Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Sơ đồ 3. Mô hình bộ máy kế toán hổn hợp: vừa tập trung vừa phân tán.

Sơ đồ 3. Mô hình bộ máy kế toán hổn hợp: vừa tập trung vừa phân tán.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chương 1: Một số lý luận chung về nghề kế tốn



Kế toán trưởng



Kế toán

tởngco

hợp

Bơ phân kế toán Văn phong trung tâm va kế toán tư các đơn vi phu thu

ôc không

tổ chưc kế toán

riêng

Kế toán

vốn bằng ti



hach

toán các đơn vi

Kế toán các đơn vi phu thuôc co tổNhân

chưc viên

kế toán

riêng



Trong bộ máy kế toán ở một cấp cụ thể, các kế tốn phần hành và kế

tốn tổng hợp đều có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn riêng về công tác kế

toán ở đơn vị.

Các kế toán phần hành thường được chun mơn hố sâu theo một

hoặc một số phần hành. Khi đã được phân công ở phần hành nào, kế tốn đó

phải đảm nhiệm từ giai đoạn hạch tốn ban đầu (trực tiếp ghi chứng từ hoặc tiếp

nhận và kiểm tra chứng từ) tới các giai đoạn kế tiếp theo: Ghi sổ kế toán phần

hành, đối chiếu kiểm tra số liệu trên sổ với thực tế, lập báo cáo kế tốn phần

hành được giao. Trong q trình đó các phần hành có mối liên hệ ngang, có tính

chất tác nghiệp, đồng thời các kế tốn phần hành đều có mối liên hệ với kế toán

tổng hợp trong việc cung cấp số liệu đảm bảo cho kế toán tổng hợp chức năng

kế tốn tổng hợp.

Ở đơn vị chính vẫn lập phòng kế tốn trung tâm, ở các đơn vị phụ

thuộc đã được phân cấp quản lý kinh tế tài chính mức độ cao thì có tổ chức cơng

tác kế tốn riêng, còn các đơn vị phụ thuộc chưa được phân cấp quản lý kinh tế

tài chính ở mức độ cao thì khơng tổ chức cơng tác kế tốn riêng mà tất cả các

Nhóm nghiên cứu D15KT02



24



Chương 1: Một số lý luận chung về nghề kế toán



hoạt động kinh tế tài chính trong đơn vị này do phòng kế tốn trung tâm ghi

chép, tổng hợp và báo cáo.

Tồn bộ cơng việc kế toán ở doanh nghiệp trong trường hợp này được

phân công, phân cấp như sau:

1.1.3.3. Tổ chức hệ thống sổ sách và báo cáo kế toán

*Hệ thống sổ sách kế toán

Sổ kế toán là loại sổ sách dùng để ghi chép phản ánh các nhiệm vụ

kinh tế phát sinh trong từng thời kỳ kế toán và niên độ kế toán. Từ các sổ kế

toán, kế toán sẽ lên báo cáo tài chính nhờ đó mà các nhà quản lý có cơ sở để

đánh giá nhận xét tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình có

hiệu quả hay khơng.

Sổ kế tốn có hai loại:

+ Sổ kế tốn tổng hợp: gồm sổ nhật ký,sổ cái, sổ kế toán chi tiết, sổ kế toán tổng

hợp.

+ Sổ chi tiết: là sổ của phần kế toán chi tiết gồm các sổ, thẻ kế tốn chi tiết.

Căn cứ vào quy mơ và điều kiện hoạt động của doanh nghiệp và vào

các hình thức tổ chức của sổ kế toán, từng doanh nghiệp sẽ lựa chọn cho mình

một hình thức tổ chức sổ kế tốn cho phù hợp. Tổ chức sổ kế toán thực chất là

việc kết hợp các loại sổ sách có kết cấu khác theo một trình tự hạch tốn nhất

định nhằm hệ thống hố và tính tốn các chỉ tiêu theo u cầu của từng doanh

nghiệp. Theo quy định, các doanh nghiệp có thể lựa chọn áp dụng một trong các

hình thức tổ chức sổ kế tốn sau đây:

*Hình thức nhật ký sổ cái

Theo hình thức này, các nhiệm vụ kinh tế phát sinh được phản ánh vào

một quyển sổ gọi là sổ cái. Sổ này là sổ kế toán tổng hợp duy nhất, trong đó kết

hợp phản ánh theo thời gian và theo hệ thống. Tất cả các tài khoản mà doanh

Nhóm nghiên cứu D15KT02



25



Chương 1: Một số lý luận chung về nghề kế toán



nghiệp sử dụng được phản ánh cả hai bên nợ- có trên cùng một vài trang sổ. Căn

cứ ghi vào sổ là chứng từ gốc hoặc bảng tổng hợp chứng từ gốc. Mỗi chứng từ

ghi vào một dòng của sổ cái.

