Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
( Font chữ cần thống nhất, em nên nghiêm túc )

( Font chữ cần thống nhất, em nên nghiêm túc )

Tải bản đầy đủ - 0trang

phân bố dân cư ở vùng nghèo mà cao thì nguy cơ xuống cấp mơi trường và tình

trạng đói nghèo sẽ lớn.

- Về lao động, nếu cơ cấu dân cư có tỷ lệ lao động thấp, một lao động chính

phải ni nhiều người ăn theo thì khả năng tăng trưởng kinh tế thấp, đói nghèo tăng

và XĐGN sẽ gặp khó khăn. Hoặc cơ cấu lao động chủ yếu phân bố trong nông

nghiệp, tỷ lệ lao động trong công nghiệp và dịch vụ nhỏ, thì đó là một bất lợi lớn

cho việc tăng nhanh mức thu nhập bình quân đầu người, tỷ lệ tích lũy sẽ thấp, khó

khăn cho việc xây dựng các quỹ XĐGN.

Chất lượng lao động (trình độ tay nghề, sức khỏe, thái độ lao động của người

lao động) là một nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế nói chung và XĐGN nói

riêng. Chất lượng lao động sẽ tác động trực tiếp đến tăng năng suất lao động và tăng

thu nhập cho người lao động. Trong bối cảnh tồn cầu hóa hiện nay, khi Việt Nam

đã ra nhập WTO đã và đang tạo ra nhiều cơ hội việc làm và thu nhập cao cho một

bộ phận đáng kể người lao động trong các khu vực có lợi thế so sánh như (nông,

lâm, thủy sản, dệt may, xây dựng và xuất khẩu), nhưng cũng đòi hỏi cao hơn về chất

lượng lao động. Nếu chất lượng lao động thấp, khơng đáp ứng được nhu cầu thực tế

thì nguy cơ thất nghiệp, giảm thu nhập là điều khó tránh khỏi.

- Về giáo dục, chất lượng lao động gắn với việc nâng cao trình độ dân trí và

chiến lược phát triển giáo dục. Hầu hết những người nghèo, vùng nghèo ở Việt Nam

là những nơi có trình độ dân trí thấp. Cùng với tác động của thu nhập thấp nên việc

đầu tư cho con cái học hành của các hộ gia đình nghèo và vùng nghèo ít được quan

tâm hơn, ít được đào tạo nghề nên ít có cơ hội tìm kiếm việc làm có thu nhập cao.

Kết quả tỷ lệ đi học trong độ tuổi ở các vùng này rất thấp và như vậy nguy cơ nghèo

về tri thức dẫn tới đói nghèo về mọi mắt sẽ gia tăng.

- Về y tế, người nghèo có thu nhập thấp nên ít có điều kiện chăm lo sức khỏe,

bệnh tật phát sinh nên sức lao động suy giảm và sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thu

nhập và chi tiêu của họ. Họ phải gánh chịu hai gánh nặng: một là mất đi thu nhập từ

lao động, hai là gánh chịu chi phí cao cho khám chữa bệnh. Họ phải vay mượn, cầm



30



cố tài sản để có tiền chi phí, dẫn đến người nghèo càng ít có cơ hội thốt khỏi đói

nghèo.

- Tác động của mơi trường an ninh chính trị- xã hội, mơi trường chính

trị- xã hội và nghèo đói có mối quan hệ mật thiết với nhau. Khi mơi trường

chính trị - xã hội ởn định và tiến bộ thì sẽ là điều kiện tốt để thực hiện các

chương trình phát triển KT - XH. Các nhà đầu tư, các nhà sản xuất kinh doanh

sẽ yên tâm đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, nhờ vậy mà thúc đẩy kinh tế

phát triển nhanh, đây sẽ là cơ sở để tăng nguồn lực cho XĐGN. Ngồi ra, mơi

trường chính trị - xã hội ởn định và tiến bộ thì việc huy động nguồn lực cho

phát triển không những thuận lợi mà còn có điều kiện thực hiện tốt hơn phúc

lợi xã hội. Ngược lại, mơi trường chính trị - xã hội khơng ởn định thì mơi

trường đầu tư xấu đi, rủi ro trong đầu tư sẽ cao. Do vậy, việc thu hút và khuyến

khích đầu tư sẽ khó khăn, nguồn lực cho đầu tư bị giảm sút, tăng trưởng kinh tế

cũng giảm và XĐGN sẽ khó khăn. Mặt khác, nếu tệ nạn xã hội phát sinh khơng

kiềm chế được thì đói nghèo sẽ càng gia tăng.

