Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU, VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU, VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hà Quế Lâm (2002) xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay - thực trạng và

giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội.

Qua hơn 15 năm thực hiện đường lối dổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo,

kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng, đời sống vật chất tinh thần của đại

Sở phận nhân dân được cải thiện tăng lên rõ rệt. Tuy vậy còn những nơi vùng sâu vùng xa còn khó khăn. Vì

vậy đối với Đảng và nhà nước ta xóa đói giảm nghèo là một trong những chủ trương quyết sách lớn và quan

trọng. Cuốn sách là một tài liệu bổ ích cho các cơ quan và các nhà hoạch định chính sách, cán Sở cơng chức

đang thực thi chính sách kinh tế xã hội.

Đức Quyết (2002), Một số chính sách quốc gia về việc làm và xóa đói giảm nghèo, NXBLao động, Hà

Nội.

Trong cuốn sách này tác giả đã hệ thống hóa giúp người đọc, nghiên cứu các chính sách về việc làm

và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam.

Năm 2002, Nguyễn Trung Tăng đã nghiên cứu với đề tài “Tín dụng cho người nghèo các quỹ xóa đói

giảm nghèo ở nước ta hiện nay”, tác giả đã đưa ra những đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tín

dụng cho nơng dân nghèo.

Shanks, Edwin, và Carrie Turk vào năm 2002 đã nghiên cứu với đề tài "Policy Recommendations

from the Poor", tổng hợp các kết quả điều tra, báo cáo khoa học chuẩn bị cho nhóm hành động chống

nghèo đói, đưa ra các khuyến nghị chính sách ban đầu cho việc xây dựng chiến lược tồn diện về tăng

trưởng và xóa đói giảm nghèo (CPRGS) của Việt Nam.

Vũ Minh Cường (2003) “Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm xóa đói giảm nghèo ở tỉnh

Hà Giang” luận văn tốt nghiệp cử nhân chính trị học, học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Vũ Cương (2005), chính sách đất đai cho tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo, Nxb, Văn hóa thông

tin Hà Nội.

Trong cuốn sách này tác giả đã khẳng định chính sách đất đai có tầm quan trọng thiết yếu đối với

tăng trưởng bền vững, giá trị qua hiệu quả phúc lợi và mở ra các cơ hội kinh tế cho người dân ở nông thôn

và thành thị đặc biệt là cho người nghèo. Ngày nay rất nhiều nước trên thế giới ngày càng quan tâm đến

chính sách đất đai và những kinh nghiệm của các nước thành công trong lĩnh vực này. Ngân hàng thế gới đã

cho xuất bản cuốn sách “Chính sách đất đai cho tăng trưởng và xóa đối giảm nghèo”. Cuốn sách này nhằm

giúp cho các cấp các ngành cũng như những người quan tâm nghiên cứu. Đây là tài liệu bổ ích cho việc vận

dụng vào giải quyết các vấn đề liên quan đến chính sách đất đai nơng nghiệp nơng thơn và giảm nghèo ở

nước ta hiện nay.

Hồng Thị Hiền (2005), “Xóa đói giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc ít người ở tỉnh Hòa Bình Thực trạng và giải pháp” Luận văn thạc sỹ kinh tế, học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Năm 2006, Ngơ Xn Quyết nghiên cứu với đề tài “Một số giải pháp chủ yếu nhằm xóa đói giảm

nghèo ở vùng Tây bắc giai đoạn 2006 - 2010” đã đưa ra những giải pháp XĐGN ở khu vực vùng núi Tây Bắc.

Phạm Gia Khiêm (2006) nhận diện đói nghèo theo tiêu chí mới ở Việt Nam, Tạp chí kinh tế và phát

triển, số 111, trang 8 - 12.



3



Năm 2007, Trung tâm thông tin và dự báo quốc gia - Sở kế hoạch và đầu tư đã xuất bản cuốn sách:

“Tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam- Thành tựu thách thức và giải pháp”, đói nghèo, thành tựu

cơng cuộc xóa đói giảm nghèo và đưa ra những giải pháp cụ thể để đẩy nhanh cơng cuộc xóa đói giảm

nghèo ở Việt Nam.

