Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b. Giao dịch chiết khấu hối phiếu đòi nợ

b. Giao dịch chiết khấu hối phiếu đòi nợ

Tải bản đầy đủ - 0trang

khơng điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất

định trong tương lai cho người thụ hưởng”.

Như vậy, chiết khấu hối phiếu đòi nợ là hoạt động mua có kỳ hạn hoặc mua có

bảo lưu quyền truy đòi giấy tờ có giá do người ký phát lập, yêu cầu người bị ký phát

thanh tốn khơng điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời

điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng khi giấy tờ có giá này chưa đến

hạn thanh tốn.

Mặc dù pháp luật hiện hành thừa nhận hối phiếu (trong đó có hối phiếu đòi nợ)

là một loại tài sản (thơng qua việc quy định hối phiếu là một loại giấy tờ có giá) và

về mặt hình thức, đối tượng được các bên chuyển nhượng trong hoạt động chiết

khấu hối phiếu đòi nợ chính là hối phiếu đòi nợ. Nhưng dưới góc độ khoa học pháp

lý, tác giả cho rằng, tự thân hối phiếu đòi nợ chưa phải là một tài sản mà chỉ là cơng

cụ, hình thức ghi nhận, thể hiện tài sản thực sự ẩn chứa trong nó đó là quyền u

cầu người bị ký phát thanh tốn khơng điều kiện một số tiền nhất định. Do đó, về

bản chất sâu sa thì đối tượng được chuyển nhượng trong giao dịch chiết khấu hối

phiếu đòi nợ chính là quyền đòi nợ người bị ký phát.

Khi thực hiện hoạt động chiết khấu hối phiếu đòi nợ, các Ngân hàng thương mại

phải tuân thủ các quy định pháp luật có liên quan khác. Vì vậy, để đảm bảo an tồn

trong hoạt động và tuân thủ quy định của pháp luật, trước khi thực hiện hoạt động

cấp tín dụng này, các ngân hàng thương mại đều phải xây dựng cho mình quy định

riêng về hoạt động chiết khấu hối phiếu đòi nợ hoặc quy định chung về chiết khấu

công cụ chuyển nhượng. Điều này khơng chỉ nhằm mục đích đáp ứng điều kiện để

được cấp giấy phép hoạt động chiết khấu công cụ chuyển nhượng mà còn là cơng

cụ giúp các Ngân hàng thương mại sàng lọc đối tượng khách hàng và đảm bảo an

tồn trong hoạt động cấp tín dụng nói chung.

1.2.2 Pháp luật về thế chấp quyền đòi nợ

1.2.2.1 Pháp luật biện pháp thế chấp tài sản

“Thế chấp” là một từ có nguồn gốc Hán Việt “thế” là bỏ đi, “thay cho” còn

“chấp” có nghĩa là “cầm giữ, nắm bắt”. Từ điển Tiếng Việt giải thích: “thế chấp



21



dùng làm vật bảo đảm, thay thế cho số tiền vay nếu khơng có khả năng trả nợ đúng

kỳ hạn”. Xuất phát từ ngữ nghĩa cơ bản của từ thế chấp như trên, thế chấp được

hiểu là một cách thức mà bên có quyền và bên có nghĩa vụ đã lựa chọn để bảo đảm

cho việc thực hiện nghĩa vụ thông qua một tài sản; giá trị của tài sản này có khả

năng thay thế cho nghĩa vụ bị vi phạm.

Quy định của pháp luật về thế chấp với tính chất là một biện pháp bảo đảm thực

hiện nghĩa vụ dân sự đã xuất hiện từ thời La Mã cổ đại. Theo các học giả La Mã,

Luật về Cầm cố và Thế chấp là luật thứ hai xuất hiện sau Luật về quyền dụng ích.

Quá trình phát triển của biện pháp thế chấp trong Luật La Mã đã ảnh hưởng và chi

phối mạnh mẽ đến sự ra đời, sự thay đổi các quy định pháp luật về thế chấp ở các

nước theo hệ thống luật Civil Law mà điển hình là các nước Pháp, Đức, Nhật Bản.

