% cho vị trí kế tốn trưởng, 4% cho

vị trí kiểm sốt viên tài chính và 25% là nhu cầu tuyển vị trí giám đốc và quản lý

tài chính, ngồi ra theo dự đoán của Cục Thống kê Lao động dự đoán mức tăng

trưởng là 15,7% cho ngành nghề kế toán từ năm 2010 – 2020, nhanh hơn nhiều

so với tốc độ tăng trưởng trung bình của hầu hết các ngành nghề khác. Như vậy,

có thể nói nhu cầu về nhân lực ngành nghề kế toán hiện nay đang là rất cao.



2.2.2.3. Đánh giá sự đáp ứng nhu cầu việc làm kế toán giữa nhà tuyển dụng

và lao động

Nhà tuyển dụng cần gì ở SV mới ra trường?

“Theo VTV”

a.Kinh nghiệm có liên quan

Nhóm nghiên cứu D15KT02



69



Chương 2: Nghiên cứu về nghề kế toán và thực trạng cơ hội việc làm kế toán ở việt nam hiện nay



23% nhà tuyển dụng nói rằng khả năng và kinh nghiệm của các ứng

viên có liên quan đến công việc là yếu tố quan trọng nhất đối với quyết định

tuyển dụng của họ. 63% trong số họ xem những kinh nghiệm mà các sinh viên

có được qua các hoạt động tình nguyện, các buổi thực hành ở trường và qua

những việc làm part – time như là những kinh nghiệm liên quan rất có giá trị.

Tuy nhiên, rất nhiều sinh viên mới ra trường lại không quan tâm đến điều đó.

b. Phù hợp với mơi trường văn hố của cơng ty

Trên hồ sơ, bạn có thể là một ứng viên sáng giá nhưng điều đó khơng

có nghĩa là bạn đã phù hợp với vị trí cơng việc này. Theo nghiên cứu, 21% số

nhà tuyển dụng cho rằng điểm mà họ muốn nhìn nhận nhiều nhất ở một ứng viên

đó là khả năng phù hợp và thích nghi với mơi trường văn hố của cơng ty. Vì

vậy, khi đi phỏng vấn, bạn thường gặp câu hỏi "Tại sao anh (chị) lại cảm thấy

mình phù hợp với cơng việc này?" Nếu bạn nghĩ rằng câu hỏi đó thật ngớ ngẩn

mà phớt lờ nó đi thì quả là sai lầm. Nhớ rằng, nhà tuyển dụng thường dò hỏi và

đánh giá khả năng nổi trội của bạn qua một số câu hỏi tưởng như khơng quan

trọng và khơng có gì liên quan đến công việc của bạn như kiểu "Quyển sách bạn

đọc gần đây nhất tên là gì ?”

c. Kiến thức nền

19% các nhà tuyển dụng nhấn mạnh đến kiến thức nền tảng mà các

sinh viên tích luỹ được trong quá trình đào tạo ở trường đại học, từ các cơ quan,

tổ chức họ đã từng tham gia, các chứng chỉ, bằng cấp đã nhậ và tất nhiên chúng

phải liên quan đến vị trí mà ứng viên xin tuyển.

d. Tham vọng và lòng nhiệt tình

Tham vọng tìm kiếm một cơng việc luôn là một trong những yếu tố

hàng đầu mà nhà tuyển dụng mong muốn ở các ứng viên. Bởi theo họ, chính

những tham vọng nghề nghiệp là lý do quan trọng để nhân viên của họ trở

thành một người cống hiến hết mình cho cơng việc. Vì vậy, khi đi phỏng vấn,

nếu được hỏi "Tại sao bạn lại muốn làm việc ở cơng ty chúng tơi?" thì trong

câu trả lời, bạn nên chú trọng vào những điểm mạnh của công ty và những



Nhóm nghiên cứu D15KT02



70



Chương 2: Nghiên cứu về nghề kế toán và thực trạng cơ hội việc làm kế toán ở việt nam hiện nay



thách thức ở vị trí đó chứ khơng nên tỏ thái độ "được thì được mà khơng được

thì thơi" đối với cơng việc này.

e. Sự chuẩn bị

8% trong số 1000 nhà tuyển dụng nói rằng họ sẽ đánh giá cao những

người đặt ra các câu hỏi cho họ hoặc đem đến những thông tin, đưa ra những ý

tưởng để đóng góp cho sự thành cơng của cơng ty. Vì thế, hãy tìm hiểu thật kỹ

các thông tin và chuẩn bị chu đáo trước khi đi phỏng vấn.

