Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Thực tiễn về thế chấp quyền đòi nợ để đảm bảo tiền vay tại các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay

2 Thực tiễn về thế chấp quyền đòi nợ để đảm bảo tiền vay tại các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay

Tải bản đầy đủ - 0trang

(bên thế chấp), điều kiện đối với bên có nghĩa vụ thanh tốn, tỷ lệ cấp tín dụng tối

đa tính trên giá trị quyền đòi nợ …

Tùy thuộc vào quan điểm, nhận thức về rủi ro của mình mà mỗi Ngân hàng

thương mại quy định những điều kiện nhất định đối với hợp đồng phát sinh quyền

đòi nợ. Nếu Ngân hàng Techcombank và Ngân hàng SHB đồng ý nhận thế chấp

quyền đòi nợ phát sinh từ cả hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng cung ứng

dịch vụ thì Ngân hàng VPBank lại chỉ đồng ý nhận thế chấp quyền đòi nợ phát sinh

từ hợp đồng mua bán hàng hóa. Như vậy, rõ ràng khẩu vị rủi ro của VPBank là chặt

chẽ hơn so với hai ngân hàng còn lại, điều này cũng hồn tồn dễ hiểu và có cơ sở.

Thật vậy, bản chất quyền đòi nợ là quyền u cầu bên có nghĩa vụ thanh tốn cho

bên cung ứng hàng hóa/dịch vụ một khoản tiền sau khi bên này đã bàn giao hàng

hóa, cung ứng dịch vụ theo đúng các điều kiện, quy định tại hợp đồng đã ký kết

giữa các bên. Nếu như đối với hàng hóa, các bên có thể căn cứ vào các tiêu chuẩn

của hàng hóa được quy định tại hợp đồng đã ký như màu sắc, kích thước, chất liệu,

kiểu dáng … để xác định hàng hóa bàn giao đã đáp ứng quy định tại hợp đồng hay

chưa một cách khá dễ dàng thì đối với dịch vụ, bản thân việc mơ tả về chất lượng

dịch vụ trong hợp đồng đã tiềm ẩn khả năng xảy ra tranh chấp rất cao vì các tiêu chí

xác định điều kiện, tiêu chuẩn đối với dịch vụ được cung ứng là các tiêu chí mang

tính định tính, ví dụ: thoải mái, sang trọng, lịch sự … Do không thể đong đếm được

nên khả năng xảy ra tranh chấp giữa bên cung ứng và bên sử dụng dịch vụ là khá

cao và việc thực hiện hợp đồng chủ yếu phụ thuộc vào thái độ, thiện chí của các

bên. Khi hợp đồng phát sinh quyền đòi nợ xảy ra tranh chấp thì đương nhiên việc

xử lý tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ của bên nhận thế chấp sẽ gặp phải rất nhiều

khó khăn. Vì lý do đó, một số ngân hàng thương mại mà điển hình là VPBank

khơng đồng ý nhận thế quyền đòi nợ phát sinh từ hợp đồng cung ứng dịch vụ.

Mặc dù có sự khác biệt trong quan điểm về rủi ro trong việc nhận thế chấp

quyền đòi nợ nhưng các Ngân hàng thương mại lại tương đối đồng thuận trong việc

xác định các điều kiện, tiêu chuẩn đối với bên có nghĩa vụ thanh toán, điều kiện,

tiêu chuẩn đối với khách hàng (bên thế chấp), cụ thể:



52



Thứ nhất: Điều kiện đối với khách hàng

-



Khách hàng phải là doanh nghiệp, tổ chức và chỉ giới hạn một số loại hình



-



doanh nghiệp, tổ chức nhất định.

Khách hàng phải được xếp hạng tín dụng từ mức tốt trở lên.

Khách hàng phải đáp ứng tiêu chí về khả năng tài chính: kinh doanh có lãi

trong vòng ít nhất 2 năm tài chính gần nhất, đạt được mức doanh thu nhất

định.