Thái Văn Hoạt (2007): “Giải pháp xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Quảng Trị giai đoạn hiện

nay” Luận văn thạc sỹ kinh doanh và quản lý học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Thủ tướng Chính Phủ (2008), Chỉ thị số 04/2008/Ct-TTg ngày 25/01/2008 về tăng cường chỉ đạo các

chương trình giảm nghèo, Hà Nội .

Nguyễn Thị Hoa (2011), Chính sách giảm nghèo ở Việt Nam đến năm 2015, Nxb Thông tin và truyền

thông Hà Nội giúp người đọc hệ thống những chính sách giảm nghèo hiện đang áp dụng ở Việt Nam trong

đó tập trung vào 4 chính sách chủ yếu, chính sách tín dụng ưu đãi hộ nghèo; Chính sách đầu tư cơ sở hạ

tầng xã nghèo; Chính sách hỗ trợ giáo dục cho người nghèo; và chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo.

Ngoài việc phân tích, đánh giá và phản ánh thực trạng thực hiện các chính sách, các tác giả còn đưa ra

những phương hướng nhằm hồn thiện các chính sách xóa đói giảm nghèo chủ yếu của Việt Nam đến năm

2015.

Ngồi ra, còn có một số cơng trình nghiên cứu, bài báo, tạp chí, đề tài nghiên cứu khác liên quan

đến nhiều khía cạnh khác nhau của XĐGN.

Cho đến nay, đã có nhiều cơng trình khoa học nghiên cứu về vấn đề xóa đói, giảm nghèo. Các cơng

trình này đều nghiên cứu hoặc một phạm vi rất rộng hoặc đi vào nghiên cứu một lĩnh vực rất cụ thể của đói

nghèo hay nghiên cứu đưa ra giải pháp mang tính đặc thù ở một vùng kinh tế hoặc tại một địa phương.



Bên cạnh những thành tựu đạt được, các nghiên cứu về giảm nghèo đã phân tích sâu

về những tồn tại hạn chế trong lĩnh vực giảm nghèo ở Việt Nam. Đặc biệt trong giai

đoạn hiện nay các nghiên cứu có xu hướng nhấn mạnh tới tính bền vững của kết quả

giảm nghèo trước các thách thức mới của nền kinh tế.

Tuy nhiên, chưa có một cơng trình nào nghiên cứu một cách tổng thể về công cuộc giảm nghèo

trên cơ sở đề xuất những giải pháp mang tính bền vững cao và định hướng chúng phục vụ những định

hướng xuyên suốt, lâu dài phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước từ nay đến năm

2020.về



công tác xóa đói giảm nghèo ở Hà Giang dưới góc độ quản lý kinh tế. Đây



chính là lý do tác giả lựa chọn chủ đề:

Giang”



“Xóa đói giảm nghèo ở các huyện biên giới của tỉnh Hà



làm đề tài luận văn thạc sỹ.

Kể từ khi chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo được Chính



phủ phê duyệt, cơng cuộc xóa đói giảm nghèo của Việt Nam đã trải qua ba giai

đoạn: 1998- 2000, 2001- 2005 và 2006- 2010 với những thành cơng nhất định, tỷ lệ

hộ đói nghèo của cả nước giảm xuống còn 22% năm 2005, và còn 14,2 % năm 2010



4



với chuẩn nghèo tương ứng (Bộ Lao động và Thương binh xã hôi, Quyết định 640,

2011).