Trong suốt thế kỷ 19 và gần như cả thế kỷ 20, ở Pháp, thuật ngữ “thế chấp” được

dùng để chỉ biện pháp bảo đảm khơng có yếu tố chuyển giao vật và biện pháp bảo

đảm bằng bất động sản. Điều 2114 Bộ luật dân sự Pháp quy định: “Thế chấp là một

quyền tài sản đối với bất động sản được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ”.

Cùng với quan điểm đó, Điều 369 Bộ luật dân sự Nhật Bản cũng quy định: “Người

nhận thế chấp có quyền ưu tiên so với các chủ nợ khác trong việc đáp ứng yêu cầu

của mình từ bất động sản mà bên nợ hoặc người thứ ba đưa ra như là một biện

pháp bảo đảm trái vụ và không chuyển giao quyền chiếm hữu nó”. Như vậy do ảnh

hưởng chủ yếu bởi Luật La Mã cổ đại nên thế chấp theo pháp luật của các nước

theo hệ thống luật dân sự (Civil Law) được hiểu là biện pháp bảo đảm với những

đặc điểm: (i) đối tượng của thế chấp là bất động sản; (ii) khơng có sự chuyển giao

quyền chiếm hữu bất động sản thế chấp từ người có nghĩa vụ sang người có quyền.

Chính vì vậy, để đảm bảo lợi ích cho bên có quyền cũng như sự an tồn, hiệu quả

của giao dịch, pháp luật của các nước trên đều quy định về cơ chế đăng ký công

khai quyền của bên nhận thế chấp đối với bất động sản thế chấp.

Đối với những nước theo hệ thống Thông luật (Common Law) như Anh, Úc,

Mỹ, Canada thì thế chấp là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được phát

triển theo hai học thuyết cơ bản: thuyết quyền sở hữu và thuyết giữ tài sản thế chấp.



22



Ở những nước theo thuyết quyền sở hữu, chủ nợ được nhận quyền sở hữu đối với

tài sản trong hợp đồng thế chấp. Tuy nhiên, luật pháp và tòa án ở các nước này đã

sửa đổi quyền tài sản của chủ nợ mà theo đó họ chỉ được phép thực hiện quyền này

khi người vay khơng hồn thành nghĩa vụ. Người nhận thế chấp có quyền sở hữu

đối với tài sản trong suốt thời gian thế chấp, nhưng chỉ có tính chất tạm thời. Nếu

người đi vay không thực hiện nghĩa vụ của mình thì người nhận thế chấp có quyền

sở hữu tuyệt đối, “thế chấp là sự chuyển giao quyền sở hữu tài sản theo cách thức

bảo đảm với một ngụ ý rằng quyền sở hữu sẽ được chuyển giao lại cho con nợ nếu

đã thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán của mình”. Trong thực tế, hợp đồng thế chấp

ở các quốc gia theo thuyết quyền sở hữu bao gồm các điều khoản về quyền bán,

theo đó cho phép chủ nợ, khi người vay khơng hồn thành nghĩa vụ, được rút ngắn

tiến trình tịch biên bằng cách theo luật thơng báo trên các báo công cộng về việc

bán để tịnh biên sắp tới. Do đó, thuyết quyền sở hữu thường tiết kiệm thời gian và

tiền bạc cho chủ nợ nhờ việc bỏ qua một vài thủ tục tịch biên nhất định. Học thuyết

quyền sở hữu này cũng tương tự như quan niệm về thế chấp theo hệ thống luật cũ

của Úc. Ở Úc, có hai hệ thống quyền sở hữu đất đai: theo hệ thống luật cũ (chủ sở

hữu phải tự chứng minh quyền sở hữu thông qua lịch sử quá trình sử dụng đất kể từ

khi được nhà vua ban cấp) và quyền sở hữu Torrens (loại quyền do pháp luật thừa

nhận). Tương ứng, cũng có 02 loại thế chấp là thế chấp được áp dụng theo hệ thống

pháp luật cũ và thế chấp theo hệ thống luật Torrens. Thế chấp đất đai theo hệ thống

cũ được thực hiện bằng việc chuyển nhượng đất từ người thế chấp (người vay) sang

người nhận thế chấp (người cho vay) như là một cách thức bảo đảm cho khoản vay.