Có thể thấy rằng các điều kiện đối với khách hàng được các ngân hàng



thương mại chấp thuận cho vay bảo đảm bằng quyền đòi nợ chặt chẽ hơn rất nhiều

so với các khách hàng vay vốn bảo đảm bằng các loại tài sản bảo đảm khác. Điều

này cho thấy các Ngân hàng thương mại đều hướng tới đối tượng khách hàng có

khả năng trả nợ cao và không mong muốn phải xử lý tài sản bảo đảm là quyền đòi

nợ để thu hồi khoản cấp tín dụng. Động thái này của các Ngân hàng thương mại là

bằng chứng xác thực để chứng minh tâm lý e ngại trước các khó khăn có thể gặp

phải trong việc xử lý tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ.

Thứ hai: Điều kiện đối với bên có nghĩa vụ thanh tốn

Trong giao dịch thế chấp quyền đòi nợ, bên có nghĩa vụ thanh tốn có thể

tham gia giao kết hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ hoặc khơng tham gia, nhưng dù

có tham gia hay khơng thì chủ thể này cũng đóng vai trò rất quan trọng trong việc

thực hiện hợp đồng này. Đối với các giao dịch thế chấp các loại tài sản khác, bên

thế chấp vẫn có thể tự mình xử lý tài sản bảo đảm nếu bên thế chấp không hợp tác,

nhưng riêng với giao dịch thế chấp quyền đòi nợ, vai trò quyết định lại khơng nằm ở

bên thế chấp mà thuộc về bên thứ ba – bên có nghĩa vụ trả nợ. Nếu bên có nghĩa vụ

trả nợ khơng thực hiện nghĩa vụ thì bên nhận thế chấp khơng có cách thức nào để có

thể tịch thu các tài sản khác của bên có nghĩa vụ trả nợ mà chỉ có một lựa chọn duy

nhất là khởi kiện. Như vậy, việc bên nhận thế chấp có thể xử lý được tài sản bảo

đảm hay khơng gần như phụ thuộc hoàn toàn vào thái độ, sự hợp tác, thiện chí của

bên có nghĩa vụ trả nợ. Chính vì lý do này nên các Ngân hàng thương mại cần xem

xét khá kỹ lưỡng tư cách, thiện chí của bên có nghĩa vụ trả nợ và đặt ra khá nhiều

điều kiện đối với chủ thể này, bao gồm nhưng khơng giới hạn các điều kiện như:

53



-



Bên có nghĩa vụ trả nợ phải là các công ty lớn, các tập đồn kinh tế, các tổng



-



cơng ty hoặc các cơ quan nhà nước;

Có tình hình tài chính lành mạnh, hoạt động hiệu quả (có lãi) và doanh thu



-



đạt được các mức tối thiểu do các ngân hàng thương mại đặt ra;

Được các tổ chức đánh giá tín nhiệm uy tín xếp hạng, đánh giá tốt;

Có thời gian hoạt động lâu dài trong lĩnh vực mà cơng ty, tổ chức đó đang

hoạt động.

Thứ ba: Điều kiện đối với hợp đồng phát sinh quyền đòi nợ

Như đã phân tích ở các phần trên, cơ sở để các bên xác định bên có nghĩa vụ



thanh tốn có phải thực hiện thanh tốn cho bên bán hàng/bên cung ứng dịch vụ hay

khơng chính là hợp đồng được ký kết giữa các bên. Do đó, để xem xét tính hợp lệ,

hợp pháp của quyền đòi nợ thì yếu tố tiên quyết phải xem xét là tính hiệu lực của

hợp đồng phát sinh quyền đòi nợ đó. Vì lý do này, việc đưa ra các điều kiện đối với

hợp đồng phát sinh quyền đòi nợ được các Ngân hàng thương mại rất chú trọng.

-



Hợp đồng có hiệu lực và hợp pháp: hợp đồng mua bán hàng hóa/cung ứng

dịch vụ ký kết giữa các bên được coi là có hiệu lực và hợp pháp khi đáp ứng

đầy đủ các điều kiện sau đây:

+

Hợp đồng được phê duyệt bởi cấp có thẩm quyền của các bên;

+

Hợp đồng được ký kết bởi người đại diện có thẩm quyền (đại diện

+



theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền) của các bên;

Nội dung và mục đích của Hợp đồng khơng vi phạm điều cấm của



+



pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

Hợp đồng phải được công chứng/chứng thực, đăng ký nếu pháp luật



-



quy định bắt buộc.