- Một nhân tố khác cũng tác động đến đói nghèo, tăng tính phức tạp cho

XĐGN đó là hậu quả của chiến tranh tàn khốc. Ở Việt Nam hiện nay vẫn còn

khoảng 8 triệu người thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, người bị ảnh hưởng

chất độc mầu gia cam. Hơn nữa, một số vùng tài nguyên, môi trường bị hủy hoại để

lại những hậu quả nặng nề và lâu dài do chất độc màu da cam, tai nạn chiến tranh

do bom mìn, ơ nhiễm mơi trường...gây khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt của

người dân.

1.2.3.2. Tăng trưởng kinh tế ( Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao là tiền đề nâng cao

thu nhập và giảm nghèo. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế cần đảm bảo cho mọi

người đều có cơ hội tham gia vào phát triển kinh tế sẽ giúp cho mọi người dân,

trong đó có người nghèo nâng cao thu nhập và mức sống và do vậy có khả năng

thoát nghèo…)

Ảnh hưởng khơng tḥn lợi của những nhóm nhân tố thuộc về kinh tế làm

gia tăng đói nghèo và khó khăn đối với cơng tác XĐGN, nhóm nhân tố này bao

gồm: quy mô của nền kinh tế nhỏ bé, cơ cấu kinh tế lạc hậu, thị trường bị bó hẹp,



31



tốc độ tăng trưởng chậm, thu nhập của dân cư thấp, khả năng huy động nguồn lực

vật chất cho XĐGN khó khăn. Hơn nữa việc ưu tiên nhiều cho các vùng kinh tế

trọng điểm sẽ làm giảm nguồn lực đầu tư cho các vùng nghèo, kéo theo việc hỗ trợ

người nghèo giảm và phân hóa giàu nghèo tăng.

- Quy mơ và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế là yếu tố quan trọng tạo điều

kiện tiền đề để người nghèo có cơ hội vươn lên nhờ hưởng lợi từ kinh tế mang lại.

Mặt khác nhờ quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế cao mà Nhà nước tăng nguồn

thu, tăng tích lũy tạo sức mạnh vật chất để thực hiện tốt hơn cơng tác XĐGN. Vì

vậy, quy mơ nền kinh tế lớn và tăng trưởng kinh tế cao, bền vững là điều kiện quan

trọng nhất để thực hiện XĐGN. Ngược lại, nếu quy mô nền kinh tế nhỏ, tốc độ tăng

trưởng kinh tế chậm thì khả năng tích lũy sẽ gặp khó khăn, nguồn lực dành cho

XĐGN hạn chế. Cùng với lực lượng sản xuất ở trình độ thấp, cơ cấu kinh tế chậm

tiến bộ, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu; cơ cấu sản xuất trong nền kinh tế chậm

đổi mới, hàm lượng khoa học - công nghệ trong sản phẩm thấp thì tỷ trọng giá trị

gia tăng của sản phẩm là nhỏ, khả năng cạnh tranh trên thị trường là thấp, làm cho

thu nhập của người lao động giảm và khả năng thốt nghèo là khó khăn.

- Thu nhập của dân cư thấp và phân hóa thu nhập lớn là một bất lợi lớn đối

với người nghèo và công tác XĐGN nói chung. Các cuộc điều tra mức sống dân cư

gần đây cho thấy chênh lệch giàu nghèo, thu nhập giữa các nhóm dân cư ở nước ta

hiện nay có xu hướng gia tăng.