*Hình thức chứng từ ghi sổ

Hình thức này phù hợp với mọi loại hình đơn vị, tuy nhiên việc ghi

chép bị trùng lặp nhiều nên việc báo cáo dễ bị chậm trễ nhất là trong điều kiện

thủ cơng. Sổ sách trong hình thức này gồm:

Sổ cái: là sổ phân loại dùng để hạch toán tổng hợp. Mỗi tài khoản được phản

ánh trên môt vài trang sổ cái. Theo kiểu ít cột hoặc nhiều cột.

Sổ đăng ký chứng từ ghi số: là sổ ghi theo thời gian, phản ánh toàn bộ chứng

từ ghi sổ đã lập trong tháng. Sổ này nhằm quản lý chặt chẽ chứng từ ghi sổ và

kiểm tra đối chiếu số liệu với sổ cái. Mọi chứng từ ghi sổ sau khi lập xong đều

phải đăng ký vào sổ này để lấy số liệu và ngày tháng. Số hiệu của chứng từ ghi

sổ được đánh liên tục từ đầu tháng đến cuối tháng. Ngày, tháng trên chứng từ ghi

sổ tính theo ngày ghi “sổ đăng ký chứng từ ghi sổ”.

Bảng cân đối tài khoản: Dùng để phản ánh tình hình tồn đầu kỳ, phát sinh

trong kỳ và tình hình cuối kỳ của các loại tài sảnvà nguồn vốn với mục đích

kiểm tra tính chính xác của việc ghi chép cũng như cung cấp thông tin cần thiết

cho quản lý.