Cho đến nay, đã có nhiều cơng trình nghiên cứu về cơng tác xóa đói giảm

nghèo nói chung, đã đề ra các cơ chế, chính sách cũng như tở chức thực hiện các

chương trình giảm nghèo. Cơng trình nghiên cứu của Vũ Thị Biểu (1996) đã đưa ra

những đề xuất giảm nghèo thông qua việc nâng cao hiệu quả sử dụng lao động. Tác

giả đã làm rõ thực trạng sử dụng lao động và hiệu quả sử dụng lao động ở nơng

thơn trong mối quan hệ với đói nghèo; đồng thời đề xuất một số quan điểm, phương

hướng và các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng lao động để góp phần xóa

đói giảm nghèo ở nơng thơn Việt Nam.

Trần Thị Hằng (2001) đã phân tích cơ sở lý luận về nghèo và giảm nghèo, từ

đó tác giả đưa ra phương hướng và giải pháp chủ yếu giảm nghèo ở nước ta hiện

nay.

Vậy giải quyết vấn đề giảm nghèo như thế nào ở Việt Nam hiện nay? Liệu có

phải là cách chia đều “Cái bánh của xã hội” để rốt cuộc làm cho cái bánh đó được

tái sản xuất nhỏ hơn? Tác giả cuốn sách này đã làm rõ thêm vấn đề giảm nghèo

đang là vấn đề cấp bách ở Việt Nam hiện nay.

Qua hơn 15 năm thực hiện đường lối dổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam

khởi xướng và lãnh đạo, kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và rất

quan trọng, đời sống vật chất tinh thần của đại bộ phận nhân dân được cải thiện tăng

lên rõ rệt. Tuy vậy còn những nơi vùng sâu vùng xa còn khó khăn. Vì vậy xóa đói

giảm nghèo là một trong những chủ trương quyết sách lớn và quan trọng. Cuốn sách

là một tài liệu bở ích cho các cơ quan và các nhà hoạch định chính sách, cán bộ

cơng chức đang thực thi chính sách kinh tế xã hội.

Đức Quyết (2002) đã hệ thống hóa giúp người đọc, nghiên cứu các chính

sách về việc làm và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam. Nguyễn Trung Tăng ( năm

nào) đã nghiên cứu đề tài về tín dụng cho người nghèo các quỹ xóa đói giảm nghèo

ở nước ta hiện nay, tác giả đã đưa ra những đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử

dụng vốn tín dụng cho nơng dân nghèo.



5



Shanks &Turk (2002) đã nghiên cứu về chương trình quốc gia về giảm đói

nghèo được Chính phủ Việt Nam bắt đầu từ năm 2001, theo đó Chính phủ đã đề ra

các cam kết bao gồm rất nhiều các thành phần bao gồm cộng động đói nghèo, các

cấp chính quyền địa phương và các cơng ty. Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư được

giao trọng trách đảm nhân vai trò chỉ đạo các bước cơng việc cụ thể, đề nghị ngân

hàng thế giới và một số các ngân hàng quốc tế khác để hỗ trợ cho các tở chức tư vấn

giảm đói nghèo ở các địa phương. Việc hỗ trợ được tiến hành ở 6 địa phương vùng

sâu vùng xa với nhiều hình thức đói nghèo. Trọng tâm của nghiên cứu này là đưa ra

các phương pháp cho các tở chức tư vấn giảm đói nghèo thông qua việc tổng hợp

các kết quả điều tra, báo cáo khoa học chuẩn bị cho nhóm hành động chống nghèo

đói, đưa ra các khuyến nghị chính sách ban đầu cho việc xây dựng chiến lược toàn

diện về tăng trưởng và xố đói giảm nghèo (CPRGS) của Việt Nam.

Vũ Minh Cường (2003) đã đánh giá được thực trạng và đưa ra các giải pháp

để tăng cường cơng tác xóa đói giảm nghèo trong giai đoạn 2000 – 2005. Vũ Cương

(2005) đã khẳng định chính sách đất đai có tầm quan trọng thiết yếu đối với tăng

trưởng bền vững, giá trị qua hiệu quả phúc lợi và mở ra các cơ hội kinh tế cho

người dân ở nông thôn và thành thị đặc biệt là cho người nghèo. Ngày nay rất nhiều

nước trên thế giới ngày càng quan tâm đến chính sách đất đai và những kinh

nghiệm của các nước thành công trong lĩnh vực này. Ngân hàng Thế giới (1995) cho

rằng chính sách đất đai có vai trò quan trọng với xóa đói giảm nghèo. Đây là tài liệu

bở ích cho việc vận dụng vào giải quyết các vấn đề liên quan đến chính sách đất đai

nơng nghiệp nơng thôn và giảm nghèo ở nước ta hiện nay.