- Khả năng huy động nguồn lực vật chất là yếu tố rất quan trọng quyết định

sự thành công khi thực hiện các mục tiêu XĐGN. Để thực hiện các mục tiêu XĐGN

trên diện rộng và đạt được kết quả nhanh thì Nhà nước và bản thân các hộ nghèo

đều phải có nguồn lực. Về phía Nhà nước cần có nguồn lực đủ mạnh để thực hiện

các chương trình hỗ trợ như: xây dựng kết cấu hạ tầng thiết yếu cho xã nghèo, vùng

nghèo; hỗ trợ các doanh nghiệp để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH,

HĐH, tạo việc làm cho người lao động; hỗ trợ trực tiếp cho hộ nghèo về đời sống

khi gặp rủi ro, thiên tai và hỗ trợ phát triển sản xuất thơng qua các chương trình

khuyến nơng, đào tạo... Nguồn lực này phụ thuộc vào quy mô và tốc độ tăng trưởng



32



của nền kinh tế, tỷ lệ tích lũy và chính sách chi tiêu của chính phủ, khả năng vay nợ

của nước ngồi...

Về phía hộ gia đình, để thốt nghèo, họ cũng cần có nguồn lực để tự phấn

đấu vươn lên thốt nghèo. Nguồn lực của họ có thể là từ các nguồn hỗ trợ của Nhà

nước, của cộng đồng dân cư, vốn vay tín dụng và khả năng tích lũy của bản thân.

Tuy nhiên, khả năng tích lũy và vay tín dụng đối với người nghèo là rất khó khăn.

- Thị trường cũng là nhân tố tác động đến đói nghèo và XĐGN theo hai

khuynh hướng thuận lợi và khó khăn:

Nếu thị trường tương đối phát triển, nó sẽ tạo cơ hội cho các vùng, các hộ, các

cá nhân có điều kiện tiếp cận đầy đủ hơn các nguồn lực phát triển của xã hội và quan

trọng là giúp vùng nghèo, hộ nghèo vươn lên thoát nghèo. Bởi, trong nền kinh tế thị

trường, người ta buộc phải tính toán bằng giá trị cho mọi kết quả lao động và lợi ích

được chú trọng, trước hết là lợi ích cá nhân. Hơn nữa, cạnh tranh cũng thường xuyên

đặt con người vào thử thách năng lực nghề nghiệp, buộc con người phải tự khẳng định,

phải thường xuyên tự đổi mới và phát triển.

Ngược lại, nếu thị trường phát triển không đầy đủ, nhất là khi thị trường yếu

ớt hoặc không có thị trường, thì những hộ gia đình sống trong vùng có điều kiện

này gần như bị gạt ra khỏi vòng quay của tiến trình phát triển. Điều đó cũng đồng

nghĩa với việc họ khó có thể thốt ra khỏi tình trạng đói nghèo, vì thế đây là vấn đề

nan giải đối với vùng nghèo, hộ nghèo ở các khu vực miền núi, hẻo lánh.

Tuy nhiên, kinh tế thị trường cũng có mặt trái của nó, do chạy theo lợi

nhuận, tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá, tình trạng đói nghèo của một bộ phận dân

cư không được chú trọng giải quyết và dẫn đến phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu

sắc, dễ xảy ra xung đột giai cấp, xung đột xã hội.

Như vậy, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao là tiền đề nâng cao thu nhập và giảm

nghèo. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế cần đảm bảo cho mọi người đều có cơ hội

tham gia vào phát triển kinh tế sẽ giúp cho mọi người dân, trong đó có người nghèo

nâng cao thu nhập và mức sống và do vậy có khả năng thốt nghèo.