Nếu hợp đồng phát sinh quyền đòi nợ là hợp đồng mua bán thì hợp đồng



-



mua bán đó phải là hợp đồng mua đứt bán đoạn;

Hợp đồng phát sinh quyền đòi nợ khơng có thỏa thuận hạn chế hoặc cấm



-



chuyển nhượng quyền đòi tiền;

Hợp đồng phát sinh quyền đòi nợ phải quy định cụ thể thời hạn thực hiện

nghĩa vụ thanh tốn của bên có nghĩa vụ thanh tốn.

Ngồi các điều kiện nêu trên, để đảm bảo kiểm sốt chặt chẽ số tiền bên có



nghĩa vụ thanh toán cho bên bán/bên cung ứng dịch vụ, một số Ngân hàng thương

mại còn yêu cầu hợp đồng phát sinh quyền đòi nợ phải quy định rõ phương thức

54



thanh toán duy nhất là chuyển khoản vào tài khoản của bên bán/bên cung ứng dịch

vụ mở tại ngân hàng nhận thế chấp quyền đòi nợ.

Thứ tư: Điều kiện đối với bộ hồ sơ thế chấp quyền đòi nợ

Trong giao dịch thế chấp quyền đòi nợ, hệ quả pháp lý xấu nhất là bên được

bảo đảm không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ được bảo đảm và

bên nhận thế chấp phải xử lý quyền đòi nợ. Khi đó, để có thể yêu cầu bên có nghĩa

vụ thanh tốn cho mình giá trị của hợp đồng phát sinh quyền đòi nợ, bên nhận thế

chấp cần có trong tay các chứng từ, chứng cứ chứng minh bên thế chấp có quyền

u cầu bên có nghĩa vụ thanh tốn số tiền quy định tại hợp đồng phát sinh quyền

đòi nợ, đồng thời cung cấp cho bên có nghĩa vụ thanh toán các chứng từ chứng

minh bên bán hàng/cung ứng dịch vụ đã hoàn thành nghĩa vụ với bên mua/bên sử

dụng dịch vụ. Để đảm bảo quyền chủ động khi phải xử lý quyền đòi nợ, tại thời

điểm nhận thế chấp quyền đòi nợ, các Ngân hàng thương mại sẽ yêu cầu bên thế

chấp cung cấp đầy đủ các hồ sơ, chứng từ nêu trên. Các chứng từ, hồ sơ đề nghị

thanh toán cụ thể đối với từng trường hợp được xác định dựa trên nội dung của hợp

đồng phát sinh quyền đòi nợ. Tuy nhiên, hồ sơ thế chấp quyền đòi nợ theo quy định

của các Ngân hàng thương mại thông thường bao gồm các chứng từ sau:

-



Biên bản giao nhận hàng hóa/Biên bản nghiệm thu trong đó thể hiện được số

lượng/khối lượng hàng hóa giao/dịch vụ đã cung cấp phù hợp với quy định



-



tại hợp đồng/đơn đặt hàng đã ký giữa các bên;

Hóa đơn, bảng kê hóa đơn có xác nhận của bên mua/bên sử dụng dịch vụ;

Văn bản thống nhất, xác nhận công nợ ký giữa bên bán hàng/cung ứng dịch

vụ và bên mua hàng/sử dụng dịch vụ.

Như vậy, việc nhận thế chấp quyền đòi nợ trên thực tế có rất nhiều vấn đề mà



các Ngân hàng thương mại cần quan tâm, lưu ý. Việc nhận thế chấp bằng loại tài

sản này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với các Ngân hàng thương mại.



55



2.2.2 Thực tiễn về thế chấp quyền đòi nợ tại các Ngân hàng thương mại ở Việt

Nam hiện nay

Thứ nhất: so với các loại tài sản bảo đảm khác, quyền đòi nợ khơng phải

loại tài sản bảo đảm được các Ngân hàng thương mại nhận bảo đảm một cách phổ

biến.