Ngô Xuân Quyết (2006) đã đưa ra những giải pháp XĐGN ở khu vực vùng

núi Tây Bắc. Trung tâm thông tin và dự báo quốc gia (2007) đã đánh giá thành tựu

thách thức và giải pháp để giảm đói nghèo, thành tựu cơng cuộc xóa đói giảm nghèo

và đưa ra những giải pháp cụ thể để đẩy nhanh cơng cuộc xóa đói giảm nghèo ở

Việt Nam.

Nguyễn Thị Hoa (2011) đã giúp người đọc hệ thống những chính sách giảm

nghèo hiện đang áp dụng ở Việt Nam trong đó tập trung vào 4 chính sách chủ yếu,

chính sách tín dụng ưu đãi hộ nghèo; Chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng xã nghèo;



6



Chính sách hỗ trợ giáo dục cho người nghèo; và chính sách hỗ trợ y tế cho người

nghèo. Ngồi việc phân tích, đánh giá và phản ánh thực trạng thực hiện các chính

sách, các tác giả còn đưa ra những phương hướng nhằm hồn thiện các chính sách

xóa đói giảm nghèo chủ yếu của Việt Nam đến năm 2015.

Tuyên và cộng sự (2015) đã tiến hành một nghiên cứu sử dụng phương pháp

kinh tế lượng vi mô để đánh giá tác động của các nhân tố cấp hộ và cộng đồng tới

khả năng rơi vào nghèo và mức độ độ nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số vùng

Tây Bắc. Nhóm tác giả này phát hiện ra rằng giáo dục và việc làm phi nơng nghiệp

có vai trò quan trọng hàng đầu giúp các hộ thoát nghèo và giảm nghèo. Bên cạnh

đó, họ cũng phát hiển ra rằng các xã có hệ thống đường bộ và phương tiện vận tải,

bưu điện và làng nghề sẽ giúp cho người dân trong xã đó thốt nghèo và giảm độ

sâu của nghèo. Nghiên cứu này có những hàm ý chính sách quan trọng về vai trò

của giáo dục, việc làm phi nơng nghiệp và cơ sở hạ tầng trong cơng tác xóa đói

giảm nghèo ở vùng Tây Bắc.

Cho đến nay, đã có nhiều cơng trình khoa học nghiên cứu về vấn đề xóa đói,

giảm nghèo. Các cơng trình này đều nghiên cứu hoặc một phạm vi rất rộng hoặc đi

vào nghiên cứu một lĩnh vực rất cụ thể của đói nghèo hay nghiên cứu đưa ra giải

pháp mang tính đặc thù ở một vùng kinh tế hoặc tại một địa phương. Bên cạnh

những thành tựu đạt được, các nghiên cứu về giảm nghèo đã phân tích sâu về những

tồn tại hạn chế trong lĩnh vực giảm nghèo ở Việt Nam. Đặc biệt trong giai đoạn hiện

nay các nghiên cứu có xu hướng nhấn mạnh tới tính bền vững của kết quả giảm

nghèo trước các thách thức mới của nền kinh tế.

Việc tổng quan tài liệu cho thấy mặc dù đã có nhiều cơng trình nghiên cứu

về xóa đói giảm nghèo ở các nước cũng như một số vùng và địa phương ở Việt

Nam, hiện chưa có cơng trình nào nghiên cứu về địa bàn Hà Giang trong những

năm gần đây (2010-2014). Đây chính là lý do tác giả lựa chọn đề tài luận văn thạc

sỹ chuyên ngành quản lý kinh tế với tựa đề: ” Xóa đói, giảm nghèo tại tỉnh Hà

Giang”.