Các sổ và các thẻ hạch toán chi tiết: Dùng để phản ánh các đối tượng cần

hạch tốn chi tiết

Sơ đồ 1.1.Trình tự hoạch tốn theo hình thức nhật ký chứng từ

Ghi chú



Ghi hàng ngày

Ghi cuối tháng

Quan hệ đổi chiều

Nhóm nghiên cứu D15KT02



26



Chương 1: Một số lý luận chung về nghề kế toán



Chứng từ gốc và

bảng phân bố



Bảng kê



Nhật ký chứng từ



Thẻ (Sổ ),kế

toán chi tiết



Bảng tổng hợp

chi tiết



Sổ cái



Báo cáo tài chính

Sơ đồ 1.2.Trình tự hoạch tốn theo hình thức nhật ký sổ cái



Ghi chú



Ghi hàng ngày



Ghi

cuối tháng

Quan hệ đổi chiều



Chưng tư gốc



Sổ quy



Bảng tổng hợp chưng tư gốc Số (thẻ ) hoach toán chi tiết



Nhật ký sở cái



Báo cáo tai chính



Bảng tởng hợp chi tiết



Nhóm nghiên cứu D15KT02



27



Chương 1: Một số lý luận chung về nghề kế tốn



Sơ đồ 1.3.Trình tự hoạch tốn theo hình thức chứng từ ghi sổ

Ghi chú



Ghi hàng ngày

Ghi cuối tháng

Quan hệ đổi chiều



Chưng tư gốc



Sổ quy



Bảng tổn hợp chưng tư gốc Sổ thẻ kế toán chi tiết



Sổ đăng ký chưng tư ghi sổ Chưng tư ghi sổ



Bảng tổng hợp chi tiết



Sở cái



Bảng cân đới sở nhật sinh



Báo cáo tai chính



Nhóm nghiên cứu D15KT02



28



Chương 1: Một số lý luận chung về nghề kế toán



Sơ đồ 1.4.Hoạch toán toán theo chứng từ nhật ký



Ghi chú



Ghi hàng ngày

Ghi cuối tháng

Quan hệ đổi chiều



Chưng tư gốc

Sổ nhật ký đặc biệt



Sổ nhật ký chung



Sổ thẻ kế toán chi tiết



Sổ cái



Bảng tổng hợp chi tiết



Bảng cân đới sớ phát sinh



Bản báo cáo tai chính



Nhóm nghiên cứu D15KT02



29



Chương 1: Một số lý luận chung về nghề kế tốn



*Hình thức nhật ký chứng từ

Hình thức này thích hợp với doanh nghiệp lớn, số lượng nhiệm vụ

nhiều và điều kiện kế tốn thủ cơng, để chun mơn hố cán bộ kế tốn, tuy

nhiên đòi hỏi trình độ, nhiêm vụ của cán bộ kế tốn phải cao. Mặt khác, khơng

phù hợp với việc kiểm tra bằng máy. Sổ sách trong hình thức này gồm có:

*Sổ nhật ký chứng từ: Nhật ký chứng từ được mở hàng tháng cho một hoặc

một số tài khoản có nội dung giống nhau và có liên quan với nhau theo yêu cầu

quản lý và lập các bảng tổng hợp cân đối, nhật ký_chứng từ được mở theo số

phát sinh bên có của tài khoản đối chứng với bên nợ của tài khoản liên quan, kết

hợp giữa ghi theo thời gian và theo hệ thống, giữa kế tốn tổng hợp và kế tốn

phân tích.

*Sổ cái: Mở cho từng tài khoản tổng hợp và cho cả năm, chi tiết cho từng tháng

trong đó bao gồm số dư đầu kỳ, số phát sinh trong kỳ, số dư cuối kỳ. Sổ cái

được ghi theo số phát sinh bên nợ của t khoản đối ứng với bên có của các tài

khoản liên quan, phát sinh bên có của từng tài khoản chỉ ghi tổng số trên cơ sở

tổng hợp số liệu từ nhật ký chứng từ có liên quan.

*Bảng kê: Được sử dung cho một số đối tượng cần bổ sung chi tiết như bảng kê

ghi nợ tài khoản 111, 112, bảng kê theo dõi hàng gửi bán, bảng kê theo chi phí

phân xưởng … trên cơ sở các số liệu ở bảng kê, cuối tháng ghi vào nhật ký

chứng từ có liên quan.

*Bảng phân bổ: Sử dụng với những khoản chi phí phát sinh thường xun có

liên quan đến nhiều đối tượng cần phải phân bổ. Các chứng từ gốc trước hết tập

trung vào bảng phân bổ, cuối tháng dưa vào bảng phân bổ chuyển vào các bảng

kê và nhât ký chứng từ liên quan.

*Hình thức nhật ký chung

Là hình thức phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo trình tự

theo thời gian vào một quyển sổ gọi là Nhật ký chung. Sau đó căn cứ vào nhật

Nhóm nghiên cứu D15KT02



30



Chương 1: Một số lý luận chung về nghề kế toán



ký chung, lấy số liệu để ghi vào sổ cái. Mỗi bút toán phản ánh trong sổ nhật ký

chung được vào sổ cái ít nhất cho hai tài khoản có liên quan. Đối với các tài

khoản chủ yếu, phát sinh nhiều nghiệp vụ, có thể mở các nhật ký phụ. Cuối

tháng cộng các nhật ký phụ lấy số liệu ghi vào nhật ký chung hoặc vào thẳng sổ

cái.

Sổ cái trong hình thức nhật ký chung có thể mở theo nhiều kiểu và mở

cho cả hai bên nợ, có của tài khoản. Mỗi tài khoản mở trên một sổ riêng. Với

những tài khoản có số lương nghiệp vụ nhiều, có thể mở thêm sổ cái phụ. Cuối

tháng cộng sổ cái phụ để đưa vào sổ cái.

1.2. Những vấn đề chung về nghề kế toán và người làm kế toán

1.2.1. Những vấn đề chung về nghề kế toán

1.2.1.1. Khái niệm nghề kế tốn

Có nhiều khái niệm khác nhau về kế toán. Tuy nhiên các khái niệm

này đều xoay quanh hai khía cạnh: Khía cạnh khoa học và khía cạnh nghề

nghiệp.