Tại các tổ chức tín dụng nói chung và các Ngân hàng thương mại nói riêng,

tài sản được nhận làm tài sản bảo đảm rất đa dạng, bao gồm quyền sử dụng đất, nhà

ở, cơng trình gắn liền với đất, ơ tơ, xe máy, dây chuyền sản xuất, cổ phiếu, trái

phiếu, chứng chỉ tiền gửi, quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên, quyền đòi nợ …

Trong số các loại tài sản bảo đảm ấy, quyền đòi nợ là loại tài sản bảo đảm tương đối

mới mẻ. Do đó, loại tài sản bảo đảm này chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong số các loại

tài sản được các Ngân hàng thương mại nhận làm tài sản bảo đảm.

Theo thống kê của Phòng Quản lý tài sản bảo đảm – Khối Tín dụng – Ngân

hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng, tỷ lệ tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ trong hệ

thống tài sản bảo đảm của VPBank chiếm một tỷ lệ khiêm tốn, khoảng 3,5%. Tại

Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, tỷ lệ này có khởi sắc hơn nhưng cũng chỉ

chiếm khoảng 8% tổng số tài sản bảo đảm. Ở Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt

Nam, tỷ lệ nêu trên là 6,5%. Như vậy, so với các loại tài sản bảo đảm khác, quyền

đòi nợ vẫn còn là loại tài sản bảo đảm khá lép vế. Để góp phần nâng cao vị thế của

tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ, khơng chỉ cần sự quan tâm của các nhà làm luật

bằng cách xây dựng, hoàn thiện các quy định của pháp luật về quyền đòi nọ và thế

chấp quyền đòi nợ mà còn cần sự cố gắng, nỗ lực của chính các tổ chức kinh tế

thông qua việc thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán khi tham gia vào quan hệ thế

chấp quyền đòi nợ với vai trò là bên có nghĩa vụ thanh tốn. Điều này góp phần

củng cố niềm tin của các tổ chức tín dụng nói chung và Ngân hàng thương mại nói

riêng đối với các bên có nghĩa vụ thanh tốn, từ đó tạo động lực để các Ngân hàng

thương mại mạnh dạn hơn nữa trong việc nhận thế chấp loại tài sản đặc thù này.

Thứ hai: mặc dù được các Ngân hàng thương mại thừa nhận là một loại tài

sản bảo đảm nhưng quyền đòi nợ vẫn chưa phải là loại tài sản bảo đảm thực thụ và



56



chưa giúp ích được nhiều cho bên được bảo đảm trong việc vay vốn của các Ngân

hàng thương mại.

Do là một loại tài sản đặc biệt, một loại tài sản vơ hình nên việc quản lý, xử

lý loại tài sản này gặp nhiều khó khăn. Điều đó dẫn đến tâm lý e ngại của các Ngân

hàng thương mại khi nhận thế chấp bằng loại tài sản này, cũng chính vì vậy, đa số

các Ngân hàng thương mại chỉ nhận thế chấp quyền đòi nợ như là một tài sản bảo

đảm bổ sung, đi kèm với các loại tài sản bảo đảm khác mà ít khi nhận thế chấp nó

như là một tài sản bảo đảm chính. Việc nhận thế chấp quyền đòi nợ với tư cách là

tài sản bảo đảm chính chỉ được đặt ra trong trường hợp khách hàng đủ điều kiện

được cấp tín dụng khơng có bảo đảm. Vì khơng coi quyền đòi nợ là một loại tài sản

bảo đảm độc lập nên khi được nhận thế chấp cùng với các loại tài sản bảo đảm

khác, quyền đòi nợ thường khơng được tính vào giá trị tài sản bảo đảm để xác định

tỷ lệ cấp tín dụng, điển hình có thể kể đến trường hợp sau đây:

Cơng ty X hoạt động trong lĩnh vực sản xuất phân bón, để mở rộng quy mô

nhà máy và nâng cấp dây chuyền sản xuất, công ty cần vay vốn ngân hàng và quyết

định sử dụng sản phẩm tín dụng của Ngân hàng Techcombank. Công ty dự định

dùng quyền sử dụng thửa đất xây dựng nhà máy và nhà máy làm tài sản bảo đảm.