7



1.2. Cơ sở lý luận về nghèo đói và xóa đói giảm nghèo Cơ sở lý luận

1.2.1. Một số vấn đề chung về nghèo đóiĐặc điểm của đói nghèo và xóa đói

giảm nghèo ở miền núi

1.2.1.1. Bản chất và tiêu chí xác định đói nghèoo

1.2.1.1.1. Quan niệm về đói nghèo

Đói nghèo là một hiện tượng xã hội bức xúc hiện nay trên thế giới nói chung và ở Việt Nam

nói riêng, khơng những có thể gây ra thảm hoạ về nhân đạo, mà còn có nguy cơ gây bất ổn xã hội. Nghèo đói

thể hiện ở tình trạng kiệt quệ của một bộ phận dân cư bao gồm nhiều khía cạnh, từ thu nhập kém tới tình

trạng dễ bị tổn thương khi phải đối mặt với những tai ương bất ngờ, hoặc ít có khả năng tham gia vào q

trình ra quyết định của cộng đồng. Nghèo đói là một phạm trù lịch sử và có tính tương đối. Tính chất và đặc

trưng của nghèo đói phụ thuộc vào điều kiện địa lý tự nhiên, hồn cảnh chính trị, trình độ phát triển kinh tế

- xã hội và văn hoá của vùng, miền, quốc gia, khu vực trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định.



Hội nghị bàn về giảm nghèo đói trong khu vực châu Á- Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức ở Băng

Cốc tháng 9-1993 đã đưa ra khái niệm và định nghĩa nghèo đói như sau:



"Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn

những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ

phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của các địa phương".

Có thể xem đây là một quan niệm, một định nghĩa chung nhất về nghèo đói,

tuy nhiên, những tiêu chí về nghèo đói còn để ngỏ về mặt lượng vì ở đây còn phải

tính đến yếu tố lịch sử, đến trình độ phát triển kinh tế, phong tục tập quán của mỗi

địa phương. Song có thể nói, định nghĩa đã đề cập được đến nội dung cơ bản của

vấn đề nghèo đói đó là nhu cầu cơ bản của con người.

Nhu cầu cơ bản ở đây chính là cái thiết yếu, cái tối thiểu để duy trì sự tồn tại

sinh học của con người. Theo ý đó, đói là tình trạng nghèo khở cùng cực, là trạng

thái con người ăn không đủ no, không đủ năng lượng để duy trì sự sống bình

thường và khơng đủ để lao động, tái sản xuất sức lao động.

Đói là sự nghèo nàn hiển nhiên và nghèo là một sự đói tiềm tàng và ln

đứng trước khả năng bị đói, trong thực tế nhất là khi lâm vào tình trạng thiên tai, rủi

ro, hoạn nạn thì trạng thái nghèo khở sẽ trở thành đói.

Nghèo có hai dạng, là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối.



8



Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư thường trực khơng có khả

năng thoả mãn các nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống. Trên thực tế một bộ phận

lớn dân cư nghèo tuyệt đối rơi vào tình trạng đói và thiếu đói.

Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức

trung bình của cộng đồng tại địa phương.

Như thế, sự thiếu thốn "của cải" trong mối quan hệ với nhu cầu thiết yếu của

con người được xem là nghèo khở tuyệt đối. Còn khi xem xét thực trạng mức sống

và vị trí (về kinh tế - xã hội) các nhóm hoặc các cá nhân khác ở phương diện mức

độ tiêu thụ và thu nhập của họ, cơ hội tiếp cận các nguồn lực... sẽ cho ta quan niệm

về nghèo tương đối.

Ngoài ra, Liên Hợp Quốc cũng đưa ra chỉ tiêu để đánh giá mức sống của con

người bao gồm cả thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người, thành tựu y tế xã hội và trình độ văn hố giáo dục, tởng hợp lại là chỉ số phát triển con người Human Development Index (gọi tắt là HDI).

