Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Lng thu nhg g trình xóa đói h hư nghè

Lng thu nhg g trình xóa đói h hư nghè

Tải bản đầy đủ - 0trang

TT



Huyện, thị



Mức TB thu nhập của hộ nghèo qua các năm

2011



2012



2013



2014



3 n Minh



360000



390000



452000



474000



4 Quản Bạ



380000



410000



472000



494000



5 Xín Mần



290000



320000



382000



404000



6 Hồng Su Phì



275000



305000



367000



389000



7 Bắc Quang



314000



344000



406000



428000



8 Quang Bình



312000



342000



404000



426000



9 Vị Xuyên



322000



352000



414000



436000



10 Bắc Mê



326400



356400



418400



440400



11 Thị xã Hà Giang



289000



319000



381000



403000



319281.8



349281.8



411281.8



433281.8



TB Tồn tỉnh



Nguồn: tác giả tổng hợp

Chú thích: thu nhập danh nghĩa hay tính theo giá năm gốc [EM XEM KỸ SỐ LIỆU

THỐNG KÊ ĐƯỢC TÍNH TỐN] Qua bảng số liệu trên cho thấy mức thu nhập của

các hộ nghèo đã tăng theo từng năm, nhưng mức tăng qua các năm không đều nhau.

Phần lớn người

nghèo ở đây phụ thuộc vào thu nhập từ sức lao động, từ công việc trên mảnh đất của

họ, từ tiền lương hay từ những hình thức lao động khác.



71



Biểu đồ 3.1. Tỷ lệ tăng thu nhập của cá huyện tỉnh Hà Giang

Nguồn: tác giả tổng hợp

Tình trạng thiếu việc làm và năng suất lao động thấp dẫn đến thu nhập của

người lao động thấp là khá phổ biến đối với người nghèo [Nguyễn Thị Hoa, 2011,

Chính sách giảm nghèo ở Việt nam đến năm 2015TRÍCH NGUỒN???]. Vì vậy, để

tăng thu nhập cho người nghèo phải có giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu

sản xuất.... để hỗ trợ tăng năng suất lao động và tạo việc làm cho người nghèo là cơ

bản nhất.

Vận động ủng hộ quỹ vì người nghèo, quỹ hỗ trợ nơng dân

Quỹ vì người nghèo: Đã được Uỷ ban Mặt trận tở quốc các cấp qun góp,

vận động được 5.950 triệu đồng trong đó cấp tỉnh 3.067 triệu đồng; cấp huyện 2.341

triệu đồng; cấp xã 538,4 triệu đồng; Hoạt động của quỹ các cấp đã hỗ trợ 839 hộ

được cải thiện nhà ở; trợ cấp cho 80 hộ nghèo được hỗ trợ Sản xuất; Hỗ trợ cho 55

trẻ em khuyết tật con hộ nghèo được điều trị, chăm sóc sức khoẻ. Hỗ trợ cứu đói

được 36 hộ.

Quỹ hỗ trợ nông dân: Trong 5 năm ngân sách tỉnh hỗ trợ thông qua Hội nông

dân tỉnh cùng với nguồn vận động của Hội nông dân các cấp đã nâng tổng quỹ lên



72



5.502 triệu đồng, quỹ sử dụng cho vay chăn ni trâu bò, ni lợn, trồng cây ăn

quả. Quỹ đã tạo sự chủ động cho Hội Nông dân cơ sở giúp đỡ nhau vươn lên thốt

nghèo, tình đồn kết tương thân tương ái được tăng cường, phong trào nông dân

hoạt động có hiệu quả, thu hút được nhiều nơng dân vào tổ chức Hội, xây dựng cơ

sở Hội vững mạnh, thực sự làm nòng cốt trong phong trào nơng dân, xây dựng nông

thôn mới.

Công tác cứu trợ xã hội đột xuất, cứu đói giáp hạt là một trong những nhiệm

vụ chính đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn, các cơ sở đều chủ động giải quyết

nhanh, kịp thời, giúp các đối tượng này sớm ổn định đời sống và sản xuất. Sau gần

5 năm toàn tỉnh đã trợ giúp cho 459.030 người, kinh phí 176.972 triệu đồng. Từ

những hỗ trợ trên đã bù đắp mất mát thiếu hụt, động viên và giúp đối tượng nghèo,

khó khăn nhanh chóng ổn định.