Tuy nhiên, thửa đất xây dựng nhà máy là đất thuê trả tiền hàng năm nên Công ty

không thể thế chấp tài sản này mà chỉ có thể thế chấp cơng trình xây dựng trên đất.

Để tăng số tiền có thể được cấp tín dụng, Cơng ty X dự định thế chấp thêm quyền

đòi nợ phát sinh từ Hợp đồng cung cấp hàng hóa số 15/2011/HĐKT ký giữa Công

ty và Công ty K. Tuy nhiên, khi định giá tài sản bảo đảm để xác định mức tín dụng

tối đa Techcombank có thể cấp cho Cơng ty X dựa trên các tài sản bảo đảm nêu

trên, giá trị quyền đòi nợ phát sinh từ Hợp đồng cung cấp hàng hóa số

15/2011/HĐKT lại khơng được tính vào giá trị tài sản bảo đảm để xác định mức cấp

tín dụng.

Như vậy, trong cơng cuộc đi tìm sự tài trợ nguồn vốn của các Ngân hàng

thương mại, vai trò của quyền đòi nợ là khá nhạt nhòa và nếu tách ra đứng đơn



57



thương độc mã thì quyền đòi nợ vẫn chưa được các Ngân hàng thương mại đón

nhận.

Theo thống kê của Khối Tín dụng – Ngân hàng Techcombank tại Báo cáo

hoạt động tín dụng 6 tháng cuối năm 2014 thì tại Ngân hàng này, 60% quyền đòi nợ

đã hình thành được nhận làm tài sản bảo đảm với tính chất là tài sản bổ sung, tài sản

được nhận kèm cùng với các loại tài sản bảo đảm khác, còn đối với quyền đòi nợ

hình thành trong tương lai thì chỉ được nhận thế chấp với tính chất là tài sản bổ sung

mà không được nhận làm tài sản bảo đảm độc lập.

Thứ ba: Tại một số Ngân hàng thương mại, quyền đòi nợ có thể được nhận

thế chấp với tính chất là tài sản bảo đảm chính, tuy nhiên tỷ lệ cấp tín dụng tính trên

giá trị bảo đảm thấp hơn khá nhiều so với các loại tài sản bảo đảm khác.

Với mục tiêu trở thành một trong năm Ngân hàng bán lẻ tốt nhất Việt Nam

vào năm 2017, VPBank đang tích cực đẩy mạnh phát triển các sản phẩm dịch vụ và

đặc biệt quan tâm, chú trọng tới đối tượng khách hàng cá nhân và khách hàng doanh

nghiệp vừa và nhỏ (SME). Một trong những cách thức được VPBank sử dụng để gia

tăng thị phần, thu hút khách hàng đó là mở rộng đối tượng tài sản có thể nhận làm

tài sản bảo đảm, điển hình là việc thừa nhận quyền đòi nợ là một loại tài sản bảo

đảm độc lập có thể dùng để bảo đảm cho nghĩa vụ của khách hàng mà không cần đi

kèm với các loại tài sản bảo đảm khác. Sự thay đổi này đã là một bước đột phá

trong việc thay đổi khẩu vị rủi ro của VPBank, bởi lẽ Ngân hàng này vốn dĩ nổi

tiếng là Ngân hàng có quan điểm thận trọng và khẩu vị rủi ro khá chặt chẽ. Tuy

nhiên, so với các loại tài sản bảo đảm khác, các điều kiện mà VPBank đưa ra với

quyền đòi nợ được nhận thế chấp là khá nghiêm khắc, đồng thời tỷ lệ cấp tín dụng

tính trên giá trị quyền đòi nợ so với tỷ lệ cấp tín dụng tính trên giá trị các loại tài sản

bảo đảm khác vẫn khá thấp. Theo số liệu thống kê của Ngân hàng VPBank vào

tháng 02/2015: Đối với tiền gửi tỷ lệ cấp tín dụng là 100%, đối với trái phiếu chính

phủ, tín phiếu kho bạc tỷ lệ cấp tín dụng là 95%, đối với quyền sử dụng đất, nhà ở,

cơng trình xây dựng gắn liền với đất tỷ lệ cấp tín dụng cao nhất là 90%, đối với xe ơ