1.2.3.3. Nỗ lực vươn lên thoát nghèo



33



Bản thân người nghèo có đủ năng lực và ý chí vươn lên thốt nghèo là động

lực quyết định để thực hiện XĐGN thành công và bền vững. Trong cuộc sống, con

người sinh ra ai cũng phải hành động để mong đem lại lợi ích cho mình, mà trước

hết là để tồn tại. Nhưng mỗi con người lại có năng lực và ý chí khác nhau nên kết

quả hành động của họ trong những điều kiện giống nhau có thể khác nhau, đây là

nguồn gốc sâu xa của sự phân hóa giàu nghèo. Nhà nước và cộng đồng đã có những

cố gắng để hỗ trợ cho những người yếu thế. Nếu bản thân người nghèo biết nắm cơ

hội này để vươn lên, tự nâng cao năng lực của mình, quyết tâm thốt nghèo và vươn

lên làm giàu thì cơ hội thoát nghèo của họ sẽ cao hơn và kết quả XĐGN sẽ bền

vững. Ngược lại, nếu bản thân người nghèo khơng có ý chí vươn lên, trơng chờ ỷ

lại, khơng tận dụng được cơ hội thì khả năng thốt nghèo của họ sẽ rất khó khăn và

kết quả XĐGN sẽ thiếu bền vững.

Vì vậy, bản thân người nghèo phải tự vươn lên thốt nghèo thì mới đảm bảo

mục tiêu XĐGN thành công và vững chắc.

1.2.3.4. Điều kiện địa lý và tự nhiên

Xố- Vị trí địa lý khơng tḥn lợi: đó là những nơi xa xơi, hẻo lánh, giao

thơng đi lại khó khăn. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ đói nghèo

cao. Bởi những vùng, địa phương có vị trí khơng tḥn lợi dễ bị rơi vào thế cơ lập

với bên ngồi, khó tiếp cận với những nguồn lực để phát triển như: khoa học - cơng

nghệ, tín dụng, thị trường... Do đó, việc phát triển cơ sở hạ tầng, nhất là phát triển

hệ thống giao thơng có ý nghĩa lớn đối với sự nghiệp XĐGN.

- Đất đai không thuận lợi cho sản xuất: đất canh tác ít, cằn cỗi, khó canh tác,

năng xuất cây trồng, vật nuôi đều thấp. Đây là nguyên nhân dẫn đến sản xuất trong

nơng nghiệp gặp nhiều khó khăn, nhất là đối với những vùng thuần nông. Thiếu đất

sản xuất sẽ ảnh hưởng đến khả năng đảm bảo lương thực cho người nghèo và khả

năng đa dạng hóa sản xuất để hướng tới những cây trồng có giá trị kinh tế cao, dẫn

đến thu nhập của người nông dân thấp, kéo theo việc tích lũy và tái sản xuất mở

rộng bị hạn chế. Bởi vậy, người nghèo lại tiếp tục nghèo, việc tìm kiếm giải pháp

XĐGN cũng khó khăn hơn.



34



- Địa hình khó khăn: địa hình phức tạp, bị chia cắt bởi sông suối và núi đá,

đất dốc... Những vùng có địa hình như vậy việc tở chức sản xuất, kinh doanh và

dịch vụ gặp nhiều khó khăn. Đất bị xói mòn, dễ bị khơ hạn, chi phí sản xuất cao,

hiệu quả sản xuất thấp.

- Điều kiện tự nhiên khắc nhiệt, hay găp thiên tai như: hạn hán, lũ lụt, mưa

bão, sương muối, lũ quét... Những vùng có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, hay xảy

ra thiên tai làm cho việc XĐGN thiếu cơ sở bền vững. đói giảm nghèo trước hết là

bởn phận của chính người nghèo phải tự vươn lên và thốt nghèo. Trách nhiệm của

Chính phủ và cộng đồng là trợ giúp để người nghèo tự vươn lên thốt nghèo, hiệu

quả xố đói giảm nghèo sẽ đạt thấp, nếu bản thân người nghèo khơng tích cực và nở

lực phấn đấu vươn lên để có mức sống cao hơn. Vì vậy, xố đói giảm nghèo phải

được coi là sự nghiệp của bản thân người nghèo, cộng đồng nghèo, bởi vì sự nỗ lực

tự vươn lên để thốt nghèo chính là động lực, là điều kiện cần cho sự thành cơng

của mục tiêu chống nghèo đói ở các nước.