Sau khi trả hết tiền vay và tiền lãi, người nhận thế chấp phải hoàn lại đất cho người

thế chấp. Quyền nhận lại đất của người thế chấp gọi là quyền công bằng của người

thế chấp. Với hệ thống Torrens, những người tham gia giao dịch đất đai hồn tồn

được bảo đảm. Họ có thể tiếp cận thơng tin đầy đủ và chính xác về bất động sản

thông qua cơ chế đăng ký. Bên thế chấp vẫn có quyền giữ tài sản thế chấp để khai

thác sử dụng trong thời hạn thế chấp cho đến khi có sự vi phạm nghĩa vụ thì mới bị

mất quyền sở hữu. Với một bất động sản người vay có thể vay ở một ngân hàng



23



nhưng nếu bất động sản đó vẫn có giá trị thì họ có thể thế chấp tiếp để vay ở ngân

hàng đó hoặc một ngân hàng khác nhờ hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm. Như

vậy, thế chấp theo hệ thống Torrens là thuộc thuyết giữ vật thế chấp. Ở các nước

theo thuyết giữ tài sản thế chấp như Úc và một số bang của Mỹ, chủ nợ khơng có

quyền sở hữu đối với vật bảo đảm, mà thay vào đó là quyền được tiến hành tịch

biên chính thức để thực hiện bán tài sản trong trường hợp người vay khơng hồn

thành nghĩa vụ.

Như vậy, ở cả hai hệ thống pháp luật chủ yếu là Civil Law và Common Law đều

có những quan niệm chung về thế chấp ở những điểm sau: (i) đối tượng của thế

chấp là bất động sản (đối với các nước Common Law thì còn ghi nhận cả động sản

cũng là đối tượng của thế chấp); (ii) sự phát triển của biện pháp thế chấp theo

hướng chuyển từ hình thức thế chấp có chuyển giao tài sản thế chấp sang hình thức

thế chấp khơng có sự chuyển giao quyền sở hữu cũng như quyền chiếm hữu đối với

tài sản thế chấp. Văn tự thế chấp hay hợp đồng thế chấp có đăng ký là phương thức

bảo vệ quyền của chủ nợ. Trên cơ sở chứng cứ chứng minh quyền đối với tài sản thế

chấp, bên nhận thế chấp sẽ tiến hành quá trình tịch biên đối với bất động sản thế

chấp để xử lý nợ.

Về bản chất của thế chấp, hiện tại trong giới luật học có nhiều cách tiếp cận

khác nhau. Dưới góc độ là một giao dịch dân sự thì bản chất của quan hệ thế chấp

tài sản để bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng ngân hàng là quan hệ hợp đồng.

Theo đó bên thế chấp dùng tài sản của mình để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa

vụ đối với bên nhận thế chấp. Bên nhận thế chấp có quyền kiểm tra việc khai thác,

sử dụng tài sản thế chấp của bên thế chấp để tránh trường hợp tài sản đó bị tiêu hủy,

giảm sút giá trị, có các quyền yêu cầu giao tài sản thế chấp để xử lý khi có sự vi

phạm.

Dưới góc độ là một loại vật quyền bảo đảm: “Thế chấp là một biện pháp bảo

đảm mang tính chất đối vật, được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện đối với

các bên trong quan hệ thế chấp”. Tính chất vật quyền cho phép bên nhận thế chấp

có quyền tác động trực tiếp đến tài sản thế chấp mà khơng phụ thuộc vào ý chí của



24



bất kì chủ thể nào. Cụ thể, bên nhận thế chấp có quyền truy đòi tài sản thế chấp từ

sự chiếm giữ của bất kì ai (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác) để xử lý và

có quyền ưu tiên thanh toán trước từ số tiền thu được khi xử lý tài sản thế chấp.