58



tơ tỷ lệ cấp tín dụng cao nhất là 85%, trong khi đó đối với quyền đòi nợ tỷ lệ cấp tín

dụng cao nhất chỉ là 70%.

Thứ tư: sự khó khăn trong việc quản lý là một trong những rào cản đối với

các Ngân hàng thương mại khi nhận thế chấp quyền đòi nợ

Khi nhận bảo đảm bằng các loại tài sản hữu hình, bên nhận bảo đảm có thể

quản lý bằng cách bảo quản tài sản tại kho của mình hoặc kho của bên thứ ba, tự

mình quản lý hoặc thuê bên thứ ba quản lý, có thể thực hiện kiểm tra tài sản định kỳ

bằng các phương pháp kiểm tra thực địa, có thể phát hiện sự thay đổi, giảm sút tài

sản bằng cách cân, đo, đong, đếm. Nhưng khi nhận bảo đảm bằng quyền đòi nợ một loại tài sản vơ hình, để có thể kiểm tra tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm phải

thực hiện các biện pháp điều tra, tìm hiểu thơng tin qua bên có nghĩa vụ thanh tốn

hoặc các bên khác có liên quan. Như vậy, bên nhận bảo đảm đã mất đi sự chủ động

trong việc quản lý, giám sát, kiểm tra tài sản đang tạm thời thuộc quyền sở hữu của

mình. Điều này khiến bên nhận bảo đảm phần nào cảm thấy bất an. Để nâng cao

hiệu quả quản lý tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ, giảm thiểu rủi ro, các Ngân hàng

thương mại đã áp dụng các biện pháp khác nhau, bao gồm nhưng khơng giới hạn

các biện pháp như: u cầu bên có nghĩa vụ trả nợ chỉ được thanh tốn thơng qua

tài khoản của bên thế chấp mở tại bên nhận thế chấp để có thể kiểm sốt nguồn tiền

về; thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm đối với giao dịch thế chấp quyền đòi nợ;

u cầu bên có nghĩa vụ trả nợ ký kết văn bản xác nhận công nợ, cam kết hợp tác

trong trường hợp bên nhận thế chấp phải xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ …

Mặc dù khơng loại bỏ được hồn tồn rủi ro nhưng các biện pháp nêu trên

phần nào giúp các Ngân hàng thương mại cảm thấy yên tâm hơn khi nhận thế chấp

bằng quyền đòi nợ.

Thứ năm: Thực tế xử lý tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ gặp nhiều khó khăn

và tỷ lệ xử lý thành cơng khơng cao.

Theo báo cáo thống kê của Công ty TNHH Một thành viên quản lý và khai

thác tài sản Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank

AMC) – công ty được Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng ủy thác thực hiện



59



hoạt động thu hồi nợ thì trong số 6 trường hợp có tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ

chỉ có khoảng 2 trường hợp có thể xử lý được tài sản bảo đảm một cách nhanh

chóng, thuận lợi, 4 trường hợp còn lại gặp rất nhiều khó khăn hoặc thậm chí khơng

thể xử lý. Theo Báo cáo kết quả xử lý nợ 06 tháng cuối năm 2014 của Công ty

TNHH Một thành viên quản lý tài sản Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng, tỷ

lệ xử lý thành cơng tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ chỉ chiếm khoảng 33%. Sở dĩ

việc xử lý tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ gặp khó khăn là vì sự thiếu hợp tác, thiếu

thiện chí của bên có nghĩa vụ trả nợ, trong khi đó, bên nhận thế chấp lại khơng có

giải pháp nào để xử lý các tài sản khác của bên có nghĩa vụ trả nợ, vụ việc dưới đây

là một ví dụ điển hình:

Cơng ty A hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh vật liệu xây dựng, ngày

11/10/2010, Công ty A vay vốn tại Ngân hàng VPBank theo Hợp đồng tín dụng số

03/HĐTD/VPBank-A, tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của Công ty A đối với

VPBank là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 06A/CVV và quyền đòi nợ phát sinh

từ Hợp đồng cung cấp hàng hóa số 30/2010/HĐCCHH ký ngày 06/10/2010 giữa

Công ty A và Công ty B. Theo quy định tại Hợp đồng cung cấp hàng hóa số

30/2010/HĐCCHH, Cơng ty B có nghĩa vụ thanh tốn cho Cơng ty A 40% tổng giá

trị Hợp đồng trong vòng 20 ngày kể từ ngày Cơng ty A bàn giao hàng hóa đợt 1,

Cơng ty A có nghĩa vụ bàn giao đợt 1 hàng hóa vào ngày 30/10/2010, 60% tổng giá

trị Hợp đồng còn lại sẽ được Cơng ty B thanh tốn cho Cơng ty A trong vòng 20

ngày kể từ ngày Cơng ty A hồn thành nghĩa vụ bàn giao hàng hóa và đại diện có

thẩm quyền của các bên đã ký Biên bản bàn giao hàng hóa. Ngày 11/11/2010, Cơng

ty A vi phạm nghĩa vụ trả lãi, theo quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký, VPBank

sẽ thực hiện thu hồi trước hạn khoản nợ của Công ty A. Hết thời hạn do VPBank

thông báo, Công ty A không thực hiện nghĩa vụ trả nợ trước hạn và VPBank thực

hiện xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Ngày 30/10/2010, Cơng ty A đã hồn

thành nghĩa vụ bàn giao đợt 1 hàng hóa theo đúng quy định tại Hợp đồng. Hết thời

hạn thanh toán theo quy định tại Hợp đồng cung cấp hàng hóa, VPBank có văn bản

đề nghị Cơng ty B thanh tốn số tiền bằng 40% giá trị Hợp đồng cung cấp hàng hóa



60



cho VPBank vì Cơng ty A đã vi phạm nghĩa vụ được bảo đảm bởi quyền đòi nợ phát

sinh từ Hợp đồng cung cấp hàng hóa. Tuy nhiên, Cơng ty B từ chối thanh tốn với

lý do Cơng ty A chưa hồn thành toàn bộ nghĩa vụ giao hàng.

Như vậy, trong vụ việc nêu trên, bên nhận thế chấp – VPBank đã thực hiện

xử lý tài sản bảo đảm theo phương thức đã được quy định tại Nghị định

163/2006/NĐ-CP đó là yêu cầu bên có nghĩa vụ thanh tốn – Cơng ty B trả cho

mình số tiền theo quy định tại Hợp đồng phát sinh quyền đòi nợ. Tuy nhiên, Cơng

ty B khơng thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Trong q trình xử lý tài sản bảo đảm để thu

hồi nợ, VPBank tiếp tục nhiều lần gửi văn bản đề nghị Công ty B thực hiện nghĩa

vụ nhưng công ty này vẫn khơng thực hiện.

Trong trường hợp nêu trên, để có thể cưỡng chế bên có nghĩa vụ thực hiện

nghĩa vụ thanh toán, bên nhận thế chấp bắt buộc phải khởi kiện ra tòa. Trên cơ sở

bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án, bên nhận thế chấp có thể đề nghị cơ quan

thi hành án vào cuộc để hỗ trợ xử lý tài sản bảo đảm. Trên thực tế, để có được bản

án, quyết định của Tòa án là vấn đề phức tạp, tốn kém nhiều thời gian, công sức.