Hoạt động tham gia công tác xóa đói giảm nghèo của các tổ chức Hội,

Đồn thể

Với nhiều hình thức, nội dung hoạt động đa dạng, công tác giảm nghèo của

các hội đồn thể các cấp có đóng góp to lớn vào kết quả chung của Chương trình

giảm nghèo. Các cuộc vận động “Toàn dân xây dựng đời sống văn hố khu dân cư

”; tồn dân ủng hộ Quỹ vì người nghèo; Vận động ủng hộ quỹ hỗ trợ nông dân;

phong trào mái ấm tình thương … đặc biệt là việc đứng ra bảo lãnh, tín chấp cho

hội viên, đồn viên vay vốn giảm nghèo; hướng dẫn kinh nghiệm làm ăn, kỹ thuật

sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống, tương trợ và phân cơng giúp hội viên, đồn

viên nghèo có địa chỉ đã giúp hội viên sớm thốt nghèo.

Ngân hàng Chính sách- Xã hội Hà Giang đã thực hiện ủy thác cho vay qua 4

tổ chức CTXH: Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh và Đồn

TNCS Hồ Chí Minh.

Bảng 3.65. Kết quả ủy thác cho vay qua các tổ chức Chính trị - Xã hội

ĐVT: triệu đồng

STT



Tên tổ chức chính



Dư nợ ủy thác đến



Tỷ



Số tổ tiết



Số hộ



trị - xã hội



31/12/2014



trọng



kiệm và



còn dư



73



Tởng số



Trong đó



dư nợ



Nợ quá hạn



(%)



vay vốn



nợ



01



Hội Phụ nữ



367.080



3.253



59,3



1.635



44.339



02



Hội Nông dân



171.644



2.811



27,7



1.007



21.654



03



Hội Cựu chiến binh



54.757



517



8,9



283



6.797



04



Đồn thanh niên



25.289



183



4,1



107



2.805



3.032



75.595



Tổng cộng

618.779

6.764

100

Nguồn: Báo cáo Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Hà Giang



Các tổ chức CTXH đã thực sự là cầu nối giữa Ngân hàng Chính sách Xã hội

tới các hộ vay, là cánh tay dài vươn tới các thôn bản vùng sâu, vùng xa, vùng cao,

biên giới để tun truyền các chương trình tín dụng ưu đãi của Chính phủ và lồng

ghép có hiệu quả các mơ hình xóa đói giảm nghèo.

3.2.2.2. Th2. tăng ti, kh. tăng tiếp cận các nguồn lực phát triển đối với

người nghèo, vùng nghèo

- Phần lớn người nghèo tập trung chủ yếu ở vùng nông thôn, nhất là vùng

miền núi, vùng sâu, vùng xa. Những nơi này thường xa các trung tâm kinh tế và

dịch vụ xã hội. Hệ thống cơ sở hạ tầng thiếu và yếu hơn so với những vùng khác.

Phở biến là tình trạng thiếu điện, thiếu nước tưới, nước sinh hoạt, thiếu thông tin,

thiếu chợ đầu mối, giao thơng đi lại khó khăn vv... Do đó, năng suất lao động thấp,

trong khi đó giá cả của sản phẩm do người sản xuất bán lại rẻ do vận chuyển khó

khăn. Cơ hội tự vươn lên của người nghèo ở những vùng này lại càng khó khăn

hơn. Điều đó cho thấy rằng: Nhà nước phải tích cực đầu tư cơ sở hạ tầng cho vùng

nghèo, tạo điều kiện cho người nghèo được tiếp cận hệ thống cơ sở hạ tầng tốt hơn

là một nội dung quan trọng trong công tác XĐGN, nhất là ở nước ta hiện nay.

- Nghèo thường gắn liền với dân trí thấp, do nghèo mà khơng có điều kiện

đầu tư cho con cái học hành. Dân trí thấp thì khơng có khả năng để tiếp thu tiến Sở

của khoa học kỹ thuật để áp dụng vào sản xuất và khơng có khả năng tiếp cận với

những tiến Sở văn minh của nhân loại nên dẫn đến nghèo về mọi mặt (kinh tế và



74



tinh thần, chính trị). Vì vậy, để giảm nghèo cần phải nâng cao trình độ dân trí, nâng

cao sự hiểu biết cho người nghèo là giải pháp có tính chiến lược lâu dài.

- Một nội dung quan trọng nữa của công tác XĐGN là phải tạo điều kiện để

giúp người nghèo tiếp cận có hiệu quả với các dịch vụ y tế, dịch vụ tài chính, tín

dụng và tiến Sở của khoa học, kỹ thuật, công nghệ vv...