Nhà nước thực hiện nhiệm vụ trợ giúp người nghèo biết cách thoát nghèo và

tránh tái nghèo khi gặp rủi ro. Bên cạnh thực hiện một số chính sách hỗ trợ cụ thể

về xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất, trợ cấp khi cần thiết hỗ trợ tạo

việc làm cho người nghèo bằng cách hướng dẫn người nghèo sản xuất, kinh doanh

phát triển kinh tế theo điều kiện cụ thể của chính họ là điều kiện để thực hiện xố

đói giảm nghèo bền vững.

Các tở chức hội, đoàn thể là những người tham gia tuyên truyền, vận động để

truyền bá những chủ trương, chính sách của Nhà nước, hướng dẫn những kinh

nghiệm và kiến thức về xố đói giảm nghèo, tham gia giám sát việc tở chức thực

hiện các mục tiêu, nhiệm vụ chương trình xố đói giảm nghèo của quốc gia, của địa

phương. Cộng đồng dân cư và các đơn vị kinh tế, các tổ chức tài trợ hưởng ứng và

tham gia thực hiện các cuộc vận động về hỗ trợ người nghèo.

Như vậy, lực lượng tham gia xố đói giảm nghèo bao gồm: Nhà nước (Trung

ương và địa phương), các tổ chức xã hội, đoàn thể kinh tế – xã hội, cộng đồng dân

cư, các nhà tài trợ trong và ngoài nước và cá nhân người nghèo là nhân tố cơ bản.



35



Trong tiến trình phát triển, tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo có mối quan

hệ biện chứng. Tăng trưởng kinh tế tạo ra cơ sở, điều kiện vật chất để giảm nghèo.

Ngược lại, giảm nghèo là nhân tố đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế mang tính bền

vững. Tuy nhiên trong mối quan hệ này thì giảm nghèo vẫn là yếu tố chịu sự chi

phối, phụ thuộc vào yếu tố tăng trưởng kinh tế. Trong nền kinh tế, nếu tăng trưởng

kinh tế chịu tác động của các quy luật kinh tế như: quy luật giá trị, quy luật cung

cầu, cạnh tranh, lợi nhuận, năng suất lao động....thì giảm nghèo lại chịu tác động

quy luật phân hoá giàu nghèo, vấn đề phân phối và thu nhập, vấn đề lao động và

việc làm, các chính sách xã hội... Trong quá trình vận động các yếu tố, các quy luật

tác động lên tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo theo nhiều chiều hướng, có khi trái

ngược nhau. Do vậy, để đảm bảo được giữa tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo đòi

hỏi Nhà nước có sự can thiệp sao cho sự tác động của các quy ḷt có hướng đồng

tḥn. Đây là vấn đề khơng hề đơn giản và không phải quốc gia nào cũng làm được

trong quá trình phát triển.

Sau cùng, đitrình phát triển, tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo có mối quan

hệ biện chứng. Tăng trưởng Ởau cùng, đitrình phát triển, tăng trưởng kinh tế và

giảm nghèo có mối quan hệ biện chứng. Tăng trưởng kinh tế tạo ra cơ sở, điều kiện

1.2.4. 1.2.1.3. Đặc điểm của đói nghèo và xoáxóa đói giảm nghèo ở vùng miền

núi

1.2.1.3.11.2.4.1.. Đặc điểm của đói nghèo và người nghèo ở vùng núio

- Người nghèo chủ yếu là nơng dân, trình độ tay nghề thấp, ít khả năng tiếp

cận với nguồn lực trong sản xuất (vốn, kỹ thuật, cơng nghệ…), thị trường tiêu thụ

sản phẩm gặp nhiều khó khăn do điều kiện địa lý và chất lượng sản phẩm kém và

chủng loại, sản phẩm nghèo nàn thường không có điều kiện tiếp cận với hệ thống

thơng tin, khó có khả năng chuyển đởi việc làm sang các ngành phi nơng nghiệp.

Thời gian lao động của họ thì nhiều nhưng thu nhập lại thấp so với thu nhập của xã

hội do đó ít có cơ hội tiếp cận với các nguồn lực và lợi ích do chính sách mang lại.