Xét trên khía cạnh khoa học thì kế tốn được xác định đó là khoa học

về thơng tin và kiểm tra các hoạt động kinh tế, tài chính gắn liền với một tổ chức

nhất định (gọi chung là chủ thể) thông qua một hệ thống các phương pháp riêng

biệt.

Xét trên khía cạnh nghề nghiệp thì kế tốn được xác định là cơng việc

tính tốn và ghi chép bằng con số mọi hiện tượng kinh tế tài chính phát sinh tại

một tổ chức nhất định nhằm phản ánh và giám đốc tình hình và kết quả hoạt

động của đơn vị thơng qua 3 thước đo: Tiền, hiện vật và thời gian lao động trong

đó tiền tệ là thước đo chủ yếu.

Các đối tượng sử dụng thơng tin kế tốn

- Các nhà quản trị doanh nghiệp

- Cán bộ công nhân viên, các cổ đơng; chủ sở hữu.

Nhóm nghiên cứu D15KT02



31



Chương 1: Một số lý luận chung về nghề kế toán



- Các bên liên doanh, nhà tài trợ vốn, nhà đầu tư.

- Khách hàng, nhà cung cấp.

- Cơ quan thuế; cục thống kê.

- Các cơ quan quản lý nhà nước và cấp chủ quản.

1.2.1.2. Vai trò và đặc điểm của nghề kế tốn

*Vai trò

Nền kinh tế của chúng ta đang trên đà phát triển, các doanh nghiệp,

công ty mọc lên như “nấm sau mưa”, sự cạnh tranh để tồn tại giữa các doanh

nghiệp cũng trở nên gay gắt hơn. Vì vậy mà mỗi doanh nghiệp phải tìm cho

mình những giải pháp tốt nhất để có thể tồn tại và ngày càng phát triển. Để làm

được những điều đó nhất định phải có một đội ngũ nhân viên có năng lực, nhất

là một kế tốn giỏi để có thể cân bằng tình hình tài chính cho doanh nghiệp

mình.

Trong mọi doanh nghiệp từ tư nhân đến doanh nghiệp nhà nước đều

cần đến vị trí kế toán để thu thập, xử lý các vấn đề liên quan đến tài chính cũng

như tình hình hoạt động của công ty. Ở những nền kinh tế càng phát triển thì vai

trò của người kế tốn càng được đánh giá cao hơn vì họ chính là những người

góp phần xây dựng một nền kinh tế bền vững.

Kế tốn khơng chỉ đơn thuần là nói đến tiền mà còn là những vấn đề

quan trọng khác nữa. Trong môi trường kinh tế năng động này, kế tốn phải có

kiến thức sâu rộng, nhạy bén để có thể ứng phó với mọi điều có gặp phải trong

cơng việc.

Vậy vai trò của bộ máy kế toán trong doanh nghiệp rất quan trọng, kế

toán đảm nhận việc kích thích và điều tiết các hoạt động kinh doanh, kế tốn là

những người duy trì và phát triển các mối liên kết trong doanh nghiệp. Mọi bộ

phận trong doanh nghiệp đều liên quan đến kế toán, từ khâu kinh doanh đến

hành chánh nhân sự.

Nhờ những tài liệu mà bộ phận kế toán cung cấp mà các doanh nghiệp

có thể thường xuyên theo dõi cũng như nắm bắt được tình hình hoạt động, sản

Nhóm nghiên cứu D15KT02



32



Chương 1: Một số lý luận chung về nghề kế toán



xuất, kinh doanh của mình. Như vậy, chủ doanh nghiệp có thể quản lý và điều

hành các hoạt động có hiệu quả hơn cũng như định ra những điều cần phải làm

cho mỗi cá nhân, cho từng giai đoạn trong thời gian tới và trong cả tương lai.

Khơng những vậy, kế tốn còn là bộ phận chịu trách nhiệm quản lý

các khoản thu – chi dựa trên việc lập các kế hoạch, sổ sách báo cáo hàng ngày.

Qua đó sẽ thấy được những khoản chi phí khơng cần thiết để có cách cắt giảm

nó. Đồng thời là cơ sở để người quản lý đưa ra những quyết định phù hợp với

chiến lược kinh doanh. Do đó, nếu thơng tin mà kế tốn đưa ra khơng chính xác,

bị sai lệch thì sẽ dẫn tới việc hoạch định kinh doanh của nhà quản lý sẽ khơng

phù hợp, thậm chí gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc kinh doanh của doanh

nghiệp.