Hỗ trợ người nghèo về y tế để họ có điều kiện chăm sóc sức khoẻ tốt hơn,

hạn chế được bệnh tật, từ đó có điều kiện tái sản xuất sức lao động, đây là yếu tố

quan trọng để tăng trưởng về phát triển.

Người nghèo là những người có thu nhập thấp nên những lao động nghèo

thường thiếu vốn để kinh doanh, thiếu kinh nghiệm sản xuất, thiếu thông tin thị

trường và thiếu kiến thức về khoa học công nghệ. Do vậy, hoạt động XĐGN phải hỗ

trợ cho người nghèo có được sự tiếp cận tốt hơn những yếu tố trên.

Trong những năm qua Hà Giang đã có cơ chế chính sách thơng thống và tập

trung đầu tư cho cơng tác xóa đói giảm nghèo, tuy nhiên do vừa làm, vừa phải rút

kinh nghiệm, kết hợp với nhiều yếu tố khách quan cũng như chủ quan, trong việc

xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo có lúc, có nơi

còn thiếu sự đồng Sở, đặc biệt là cơ chế chính sách liên quan đến nhiều ngành,

nhiều lĩnh vực, hay trong những lĩnh vực mà địa phương khơng thể tự mình quyết

định được, ví dụ như: vấn đề cơ sở hạ tầng, vấn đề sản xuất và tiêu thụ sản phẩm,

vấn đề chuyển giao khoa học kỹ thuật, hay vấn đề chính sách cán Sở cơ sở... đó

khơng chỉ là những khó khăn mà còn là thách thức đối với một tỉnh miền núi cao và

dân tộc như Hà Giang.

Với các chính sách hỗ trợ cho người nghèo thuộc chương trình xóa đói giảm

nghèo được lồng ghép với chương trình giải quyết việc làm và các chương trình

phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn trong giai đoạn 2011-2015, đã làm thay đổi to

lớn đời sống kinh tế - xã hội của toàn tỉnh, cải thiện khả năng tiếp cận của người

nghèo đối với các dịch vụ sản xuất, dịch vụ xã hội cơ bản, nhận thức, năng lực,

trách nhiệm về xóa đói giảm nghèo được nâng cao, tạo được phong trào xóa đói



75



giảm nghèo sơi động trên địa bàn tồn tỉnh, có những bước đột phá quan trọng, nhất

là mục tiêu giảm nghèo đạt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đảng Sở Tỉnh Hà Giang.

Nhiều mơ hình xóa đói giảm nghèo hiệu quả đã xuất hiện, điển hình như: mơ

hình "bể nước, mái nhà, con bò", mơ hình "hạ sơn" của đồng bào vùng cao được đề

cao và nhân rộng trên địa bàn toàn tỉnh, tiết kiệm chi tiêu của các cơ quan đơn vị và

cá nhân huy động xây dựng quỹ xóa đói giảm nghèo, đặc biệt là phong trào cán Sở,

đảng viên và các cơ quan giúp hộ nghèo dê giống, phản nằm. Nhờ làm tốt công tác

xã hội hố trong xóa đói giảm nghèo mà nội lực được khai thác, sức dân được huy

động tối đa cho việc xây dựng các chương trình phục vụ dân sinh, các cơng trình cơ

sở hạ tầng hồn thành đưa vào sử dụng từng bước phát huy hiệu quả đời sống văn

hoá xã hội của nhân dân ngày càng được nâng cao, số người nghèo được thụ hưởng

thành quả kinh tế xã hội ngày càng nhiều, đời sống của nhân dân không ngừng được

cải thiện.

Ở nước ta, trong những năm đởi mới nền kinh tế đã có bước phát triển vượt

bậc, đời sống của đa số dân cư được cải thiện, công tác XĐGN đã thu được những

thành tựu đáng kể. Tuy vậy, mức sống của người dân vần còn thấp, phân hố thu

nhập có xu hướng tăng lên, một Sở phận khá lớn dân cư vẫn còn sống nghèo đói.