2.2.2.4. Đánh giá điều kiện và các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển nghề

kế toán tại Việt Nam

Có 8 nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của kế tốn và từ đó dẫn đến

sự khác biệt về nghề kế toán ở Việt Nam: (1) Nguồn tài chính, (2) Hệ thống

luật pháp, (3) Thuế, (4) Sự ràng buộc về kinh tế và chính trị, (5) Lạm phát,

(6) Mức độ phát triển kinh tế, (7) Trình độ giáo dục,(8 )Văn hóa.

1.Nguồn tài chính. Tại các nước có thị trường vốn mạnh như Mỹ, Anh thì lợi

nhuận kế tốn là thước đo năng lực điều hành cơng ty của nhà quản trị. Khi đó

kế tốn được thiết kế để giúp cá nhà đầu tư đánh giá các dòng tiền trong tương

lai và các rủi ro đi kèm, và để xác định giá trị công ty. Việc công bố thông tin là

rất rộng rãi để đáp ứng các nhu cầu của một số lượng lớn các nhà đầu tư sở hữu

cổ phiếu. Ngược lại, tại các nước mà nguồn tài chính dựa trên quan hệ tín dụng,

nơi ngân hàng là nguồn cung cấp tài chính chủ yếu, kế tốn tập trung vào việc

bảo vệ các nhà cung cấp tín dụng thông qua việc đo lường một cách thận trọng

lợi nhuận để giảm thiểu việc chia cổ tức và để lại vốn đủ để bảo vệ những người

cho vay. Bởi vì các định chế tài chính có thể tiếp cận trực tiếp bất kỳ thông tin

nào họ muốn, các báo cáo công bố một cách rộng rãi được xem là khơng cần

thiết. Nhật Bản và Thụy Sĩ là các ví dụ về nhóm các nước này. Việt Nam là nước

có thị trường chứng khốn còn khá non trẻ, nguồn tài chính của các doanh

nghiệp chủ yếu từ các ngân hàng và nhà nước nên nghiêng về nhóm thứ hai

nhiều hơn.

Nhóm nghiên cứu D15KT02



71



Chương 2: Nghiên cứu về nghề kế toán và thực trạng cơ hội việc làm kế toán ở việt nam hiện nay



2. Hệ thống luật pháp. Hệ thống luật pháp quyết định về mối quan hệ giữa các

cá nhân và các định chế. Hệ thống luật pháp phương Tây bao gồm hai hướng:

dân luật (code/civil law) và thông luật (common/case law). Trong các nước theo

hệ thống dân luật, các quy định về kế tốn được tích hợp vào hệ thống pháp luật

quốc gia và thường có xu hướng quy định chi tiết cách thức và quy trình. Các

nước theo hệ thống này là các nước có ảnh hưởng bởi nguồn gốc từ Pháp, Đức,

ngược lại, các nước theo hệ thống thông luật (ảnh hưởng bởi Anh) phát triển

theo cơ sở từng trường hợp và không cố gắng bao quát tất cả trường hợp trong

bộ luật. Tại các nước này, các quy tắc kế toán được thiết lập bở các tổ chức

thuộc lĩnh vực tư nhân. Việc này cho phép chúng có tính thích nghi cao hơn và

dễ đổi mới hơn. Kế toán tại các nước theo hệ thống dân luật thường có xu hướng

tập trung vào hình thức pháp lý, trong khi kế tốn theo thơng luật thường có xu

hướng tập trung vào bản chất. Việt Nam là nước ảnh hưởng bởi Pháp và hệ

thống kế toán Việt Nam hiện hành nghiêng nhiều hơn về hướng hệ thống kế toán

tại các nước dân luật.