- Đói nghèo mang tính chất vùng rất rõ rệt. Các vùng núi cao, vùng sâu, vùng

xa, vùng đồng bào dân tộc sinh sống, có tỷ lệ nghèo khá cao. Có tới 64% số người

nghèo tập trung tại các vùng miền núi phía bắc. Bắc trung bộSở, tây nguyên và



36



duyên hải miền trung. Đây là vùng có điều kiện sống khó khăn, địa hình cách biệt,

khả năng tiếp cận với các điều kiện sản xuất và dịch vụ còn hạn chế, hạ tầng cơ sở

kém phát triển, điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt và thiên tai thường xuyên xảy ra.

- Người nghèo ở vùng núi thường thiếu nhiều nguồn lực (đất đai, vốn, kỹ

thuật sản xuất), họ bị rơi vào vòng luẩn quẩn của đói nghèo và thiếu nguồn lực, họ

không thể đầu tư vào nguồn vốn nhân lực của họ. Ngược lại, nguồn vốn nhân lực

thấp lại cản trở họ thốt nghèo. Các hộ có ít đất sản xuất và tình trạng khơng có đất

sản xuất có xu hướng tăng lên, đặc biệt là ở miền núi phía Bắc và Tây nguyên.

Thiếu đất sản xuất làm ảnh hưởng đến sản xuất tự túc lương thực của người nghèo

cũng như gieo trồng cây trồng có giá trị cao và họ vẫn sản xuất theo phương thức tự

cung, tự cấp với phương pháp sản xuất truyền thống và mang lại giá trị thấp vì vậy

đưa họ vào vòng luẩn quẩn của sự nghèo khó. Bên cạnh đó đa số người nghèo chưa

có nhiều cơ hội tiếp cận với các dịch vụ sản xuất như: Khuyến nông, khuyến lâm,

bảo vệ dịch bệnh và đưa kỹ thuật mới vào sản xuất… khả năng tiếp cận nguồn vốn

tín dụng ưu đãi hạn chế. Mặt khác người nghèo thường sản xuất, ăn tiêu khơng có

kế hoạch hoặc sử dụng các nguồn vốn vay không đúng mục đích, do vậy họ khó có

điều kiện trả nợ các nguồn vốn vay (gốc và lãi) và cuối cùng làm cho họ càng nghèo

hơn.

- Người nghèo ở miền núi ít có cơ hội kiếm được việc làm tốt và ổn định.

Mức thu nhập của họ thấp hầu như chỉ đảm bảo cho nhu cầu cuộc sống tối thiểu và

do vậy khơng có điều kiện cải thiện cuộc sống hiện tại (nhà ở tạm bợ, dột nát, con

cái thất học, sức khoẻ khơng được chăm sóc…). Từ đó làm cho việc thốt nghèo trở

nên khó khăn hơn.

- Quy mơ hộ gia đình thường đơng con, tỷ lệ sinh đẻ của các hộ nghèo

thường rất cao. Đây là một trong những đặc điểm của các hộ nghèo ở miền núi, từ

đó mà tỷ lệ người ăn theo cao đồng nghĩa với thiếu lao động cũng chính là ngun

nhân đói nghèo của họ. Mặt khác các hộ gia đình nghèo ở miền núi nguy cơ dễ bị

tổn thương do ảnh hưởng của thiên tai và các rủi ro khác. Do đó, số hộ tái nghèo

trong tởng số hộ vừa thốt nghèo vẫn còn lớn và rất dễ bị tác động bởi các yếu tố rủi

ro như: thiên tai, mất việc làm và gia đình có người ốm đau dài ngày.



37



- Do trình độ học vấn thấp nên người nghèo khu vực miền núi, đặc biệt là

đồng bào dân tộc ít người, thường có khơng có khả năng tự giải quyết các vấn đề

vướng mắc có liên quan đến luật pháp. Nhiều văn bản pháp luật có cơ chế thực hiện

phức tạp, người nghèo khó nắm bắt, mạng lưới các dịch vụ pháp lý ở miền núi chưa

phát triển là thiệt thòi lớn cho người nghèo tiếp cận các chính sách ưu đãi của nhà

nước đối với họ.