Trong đó có vùng cách mạng, vùng dân tộc ít người và nhiều hộ gia đình có nhiều

đóng góp cho cách mạng vẫn chịu nhiều thiệt thòi trong hồ nhập cộng đồng và

không đủ sức tiếp nhận những thành quả do công cuộc đổi mới mang lại. Những

giải pháp XĐGN tập trung cho đối tượng này vừa là yêu cầu cấp thiết đối với mục

tiêu phát triển bền vững, vừa mang tính nhân vân sâu sắc.3.2.2.2 . Thực trạng chính

sách hỗ trợ giáo dục và đào tạo cho người nghèo

Nghèo thường gắn liền với dân trí thấp, do nghèo mà khơng có điều kiện đầu

tư cho con cái học hành. Dân trí thấp thì khơng có khả năng để tiếp thu tiến Sở của

khoa học kỹ thuật để áp dụng vào sản xuất và khơng có khả năng tiếp cận với những

tiến Sở văn minh của nhân loại nên dẫn đến nghèo về mọi mặt (kinh tế và tinh thần,



76



chính trị). Vì vậy, để giảm nghèo cần phải nâng cao trình độ dân trí, nâng cao sự

hiểu biết cho người nghèo là giải pháp có tính chiến lược lâu dài.

Quy mô, chất lượng giáo dục đào tạo, cơ sở vật chất, trang thiết bị cho dạy

và học được tăng cường. Hỗ trợ cho 101.949 lượt học sinh nghèo, nội dung hỗ trợ

chủ yếu là miễn giảm học phí và các khoản đóng góp, cấp sách giáo khoa, vở viết

và dụng cụ học tập với tởng kinh phí và các khoản đóng góp, cấp sách giáo khoa, vở

viết và dụng cụ học tập với tởng kinh phí lên đến 12.882 triệu đồng, góp phần hạn

chế các em học sinh nghèo bỏ học, khuyến khích đến trường. Chính sách hỗ trợ phở

cập trung học cơ sở mỗi năm hỗ trợ một lần cho trên 3000 lượt em học sinh là con

hộ nghèo dân tộc thiểu số, học sinh tàn tật, mồ côi góp phần vào hồn thành mục

tiêu phở cập trung học cơ sở vào năm 2011, hết năm 2014 có 215/226 xã, phường,

thị trấn đạt phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ t̉i đạt 95,1%.

Nhóm chính sách nâng cao năng lực nhận thức, ý thức trách nhiệm của các

cấp, các ngành, các tổ chức và người dân đối với công tác giảm nghèo: dự án đào

tạo nâng cao năng lực cho cán bộ trực tiếp làm công tác giảm nghèo các cấp:

Công tác đào tạo nâng cao năng lực cán bộ làm công tác giảm nghèo đã được

tổ chức triển khai với nhiều hình thức, giải pháp đồng bộ. Với kinh phí được giao

1.869 triệu đồng tở chức đào tạo được 9.594 lượt cán bộ làm công tác giảm nghèo

các cấp.

Năm 2011 là năm đầu tiên thực hiện chương trình giảm nghèo với sự phối

hợp cùng với Ban chỉ đạo giảm nghèo các huyện sở LĐ-TB&XH đã mở được 24

lớp với 3.654 lượt cán bộ tham gia, năm 2012 kết hợp với các ngành mở được 20

lớp với 2.885 người tham gia năm 2013 mở được 6 lớp tại tỉnh số cán bộ tham gia

là 450 người. Đưa 90 cán bộ giảm nghèo tại các xã đi thực tế học tập các mơ hình

giảm nghèo tại các tỉnh bạn. Đối tượng tập trung chủ yếu là cán bộ xã, cán bộ thôn,

bản, cán bộ tăng cường làm công tác giảm nghèo trên tồn tỉnh khơng phân biệt các

xã đặc biệt khó khăn.

Cơng tác đào tạo đã góp phần nâng cao nhận thức và kỹ năng nghiệp vụ, trao

đổi kinh nghiệm cho đội ngũ cán bộ giảm nghèo các cấp. Nhưng việc đào tạo mới



77



chỉ dừng ở mức độ phổ biến chính sách, việc đào tạo bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ

chun mơn còn hạn chế.

Cơng tác truyền thơng giảm nghèo:

Cơng tác truyền thông giảm nghèo được trú trọng với nhiều hình thức như

cung cấp báo, tạp trí miễn phí đến tất cả các xã, phường thị trấn qua tất cả các

phương tiện thơng tin báo đài, tạp chí từ Trung ương đến huyện, thành phố. Công

tác truyền thông mới được đưa vào mục tiêu bở sung của chương trình MTQG

nhưng đã thật sự hiệu quả làm chuyển biến và góp phần nâng cao nhận thức cho cán

bộ, người dân và đặc biệt là người nghèo trong việc vươn lên trong cuộc chiến giảm

nghèo.