3. Thuế. Tại nhiều quốc gia, các quy định về thuế quyết định các chuẩn mực kế

tốn bởi vì các cơng ty phải ghi nhận doanh thu và chi phí của trong hệ thống sổ

sách của mình để thực hiện cho mục đích thuế. Nói cách khác, các quy tắc kế

tốn và tài chính tương tự nhau, các ví dụ cho trường hợp này là Đức và Thụy

Điển. Tại các nước khác (chẳng hạn Mỹ), kế tốn tài chính và kế tốn thuế là

riêng biệt: lợi nhuận tính thuế là lợi nhuận kế tốn tài chính được điều chỉnh

theo sự khác biệt giữa thuế và kế toán. Mặc dù khi xây dựng chuẩn mực kế toán

Việt Nam số 17 – Thuế thu nhập doanh nghiệp Việt Nam thể hiện chấp nhận xu

hướng thứ hai: sự khác biệt giữa lợi nhuận tính thuế và kế tốn. Tuy nhiên trong

thực tế các quy định của thuế và kế toán là khá đồng nhất, và trong thực hành kế

toán người ta cũng thường dựa vào các quy định của thuế để làm kế toán nên sự

khác biệt giữa lợi nhuận tính thuế và lợi nhuận kế tốn khơng phát sinh nhiều.

4. Sự ràng buộc về chính trị và kinh tế. Các quan niệm và kỹ thuật kế toán

được chuyển giao thông qua sự xâm lược, thương mại và các sức mạnh tương

Nhóm nghiên cứu D15KT02



72



Chương 2: Nghiên cứu về nghề kế toán và thực trạng cơ hội việc làm kế toán ở việt nam hiện nay



tự. Hệ thống ghi sổ kép vốn có nguồn gốc từ Italy trong thế kỷ XV và được lan

truyền sang các nước châu Âu cùng với các tư tưởng khác trong thời Phục Hưng

chủ nghĩa thực dân Anh xuất khẩu các kế toán viên và các kỹ thuật kế toán trong

hệ thống thuộc địa của mình, Đức đóng chiếm Pháp trong thế chiến thứ 2 dẫn

đến việc Pháp áp dụng hệ thống tài khoản kế toán thống nhất. Mỹ áp dụng các

quy tắc kế tốn của mình tại Nhật sau thế chiến thứ 2. Việt Nam thuộc khối xã

hội chủ nghĩa nên kế tốn Việt Nam có ảnh hưởng rất lớn bởi kế tốn Liên Xơ

cũ.

5. Lạm phát. Lạm phát làm méo mó kế tốn theo giá gốc bởi vì nó làm cho tài

sản và các chi phí liên quan bị đánh giá thấp, và lợi nhuận bị phóng đại lên. Các

nước có mức lạm phát cao thường yêu cầu các công ty thực hiện sự điều chỉnh

sự thay đổi của giá cả trong các báo cáo. Ví dụ, Mexico áp dụng kế toán điều

chỉnh theo mức giá chung nếu lũy kế mức lạm phát trong 3 năm liên tiếp lớn

hơn hoặc bằng 28% (lạm phát hàng năm là 8%). Trong những năm 1970, để

phản ứng với mức lạm phát cao bất bình thường, cả Mỹ và Anh đều thực hiện

với việc báo cáo ảnh hưởng của sự thay đổi giá cả. Để đáp lại với nhiều thời

điểm có mức lạm phát rất cao trong quá khứ tại Việt Nam, nhà nước đã thực

hiện sự đánh giá lại tài sản. Tuy nhiên trong thời gian gần đây có những năm

lạm phát cao (năm 2008 khoảng 22%, 2011 là 18,13%) nhưng các doanh nghiệp

không được yêu cầu điều chỉnh báo cáo tài chính theo sự thay đổi của giá cả dẫn

đến sự méo mó trong lợi nhuận và tài sản.