1.2.1.3.21.2.4.2.. Đặc điểm của các xã nghèo ở vùng núi

- Về địa lý: các xã nghèo hầu hết là các xã vùng núi cao, xa trung tâm kinh tế

- xã hội, địa hình chia cắt, giao thơng đi lại khó khăn nhất là mùa mưa lũ, điều kiện

tự nhiên không thuận lợi, nhiều xã vùng cao thiếu nước sinh hoạt và sản xuất. Hàng

năm lũ quét thường xảy ra gây khó khăn cho sản xuất và đời sống nhân dân. Diện

tích tự nhiên rộng, nhưng diện tích đất sản xuất nơng nghiệp bình qn đầu người

thấp, đất xấu do bị bào mòn lớp mùn bề mặt…

- Về dân số và dân tộc: số lượng dân ít và phần lớn là đồng bào dân tộc thiểu

số, mật độ dân cư/km2 thấp, lại sống phân tán, thiếu tập trung, không theo quy

hoạch, không thuận lợi cho quy hoạch phát triển kinh tế xã hội. Vùng đồng bào dân

tộc thường có quy mơ gia đình cao hơn quy mơ gia đình trung bình, tỷ lệ trẻ em và

người già phải nuôi dưỡng cao. Ngược lại tỷ lệ lao động thấp kèm theo là tập tục lạc

hậu với chi phí tốn kém và ít có tích luỹ, nhất là đồng bào dân tộc ở các xã vùng

cao, tính theo thu nhập bình qn đầu người có thể khơng nghèo nhưng vẫn thiếu ăn

khi giáp hạt do chi tiêu khơng có kế hoạch.

- Về phát triển kinh tế - xã hội: Hầu hết các xã có trình độ phát triển kinh tế xã hội còn ở mức thấp, dựa vào sản xuất nông lâm là chủ yếu, kinh tế công nghiệp

và dịch vụ chưa phát triển, thu ngân sách thấp chưa đủ chi, hầu hết chi ngân sách

phải dựa vào ngân sách trung ương và của tỉnh hỗ trợ.

Tập quán canh tác còn lạc hậu, đa phần người dân còn sản xuất theo mơ hình

tự cung, tự cấp là chính, chỉ có một phần nhỏ để bán trên thị trường tại địa phương,

chưa có sản xuất hàng hố.

Là xã có đủ 2 tiêu chí: tỷ lệ hộ nghèo từ 25% trở lên và chưa có đủ 3 trong 6

cơng trình cơ sở hạ tầng thiết yếu cụ thể là: Dưới 30% số hộ được sử dụng nước



38



sạch, dưới 50% số hộ được sử dụng điện; chưa có đường ơ tơ đến xã, ơ tơ khơng đi

lại được cả năm, phòng học tranh tre, tạm bợ, chưa có nhà trạm y tế. Ngồi ra tỷ lệ

dân số trong độ t̉i khơng biết chữ và chưa tới trường còn cao, chất lượng giáo

dục, y tế còn thấp so với vùng nơng thơn đồng bằng, nhiều hủt tục như: ma chay,

cưới xin còn lạc hậu chưa được xốxóa bỏ.

- Về chất lượng đội ngũ cán bộSở cấp xã cũng rất thấp, hầu hết chưa hiểu

biết về quản lý kinh tế, quản lý các chương trình dự án và quản lý hành chính, họ

thường làm theo cảm tính, kinh nghiệm...trong việc quản lý các chương trình dự án

trên địa bàn xã.

- Bên cạnh đó, đặc điểm nội tại của các hộ nghèo, xã nghèo tại tỉnh Hà

Giang cũng chính là các nguyên ngân dẫn đến đối nghèo. Các nguyên nhân này do

đặc điểm của hộ gia định, đặc điểm vùng miền địa phương dẫn đến đói nghèo, cụ

thể:

+ Do nhận thức và trình độ dân trí, hiểu biết xã hội thấp.

+ Trình độ sản xuất lạc hậu, tự cung tự cấp, không tạo được sự chuyển biến

về kinh tế nên khơng có ý thức vươn lên.