Tại Việt Nam, khái niệm thế chấp cũng có sự thay đổi theo sự phát triển của nền

kinh tế, xã hội. Trước đây, theo quy định tại Bộ luật Dân sự năm 1995, thế chấp tài

sản là việc bên có nghĩa vụ dùng tài sản là bất động sản thuộc sở hữu của mình để

bảo đảm thực hiện nghĩa vụ với bên có quyền. Như vậy, đối tượng tài sản dùng để

thế chấp chỉ có thể là bất động sản, nếu bên có nghĩa vụ sử dụng tài sản là bất động

sản để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của mình thì biện pháp bảo đảm duy

nhất mà họ có thể lựa chọn sẽ là thế chấp. Khi Bộ luật Dân sự năm 2005 ra đời, khái

niệm thế chấp đã có sự thay đổi đáng kể. Khoản 1 Điều 342 Bộ luật dân sự 2005

quy định: “thế chấp tài sản là việc một bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để

bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia và khơng chuyển giao tài sản đó

cho bên nhận thế chấp”. Như vậy, việc xác định một biện pháp bảo đảm có phải là

biện pháp thế chấp hay khơng khơng phụ thuộc vào tính chất của tài sản bảo đảm

nữa mà phụ thuộc vào việc bên thế chấp có chuyển giao tài sản cho bên nhận thế

chấp hay không. Với sự thay đổi này, các bên hồn tồn có thể lựa chọn biện pháp

thế chấp để áp dụng đối với tài sản là động sản, miễn là bên thế chấp không chuyển

giao động sản đó cho bên nhận thế chấp. Tuy nhiên, trên thực tế đối với động sản –

loại tài sản có thể dễ dàng trao đổi, dịch chuyển, loại tài sản có tính động và có phần

khó kiểm sốt hơn bất động sản, để bảo đảm quản lý, kiểm soát được loại tài sản

này khi nhận bảo đảm, các bên nhận bảo đảm vẫn theo thói quen mà áp dụng biện

pháp cầm cố đối với nó.

Sự thay đổi nêu trên đã đưa luật dân sự Việt Nam tiếp cận gần hơn với luật dân

sự của các nước trên thế giới, điều đó thể hiện sự phát triển của hệ thống pháp luật

Việt Nam. Đồng thời một lần nữa khẳng định lại nguyên tắc cơ bản của luật dân sự

đó là sự tự do, tôn trọng thỏa thuận của các bên tham gia giao dịch.

a) Pháp luật về thế chấp quyền đòi nợ

Pháp luật về thế chấp quyền đòi nợ được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp

luật có tính chất ổn định, bắt buộc các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật có đối

25



tượng là quyền đòi nợ phải tuân theo. Tương tự như các quan hệ pháp luật khác,

pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể trong pháp luật về thế chấp quyền đòi

nợ bao gồm các nhóm quy phạm pháp luật cơ bản như sau;

- Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ thế chấp quyền đòi nợ.

- Hình thức và điều kiện có hiệu lực của Hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ.

-Cơ chế để thực thi pháp luật về thế chấp quyền đòi nợ

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, pháp luật điều chỉnh đối với quyền đòi nợ

và pháp luật về thế chấp quyền đòi nợ đã được ghi nhận khá sớm. Trước đây, Bộ

luật Dân sự năm 1995 và Nghị định 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 về giao dịch

bảo đảm quy định áp dụng chế độ cầm cố đối với quyền đòi nợ. Tại Điều 329 Bộ

luật Dân sự năm 1995 quy định:

“ Cầm cố tài sản là việc bên có nghĩa vụ giao tài sản là động sản thuộc sở hữu

của mình cho bên có quyền để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự; nếu tài sản cầm

cố có đăng kí quyền sở hữu thì các bên có thể thỏa thuận bên cầm cố vẫn giữ tài

sản cầm cố hoặc giao cho người thứ ba giữ. Quyền tài sản được phép giao dịch

cũng có thể được cầm cố.”