Trong thời gian đó, giá trị của khoản nợ ngày càng gia tăng do tiền lãi, tiền lãi quá

hạn ngày càng tăng, trong khi giá trị của quyền đòi nợ khơng hề thay đổi, điều này

dẫn đến tình trạng số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thực

hiện nghĩa vụ được bảo đảm. Khi đó, bên vay vốn có nghĩa vụ tiếp tục hồn trả cho

bên cho vay số tiền còn thiếu, nhưng để thu hồi được số tiền này là câu chuyện

không hề đơn giản, khi mà tài sản bảo đảm đã bị xử lý và bên cho vay khơng còn

quản lý, nắm trong tay bất kỳ tài sản nào của bên vay. Vì vậy, các khoản nợ vẫn tồn

tại dai dẳng, khiến tỷ lệ nợ xấu tại các Ngân hàng thương mại gia tăng.

Tóm lại, nhận thức và quan điểm của các tổ chức tín dụng nói chung, các

Ngân hàng thương mại nói riêng cho rằng, việc nhận tài sản đảm bảo là quyền đòi

nợ, đặc biệt là quyền đòi nợ hình thành trong tương lai thực chất là hình thức cho

vay tín chấp. Do đó, đối tượng được thế chấp vay vốn bằng quyền đòi nợ khơng

nhiều và có sự chọn lọc. Thực trạng này chỉ có thể được cải thiện khi vấn đề bảo

đảm bằng các loại tài sản vơ hình nói chung và quyền đòi nợ nói riêng được các nhà



61



làm luật quan tâm, đồng thời vấn đề uy tín trong kinh doanh được các tổ chức,

doanh nghiệp thực sự coi trọng.

2.2.3. Đánh giá ưu điểm, vướng mắc, bất cập của pháp luật về

thế chấp quyền đòi nợ

a) Ưu điểm của pháp luật về thế chấp quyền đòi nợ

Ở Việt Nam, quyền đòi nợ được pháp luật cơng nhận là một loại tài sản có

thể dùng làm tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự từ khá sớm – từ năm 1995.

Khơng bị bó buộc bởi nhận thức tài sản là những vật thể hiện hữu, có thể cầm, pháp

luật Việt Nam đã thừa nhận tài sản bao gồm cả những thứ vơ hình, khơng màu,

khơng sắc như quyền tài sản. Điều này thể hiện sự tiến bộ của hệ thống pháp luật

Việt Nam nói chung và pháp luật dân sự nói riêng. Trong điều kiện nền kinh tế thị

trường , pháp luật Việt Nam về thế chấp quyền đòi nợ đã ngày càng khẳng định

được vị thế, tầm quan trọng của mình và bộc lộ những ưu điểm nhất định, cụ thể

như:

Thứ nhất: Pháp luật Việt Nam đã đề cập đến gần như đầy đủ các vấn đề, khía

cạnh của việc thế chấp quyền đòi nợ, bao gồm: xác lập giao dịch thế chấp quyền đòi

nợ; quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch thế chấp quyền đòi nợ; phương

thức xử lý tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ trong trường hợp bên được bảo đảm vi

phạm nghĩa vụ.

Thứ hai: Pháp luật Việt Nam về thế chấp quyền đòi nợ ngày càng phù hợp

với thực tế xã hội và thể hiện sự hội nhập: Tính khả thi là một trong những yếu tố

quan trọng của việc xây dựng pháp luật, yếu tố này càng ngày càng được cơ quan

lập pháp quan tâm, chú trọng. Như đã phân tích tại Chương 1 của Luận văn, trước

năm 2005, pháp luật Việt Nam áp dụng biện pháp cầm cố đối với tài sản bảo đảm là

quyền đòi nợ. Quy định này khiến các chủ thể khá e ngại, thận trọng trong việc

nhận bảo đảm bằng quyền đòi nợ bởi việc khó bảo quản loại tài sản bảo đảm này.

Nắm bắt được tâm lý ấy, đồng thời tiếp thu có chọn lọc quy định pháp luật của một

số nước phát triển trên thế giới, pháp luật Việt Nam đã lựa chọn biện pháp thế chấp

để áp dụng đối với loại tài sản bảo đảm đặc thù này. Mặc dù sự thay đổi này chỉ có



62



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Thực tiễn về thế chấp quyền đòi nợ để đảm bảo tiền vay tại các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×