Trong 5 năm, công tác truyền thông giảm nghèo được chú trọng với nhiều hình thức

phong phú, như tuyên truyền thông qua các đợt phát động quần chúng nhân dân

tham gia phong trào XĐGN của các tổ chức đồn thể chính trị, xã hội. Từ năm 2012

cơng tác truyền thơng giảm nghèo đã được chương trình cân đối kinh phí, ngồi các

hình thức tun truyền, ban chỉ đạo giảm nghèo đã thay đởi bở sung hình thức tun

truyền mới thông qua các phương tiện thông tin đại chúng nhằm chuyển tải những

chính sách mới nhanh chóng và kịp thời, cung cấp mỗi năm miễn phí gần 40.000 tờ

báo Lao động xã hội, tạp chí giảm nghèo. In và cấp 3000 cuốn cẩm nang giảm

nghèo đến tất cả các xã, phường thị trấn. Biên soạn cuốn sách “Những mô hình

điểm trong xóa đói giảm nghèo” đã in được 2500 quyển cấp cho các xã, phát hành

hơn 40.000 tờ rơi, đưa tin về các gương sáng đã khắc phục khó khăn vươn lên làm

giàu chính đáng trên báo, Đài phát thanh và đài truyền hình Hà Giang.

Trong những năm vừa qua Hà Giang đã ban hành các nhóm chính sách tạo

điều kiện người nghèo tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản như:



Bảng 3.5. Tổng hợp chương trình giảm nghèo giai đoạn 2011-2014

TT

I



Chỉ tiêu



ĐVT



Chính sách hỗ trợ về y tế cho



78



TH



TH



TH



TH



2011



2012



2013



2014



người nghèo

Tởng kinh phí mua thẻ

Số người nghèo được mua thẻ

BHYT

Số lượt người nghèo được

khám chữa bệnh miễn phí

II



Trđ

Người



9073



19160 20520



30246 23945

2



1



214372



39897

179897



Lượt



24245 52620 68000



50000



Trđ



1025



1075



Chính sách hỗ trợ về giáo dục

cho người nghèo

Tởng kinh phí thực hiện



1046



1055



Số học sinh nghèo được hỗ



HS

20156 20500 19951

19987

trợ

Nguồn: Báo cáo Sở Lao động- Thương binh Xã hội tỉnh Hà Giang năm 2014

3.2.2.3 . Thực trạng về hỗ trợ



Chí nh sách hỗ trợvề y tế và dinh dưỡng



cho người nghèo

Một nội dung quan trọng nữa của công tác XĐGN là phải tạo điều kiện để

giúp người nghèo tiếp cận có hiệu quả với các dịch vụ y tế, dịch vụ tài chính, tín

dụng và tiến Sở của khoa học, kỹ thuật, công nghệ vv...

Hỗ trợ người nghèo về y tế để họ có điều kiện chăm sóc sức khoẻ tốt hơn,

hạn chế được bệnh tật, từ đó có điều kiện tái sản xuất sức lao động, đây là yếu tố

quan trọng để tăng trưởng về phát triển.

Để đảm bảo công bằng trong y tế, chăm sóc sức khỏe cho tồn dân, đặc biệt

là người nghèo, Hà Giang đã có nhiều giải pháp như củng cố và hoàn thiện mạng

lưới y tế cơ sở, đưa dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu có chất lượng tới gần người

nghèo, vùng nghèo, triển khai tốt các chương trình mục tiêu quốc gia "phòng chống

sốt rét, phong, lao, bướu cổ, tiêm chủng mở rộng, khám chữa bệnh nhân đạo... Công

tác hỗ trợ y tế cho người nghèo đã được các cấp, các ngành, tích cực triển khai phở

biến, tuyên truyền, lập danh sách, cấp thẻ và tổ chức khám chữa bệnh, đã thu hút

được nhiều người nghèo đến các cơ sở y tế để khám chữa bệnh.