HDI bao gồm ba yếu tố cơ bản của sự phát triển con người: t̉i thọ, trình độ

và mức sống. Tuổi thọ được phản ánh bằng số năm sống trung bình của người dân.

Trình độ được đo bằng cách kết hợp tỷ lệ biết chữ của người trưởng thành (với

trọng số là 2/3 của chỉ số trình độ) với số năm đi học trung bình của mỗi người (với

trọng số tương ứng là 1/3). Mức sống được đo lường theo mức GDP thực tế bình

quân đầu người tính theo sức mua tương đương (PPP) của mỗi quốc gia. Theo số

liệu của UNDP, HDI của nước ta năm 2013 là 0,650 đứng thứ 127/180; các nước có

chỉ số phát triển con người cao là từ 0,801 trở lên, còn mức trung bình là từ 0,505

đến 0,797; dưới 0,506 là các nước có chỉ số phát triển con người thấp. Chỉ số này

cao nhất là 1. Năm 1989 nước có chỉ số cao nhất là Canađa đạt 0,935.

Sự kết hợp giữa chỉ tiêu HDI và chỉ tiêu GDP/ người như đã nêu ở trên cho

phép chúng ta đánh giá, nhận diện đói nghèo một cách khách quan và chính xác

hơn.

Đói nghèo còn được nhận diện ở bốn khía cạnh là thời gian, không gian, môi

trường và giới.



9



Về thời gian: Phần lớn người nghèo có mức sống dưới mức được xác định

như một chuẩn thấp nhất có thể chấp nhận được trong một thời gian dài(tuy nhiên

cũng cần phải bổ sung vào số người này những người nghèo tình thế do thất nghiệp,

do thiên tai, rủi ro hay do con người gây ra).

Về giới: Phần lớn người nghèo ở các nước đều là phụ nữ. Mặc dù trong gia

đình, nam giới là chủ gia đình, nhưng phụ nữ vẫn phải gánh chịu nhiều hơn gánh

nặng của nghèo đói.

Về khơng gian: nghèo đói diễn ra chủ yếu ở nơng thơn, miền núi,vùng sâu,

vùng xa... dù nền kinh tế có phát triển đến thế nào chăng nữa dân cư ở các vùng kể

trên vẫn dễ bị rơi vào nghèo đói.

Về mơi trường: hầu hết những người nghèo đói đều phải sống trong mơi

trường khắc nghiệt và xuống cấp nghiêm trọng, bởi vì những người nghèo đói

khơng đủ khả năng và điều kiện để gìn giữ, đảm bảo và cải thiện mơi trường sống.

Tóm lại: Những quan niệm về nghèo đói do cách tiếp cận khác nhau nên có

những kiến giải khác nhau, sự nghèo đói là một khái niệm tương đối và có tính biến

đởi. Các chỉ số xác định giới hạn nghèo đói khơng phải là cứng nhắc và bất biến. Nó

biến đởi tuỳ theo sự chênh lệch, sự khác biệt giữa các vùng, miền, quốc gia.

Quan niệm đói nghèo của Việt Nam: Dựa trên các khái niệm của các tổ chức

quốc tế, Việt Nam đã đưa ra các khái niệm cụ thể hơn và được nghiên cứu ở các cấp

độ, cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng. Chương trình mục tiêu quốc gia về XĐGN

giai đoạn 2001 - 2010 của Việt Nam đã đưa ra các khái niệm. Nghèo, đói, hộ đói, hộ

nghèo, vùng nghèo.... và có các tiêu chí xác định cho từng loại cụ thể.

Về khái niệm nghèo của Việt Nam thì cơ bản thống nhất với khái niệm nghèo

đói của ESCAP:

- Nghèo: là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn một

phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức

sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện.