+ Do điều kiện sống, sinh hoạt, tiếp xúc xã hội khép kín khơng được giao

lưu, trao đởi, so sánh nên tự bằng lòng với hiện tại, mang nặng tâm lý trơng chờ, ỷ

lại vào chính sách và sự cứu trợ của Nhà nước.

+ Chưa có ý thức mạnh dạn, quyết tâm tiếp thu cái mới, tiếp thu các biện

pháp kỹ thuật vào sản xuất.

1.2.4.3. BỔ SUNG đĐặc điểm về xóa đói giảm nghèo ở miền núi

Nghèo đói phổ biến trong những hộ có thu nhập thấp và bấp bênh

Mặc dù Việt Nam đã đạt được những thành công rất lớn trong việc giảm tỷ lệ

nghèo, tuy nhiên cũng cần phải thấy rằng, những thành tựu này vẫn còn rất mong

manh.

Thu nhập của một bộ phận lớn dân cư vẫn nằm giáp ranh mức nghèo, do vậy

chỉ cần những điều chỉnh nhỏ về chuẩn nghèo, cũng khiến họ rơi xuống ngưỡng

nghèo và làm tăng tỷ lệ nghèo.



39



Phần lớn thu nhập của người nghèo là từ nông nghiệp. Với điều kiện nguồn

lực rất hạn chế (đất đai, lao động, vốn), thu nhập của những người nghèo rất bấp

bênh và dễ bị tởn thương trước những đột biến của mỗi gia đình và cộng đồng.

Nhiều hộ gia đình tuy mức thu nhập ở trên ngưỡng nghèo, nhưng vẫn giáp ranh với

ngưỡng nghèo đói, do vậy, khi có những dao động về thu nhập cũng có thể khiến họ

trượt xuống ngưỡng nghèo. Tính mùa vụ trong sản xuất nơng nghiệp cũng tạo nên

khó khăn cho người nghèo. Mặc dù chỉ số nghèo đói có cải thiện, nhưng mức cải

thiện ở nhóm người nghèo chậm hơn so với mức chung và đặc biệt so với nhóm

người có mức sống cao. Hệ số chênh lệch mức sống giữa thành thị và nơng thơn

còn rất cao.

Nghèo đói tập trung ở các vùng có điều kiện sống khó khăn

Đa số người nghèo sinh sống trong các vùng tài nguyên thiên nhiên rất nghèo

nàn, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt như ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa hoặc ở các

vùng Trung du miền múi phía Bắc, Tây Nguyên, miền Trung do sự biến động của

thời tiết (bão, lụt, lũ quét, hạn hán...) khiến cho các điều kiện sinh sống và sản xuất

của người dân càng thêm khó khăn. Đặc biệt, sự kém phát triển về hạ tầng cơ sở của

các vùng nghèo đã làm cho các vùng này càng bị tách biệt với các vùng khác. Năm

2005, khoảng 20-30% trong tởng số 1.870 xã đặc biệt khó khăn chưa có đường dân

sinh đến trung tâm xã; 40% số xã chưa đủ phòng học; 5% số xã chưa có trạm y tế;

55% số xã chưa có nước sạch; 40% số xã chưa có đường điện đến trung tẫm xã;

50% chưa đủ cơng trình thủy lợi nhỏ. Bên cạch đó, do điều kiện thiên nhiên khơng

tḥn lợi, số người trong diện cứu trợ đột xuất hàng năm khá cao, khoảng 1-1,5

triệu người.

Tỷ lệ nghèo đói khá cao khu vực nông thông và ở các vùng sâu, vùng xa,

vùng núi cao

Nghèo đói là một hiện tượng phở biến ở nơng thôn với trên 90% số người

nghèo sinh sống ở nông thơn. Trên 80% số người nghèo là nơng dân, trình độ tay

nghề thấp, ít khả năng tiếp cận các nguồn lực trong sản xuất (vốn, kỹ thuật, công

nghệ...), thị trường tiêu thụ sản phẩm gặp nhiều khó khăn do điều kiện địa lý phức

tạp, chất lượng sản phẩm kém, chủng loại loại sản phẩm nghèo nàn. Những người



40



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

( Font chữ cần thống nhất, em nên nghiêm túc )

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×