79



Trong những năm vừa qua Hà Giang đã ban hành các nhóm chính sách tạo

điều kiện người nghèo tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản như:

Bảng 3.6. Tổng hợp chương trình giảm nghèo giai đoạn 2011-2014

TT

I



Chỉ tiêu



ĐVT



TH 2011



TH



TH



TH



2012



2013



2014



Chính sách hỗ trợ về y

tế cho người nghèo

Tởng kinh phí mua thẻ

Số người nghèo được

mua thẻ BHYT



Trđ



9073



19160



20520



39897



Người



302462



239451



214372



179897



Lượt



24245



52620



68000



50000



Trđ



1025



1046



1055



1075



HS



20156



20500



19951



19987



Số lượt người nghèo

được khám chữa bệnh

miễn phí

Chính sách hỗ trợ về

II



giáo dục cho người

nghèo

Tởng kinh phí thực

hiện

Số học sinh nghèo

được hỗ trợ



Nguồn: Báo cáo Sở Lao động- Thương binh Xã hội tỉnh Hà Giang năm 2014

Kết quả gần 5 năm thực hiện (2011- 2014) tởng kinh phí đầu tư 211.500 triệu

đồng để mua và cấp 1.286.183 lượt thẻ BHYT cho người nghèo. Chính sách cấp thẻ

BHYT cho người nghèo là một trong những mục tiêu tiến tới BHYT toàn dân, chất

lượng khám chữa bệnh từng bước nâng lên, cơ sở vật chất và trang thiết bị được

tăng cường, các bệnh viện tuyến huyện được đầu tư nâng cấp, trình độ đội ngũ y

bác sỹ đã nâng lên. Năm 2014 có 190 xã được cơng nhận đạt chuẩn quốc gia về y

tế, đạt 84,1% tăng 145 xã so với năm 2011; 75% trạm y tế xã, phường, thị trấn có



80



bác sỹ; tồn tỉnh đạt 19,3 giường bệnh/vạn dân. Cơng tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em

được quan tâm thường xuyên, tỷ lệ trẻ em được tiêm đủ 7 loại vacxin đạt 95%, tỷ lệ

trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng là 21% giảm 7,9% so với năm 2011. Người

nghèo được cấp thẻ BHYT, cũng đồng thời được tiếp cận với các dịch vụ khám

chữa bệnh dễ dàng, thuận tiện góp phần thực hiện mục tiêu xã hội hóa cơng tác y tế,

nâng cao các hoạt động bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân, đáp ứng ngày càng tốt

hơn nhu cầu khám chữa bệnh, tạo được niềm tin đối với người bệnh và nhân dân,

khống chế các bệnh dịch nguy hiểm xảy ra…Đặc biệt tại các tuyến xã số lần khám

chữa bệnh đã tăng lên đáng kể, đạt 136,2% kế hoạch, bằng 1,46 lần khám bệnh

/người/năm.

Qua đánh giá chung từ khi các đối tượng người nghèo được cấp thẻ BHYT,

người nghèo đã được tiếp cận với các dịch vụ khám chữa bệnh công của Nhà nước

rất dễ dàng, thuận tiện góp phần đáng kể vào cơng tác giảm nghèo của tỉnh nói riêng

và của chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo nói chung.

3.2.2.4. Thực trạng về hỗ trợ nhà ở cho người nghèo

Phần lớn người nghèo tập trung chủ yếu ở vùng nông thôn, nhất là vùng

miền núi, vùng sâu, vùng xa. Những nơi này thường xa các trung tâm kinh tế và

dịch vụ xã hội. Hệ thống cơ sở hạ tầng thiếu và yếu hơn so với những vùng khác.

Phổ biến là tình trạng thiếu điện, thiếu nước tưới, nước sinh hoạt, thiếu thông tin,

thiếu chợ đầu mối, giao thông đi lại khó khăn vv... Những người nghèo ở vùng núi,

biên giới thường có tập quán du canh, du cư nên nhà cửa của họ không ổn định theo

thống kê của Sở lao động thương binh xã hội tỉnh Hà Giang trong năm 2014 có tới

4500 hộ dân ở vùng biên giới vẫn còn sống theo tập tục du canh, du cư.

Trong những năm qua Hà Giang đã có cơ chế chính sách thơng thống và tập

trung đầu tư cho cơng tác xóa đói giảm nghèo, tuy nhiên do vừa làm, vừa phải rút

kinh nghiệm, kết hợp với nhiều yếu tố khách quan cũng như chủ quan, trong việc

xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện cơng tác xóa đói giảm nghèo có lúc, có nơi

còn thiếu sự đồng Sở, đặc biệt là cơ chế chính sách liên quan đến nhiều ngành,

nhiều lĩnh vực, hay trong những lĩnh vực mà địa phương khơng thể tự mình quyết



81



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Lng thu nhg g trình xóa đói h hư nghè

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×