- Đói: là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối

thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu và vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là

các hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ 1 đến 3 tháng, thường vay mượn cộng



10



đồng và thiếu khả năng chi trả. Giá trị đồ dùng trong nhà không đáng kể, nhà ở dốt

nát, con thất học, bình quân thu nhập dưới 13kg gạo/người/tháng (tương đương

45.000VND).

. ( Trình bày khái niệm nghèo ở đây)

Đói là tình trạng của một bộ phận cư dân nghèo có mức sống dưới mức tối

thiểu và thu nhập không đủ bảo đảm nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là

những hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ một đến hai tháng, thường vay

mượn của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả cho cộng đồng. Đói là nấc thang thấp

nhất của nghèo, đây vốn thuần tuý là đói ăn, nằm trọn trong phạm trù kinh tế vật

chất và khác với đói thơng tin, đói hưởng thụ văn hố, thuộc phạm trù văn hố tinh

thần.

Khái niệm đói cũng có hai dạng: đói kinh niên và đói cấp tính (đói gay gắt).

- Đói kinh niên: là bộ phận dân cư đói nhiều năm liền cho đến thời điểm

đang xét.

- Đói cấp tính: là bộ phận dân cư rơi vào tình trạng đói đột xuất do nhiều

nguyên nhân như gặp tai nạn, thiên tai, rủi ro khác tại thời điểm đang xét.

- Hộ đói: là hộ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái khơng được học

hành đầy đủ, ốm đau khơng có tiền chữa bệnh, nhà cửa rách nát....

- Hộ nghèo: là hộ đói ăn nhưng khơng đứt bữa, mặc khơng đủ lành, khơng đủ

ấm, khơng có khả năng phát triển sản xuất.

- Xã nghèo: là xã có tỷ lệ nghèo cao, (Có tỷ lệ nghèo từ 25% trở lên) khơng

có hoặc rất thiếu những cơ sở hạ tầng thiết yếu như: Điện, đường, trường, trạm y tế,

nước sạch vv...trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ cao.

- Vùng nghèo: là địa bàn tương đối rộng, nằm ở những khu vực khó khăn

hiểm trở, giao thơng khơng tḥn tiện, có tỷ lệ xã nghèo, hộ nghèo cao.

*



Các



tiêu



chí



đánh



giá



nghèo



+ Cách tiếp cận tiền tệ:

Nếu hiểu theo nghĩa hẹp, cách tiếp cận tiền tệ thường được sử dụng kết

hợp với ngưỡng nghèo và dựa trên chỉ tiêu thu nhập hoặc tiêu dùng để quy cho đói



11



nghèo một giá trị tiền tệ. Những người có thu nhập nằm dưới ngưỡng nghèo thì

được coi là nghèo.

Tở chức Y tế Thế giới WHO cũng định nghĩa nghèo theo tiêu chí thu

nhập. Theo đó, một người được coi là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn

một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm của quốc gia (chỉ

số Per Capita Income, PCI) (Nguyễn Thị Hoa (2011))

Cách tiếp cận này có ưu điểm là dễ đo lường vì số lượng tiền tệ dễ xác

định, vì vậy nó được sử dụng khá phở biến mặc dù chỉ xem xét đói nghèo

theo nghĩa hẹp. Tuy nhiên nó cũng có nhược điểm ở chỗ nó dựa vào giả thiết

người nghèo sử dụng thu nhập của mình theo cách hiệu quả nhất để mua

những hàng hóa như thực phẩm, nhà ở, quần áo, giáo dục, y tế ở mức cơ bản

chứ khơng bao gồm những hàng hóa mà khơng thật sự thiết yếu cho cuộc

sống. Ngoài ra, thu nhập thực tế của người nghèo có thể dao động lên trên

hoặc xuống dưới ngưỡng nghèo ở những thời điểm khác nhau do nhiều yếu tố

tác động nên có khi họ được coi là người nghèo, có lúc khơng.