6. Mức độ phát triển kinh tế. Nhân tố này ảnh hưởng đến các loại nghiệp vụ

kinh tế phát sinh trong một nền kinh tế và quyết định loại nào là thịnh hành

nhất.Loại giao dịch, trong chiều ngược lại, quyết định các vấn đề kế tốn mà nó

đối mặt. Ví dụ, hệ thống thưởng cho nhà quản lý dựa trên cổ phiếu không quá

quan trọng trong các nước mà thị trường chứng khốn còn chưa thật sự phát

triển. Ngày nay, nhiều nền kinh tế công nghiệp đang chuyển mình sang kinh tế

dịch vụ. Các vấn đề kế toán liên quan trong sản xuất, như định giá tài sản cố

định và ghi nhận chi phí khấu hao, trở nên khơng quan trọng. Các thách thức

Nhóm nghiên cứu D15KT02



73



Chương 2: Nghiên cứu về nghề kế toán và thực trạng cơ hội việc làm kế toán ở việt nam hiện nay



mới nổi lên đối với kế toán là đánh giá các tài sản vơ hình và các nguồn lực con

người. Ở Việt Nam trước đây khi nền kinh tế còn ở mức độ thấp, mức độ hòa

nhập quốc tế chưa cao thì các nghiệp vụ liên quan đến cổ phiếu, chứng khoán

phái sinh chưa nhiều. Tuy nhiên với sự phát triển của các giao dịch này ngày

càng nhiều trong thời gian gần đây đòi hỏi hệ thống kế tốn phải có sự điều

chỉnh, bổ sung để thích ứng.

7. Mức độ phát triển giáo dục. Các chuẩn mực kế toán và các hoạt động thực

hành kế toán phức tạp sẽ khơng có tác dụng nếu chúng bị hiểu nhầm và sử dụng

sai. Ví dụ, các kỹ thuật báo cáo phức tạp về biến động của chi phí theo sự ứng

xử của chi phí sẽ khơng có ý nghĩa trừ khi người đọc hiểu kế tốn chi phí. Cơng

bố các thơng tin về rủi ro của các chứng khốn phái sinh sẽ khơng có giá trị

thơng tin trừ khi chúng có thể được đọc một cách thơng thạo. Các kỹ thuật định

giá phức tạp trong định giá chứng khoán phái sinh sẽ không đi vào thực tế

những người thực hành kế tốn khơng thể hiểu và áp dụng được chúng. Hiện tại

trình độ giáo dục kế tốn Việt Nam còn một khoảng cách khá lớn so với các

nước phát triển nên cần áp dụng nhiều biện pháp đồng bộ để thúc đẩy giáo dục

kế toán Việt Nam như nhập khẩu các chương trình đào tạo kế tốn quốc tế, đưa

cơng dân sang các nước phát triển đào tạo, tăng cường quá trình đào tạo và cấp

chứng chỉ của các tổ chức nghề nghiệp quốc tế.

8.Văn hóa. Có bốn lĩnh vực văn hóa ảnh hưởng của chúng đến phát triển nghề

kế toán: (1) chủ nghĩa các nhân, (2) sự né tránh tính khơng chắc chắn, (3)

khoảng cách quyền lực, (4) chủ nghĩa trọng nam.

Dựa trên các phân tích trên chúng em mạnh dạn đưa gia: Khn mẫu liên

kết giữa văn hóa và kế tốn. Rằng bốn mảng giá trị văn hóa kế tốn ảnh hưởng

đến thực hành báo cáo tài chính của một quốc gia, gồm:





Tính chuyên nghiệp và sự kiểm sốt bằng pháp luật: Có sự đối lập giữa ưa



chuộng áp dụng các phán xét nghề nghiệp mang tính cá nhân và các quy tắc tự

đưa ra hội nghề nghiệp với việc tuân thủ các quy định của pháp luật.

Nhóm nghiên cứu D15KT02



74



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

i. Khả năng giao tiếp, ứng xử khéo léo

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×