Với những vai trò nêu trên, rõ ràng bộ máy kế toán trong doanh nghiệp

rất quan trọng và cần thiết. Doanh nghiệp không thể tồn tại nếu khơng có kế

tốn, vì vậy chúng ta khơng được xem nhẹ bộ phận cốt yếu này.

*Đặc điểm

-Cơ sở ghi sổ là những chứng từ gốc hợp lệ, bảo đảm thơng tin chính xác và có

cơ sở pháp lý.

– Sử dụng cả 3 loại thước đo là: Giá trị, hiện vật và thời gian, nhưng chủ yếu và

bắt buộc là giá trị.

– Thơng tin số liệu: Chủ yếu trình bày bằng hệ thống biểu mẫu báo cáo theo quy

định của nhà nước (đối với thơng tin cho bên ngồi) hay theo những báo cáo do

giám đốc xí nghiệp quy định (đối với nội bộ).

– Phạm vi sử dụng thông tin: Trong nội bộ đơn vị kinh tế cơ sở và các cơ quan

chức năng của nhà nước và những đối tượng trên quan như các nhà đầu tư, ngân

hàng, người cung cấp.

1.2.1.3. Sự hình thành và phát triển nghề kế tốn trên thế giới

Nhóm nghiên cứu D15KT02



33



Chương 1: Một số lý luận chung về nghề kế toán



Thời Cổ đại

Kế toán ở vùng Mesopotamia Cổ đại

Khoảng thế kỷ 36 trước Công nguyên, nền văn minh Át-xi-ri, Babylon

và Xume phát triển rực rỡ ở thung lũng Mesopotamia - nhờ điều kiện tự nhiên

thuận lợi mà trở thành vùng nông nghiệp trù phú. Đây cũng là nơi xuất hiện

những ghi chép cổ xưa nhất về hoạt động buôn bán. Khi người nông dân đó trở

nờn giàu có, các hoạt động kinh doanh dịch vụ và các ngành công nghiệp nhỏ

phát triển ở khu vực lân cận thung lũng Mesopotamia. Thành phố Babylon và

Ninevah trở thành các trung tâm thương mại của vùng, trong đó Babylon được

xem như là tiếng nói của kinh doanh và chính trị của cả vùng Cận Đơng. Có hơn

một ngân hàng ở Mesopotamia sử dụng thước đo tiêu chuẩn là vàng và bạc và

cho phép một số giao dịch bằng tiền gửi ngân hàng.

Trong suốt kỷ nguyờn này, tồn tại các quy tắc pháp lý quy định về việc

ghi chép tài sản và các giao dịch liên quan đến tài sản. Vì thế, gần như tồn bộ

các giao dịch được ghi lại và được mô tả bởi các bên liên quan trong suốt thời

kỳ này. Nhiệm vụ của người thực hiện việc ghi chép kế toán khá đơn giản,

nhưng lại bao quát. Ngoài việc ghi lại trọn vẹn một giao dịch, anh ta cùng cần

chắc chắn rằng các giao dịch thoả thuận đó đáp ứng được yêu cầu pháp lý áp

dụng cho các giao dịch thương mại.

Ở Mesopotamia, các giao dịch được ghi chép lại trên mảnh gốm sứ.

Mảnh gốm được nung theo hình dạng và kích thước tuỳ theo nội dung của các

giao dịch. Mỗi giao dịch được ghi chép lại theo những nội dung sau: tên của các

bên tham gia bn bán, loại hàng hố bn bán và giá cả cùng những điều cam

kết quan trọng khác. Sau đó, mỗi bên sẽ chứng nhận sự hiện diện của họ cùngg

như thoả thuận giữa họ lên mảnh gốm bằng cách ấn mạnh lên mảnh gốm “dấu”

riêng của họ. Người ghi chép tài sản sau đó sẽ hong khô mảnh gốm để đảm bảo

những điều ghi chép trên mảnh gốm khơng thể bị thay đổi.

Kế tốn ở Ai Cập, Trung Hoa, Hy Lạp và Roma cổ đại

Nhóm nghiên cứu D15KT02



34



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Sơ đồ 3. Mô hình bộ máy kế toán hổn hợp: vừa tập trung vừa phân tán.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×