Như vậy, với quan niệm của trường phái này thì để loại bỏ đói nghèo,

các biện pháp xóa đói giảm nghèo (XĐGN) cần định hướng vào mục đích

tăng thu nhập, nâng cao mức sống cho người nghèo như tạo công ăn việc làm,

cải tiến nâng cao năng suất lao động.

Sở dĩ tiêu chí đánh nghèo đói tiền tệ được cho là chỉ tìm hiểu đói nghèo theo

nghĩa hẹp bởi trên thực tế, những nhu cầu của con người không chỉ bao gồm yếu tố

vật chất, thu nhập mà còn gồm nhiều yếu tố phi tiền tệ khác.

+ Cách tiếp cận về năng lực:

Cách tiếp cận về năng lực chú trọng vào sự tự do của con người và một

cuộc sống có giá trị thì định nghĩa đói nghèo là sự thất bại trong việc đạt tới

những khả năng, năng lực cơ bản và tối thiểu trong cuộc sống.

Chỉ số HPI (chỉ số nghèo khổ con người) do Liên Hợp Quốc đưa ra

cũng dựa trên cơ sở cách tiếp cận về năng lực để phản ánh đói nghèo theo ba

yếu tố năng lực điển hình là tuổi thọ, hiểu biết và mức sống. Trên thực tế, rất

nhiều nhà học giả đã cố gắng liệt kê đầy đủ các năng lực mà con người hướng



12



tới trong cuộc sống song hầu như chưa có nghiên cứu nào bao quát được tất

cả bởi tính đa dạng và phong phú của chúng.

Như vậy, có thể dễ dàng thấy rằng vấn đề thu nhập được đề cập đến

trong cách tiếp cận tiền tệ chỉ là một phần trong số các yếu tố năng lực, và vì

vậy, cách tiếp cận đói nghèo trên phương diện năng lực của con người có ưu

điểm là phản ánh đầy đủ, sâu sát và chính xác hơn tình trạng nghèo đói của

con người. Bởi thế, đây là cách tiếp cận về đói nghèo được sử dụng rộng rãi

nhất về mặt lý thuyết. Tuy nhiên, cách tiếp cận này khơng phải là khơng có

nhược điểm, mà nhược điểm đó được thể hiện rõ nhất ở mặt áp dụng trong

thực tế để nghiên cứu về đói nghèo. Điểm yếu của cách tiếp cận này là khó

xác định được đầy đủ số lượng cũng như mức độ của các khả năng để đánh

giá tình trạng nghèo khở trong thực tiễn. Thực tế, việc đo lường đói nghèo

theo cách hiểu này thường chỉ sử dụng một số khả năng cơ bản dễ được định

lượng như cách tính chỉ số HPI của Liên Hợp Quốc được đề cập đến ở trên (Vũ

Tuấn Anh (1997)).

+ Cách tiếp cận mang tính tham gia:

Cách tiếp cận này khuyến khích người nghèo tham gia vào việc ra quyết

định và đánh giá thế nào là đói nghèo, mức độ ảnh hưởng quan trọng đến

cuộc sống của chính họ và họ cần phản ứng lại như thế nào đối với đói nghèo.

Mục đích của nó là giúp cho người nghèo có thể chia sẻ, phân tích và tăng

thêm hiểu biết về cuộc sống và điều kiện sống để họ lập được kế hoạch hành

động cho mình. Cách tiếp cận này nhìn vào đói nghèo từ nhiều phương diện:

xã hội, kinh tế, văn hóa, chính trị và phòng vệ, và do đó, nó cung cấp một cái

nhìn đa dạng, nhiều mặt về đói nghèo.

1.2.1.1.2b. Tiêu chí xác định chuẩn nghèo

Theo từ điển tiếng Việt thì tiêu chí và chuẩn có các nghĩa sau đây:

Tiêu chí có nghĩa là: Tính chất, dấu hiệu làm căn cứ để nhận biết, xếp loại

một sự vật, một khái niệm: (Tổng cục Thống kê (2012)) Như vậy, tiêu chí mang tính

định tính.



13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU, VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×