Như vậy, do cơ sở để xác định biện pháp bảo đảm có thể áp dụng đối với một tài

sản là dựa vào tính chất, loại của tài sản đó (là động sản hay bất động sản) nên đối

với quyền tài sản nói chung và quyền đòi nợ nói riêng – một loại động sản, chỉ có

thể lựa chọn biện pháp bảo đảm là cầm cố.

Tuy nhiên, khi Bộ luật Dân sự năm 2005 ra đời, quan niệm và tiêu chí phân biệt

cầm cố và thế chấp đã có sự thay đổi. Theo đó, khơng còn căn cứ vào tiêu chí tính

chất, loại tài sản để phân biệt giao dịch cầm cố và thế chấp nữa mà căn cứ vào việc

bên bảo đảm có chuyển giao tài sản cho bên nhận bảo đảm hay không. Nếu bên bảo

đảm chuyển giao tài sản cho bên nhận bảo đảm thì đó là biện pháp cầm cố, ngược

lại, nếu bên bảo đảm không chuyển giao tài sản cho bên nhận bảo đảm thì đó là biện

pháp thế chấp. Như vậy, với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 thì việc áp

dụng biện pháp cầm cố hay thế chấp hoàn toàn do các bên lựa chọn theo nhu cầu

của mình. Các bên hồn tồn có thể lựa chọn thế chấp một tài sản là động sản như

cổ phiếu, cũng có thể lựa chọn cầm cố một tài sản là bất động sản như nhà ở, cơng



26



trình xây dựng. Về mặt lý thuyết và về mặt khoa học pháp lý, rõ ràng khơng có sự

hạn chế, ràng buộc các bên trong việc lựa chọn biện pháp bảo đảm áp dụng đối với

một tài sản. Tuy nhiên, về mặt thực tế, một phần do ảnh hưởng của tư tưởng pháp

luật cũ, một phần do thói quen và một phần do tính chất, cơng dụng của tài sản, đa

phần các giao dịch cầm cố vẫn được xác lập với tài sản là động sản, các giao dịch

thế chấp vẫn được xác lập với tài sản là bất động sản.

Đối với tài sản là quyền đòi nợ, do tính chất là một loại tài sản vơ hình, bản thân

chủ sở hữu tài sản cũng khơng thể cầm, nắm, bắt được tài sản này nên rất khó để

thực hiện việc chuyển giao tài sản này khi xác lập giao dịch bảo đảm. Bởi vậy, pháp

luật hiện hành và các chủ thể tham gia giao dịch mặc nhiên gắn cho quyền đòi nợ

biện pháp bảo đảm là thế chấp.

Cùng có đối tượng là quyền đòi nợ nhưng hoạt động thế chấp quyền đòi nợ lại

có khác biệt rất lớn so với hoạt động bao thanh toán và hoạt động chiết khấu hối

phiếu đòi nợ. Nếu như hoạt động bao thanh toán, hoạt động chiết khấu hối phiếu đòi

nợ là một hoạt động nghiệp vụ của Ngân hàng thương mại, nó góp phần tạo ra

doanh thu, lợi nhuận cho Ngân hàng thương mại thì hoạt động thế chấp quyền đòi

nợ lại khơng phải là một hoạt động nghiệp vụ, nó khơng góp phần tạo ra doanh thu,

lợi nhuận cho Ngân hàng thương mại, nó cũng khơng phải là giao dịch độc lập mà

là một loại giao dịch phụ, ln ln đi kèm với một giao dịch chính nhất định, nó là

một biện pháp bảo đảm tiền vay.

1.2.3. Khái quát chung về thế chấp quyền đòi nợ tại Ngân hàng thương mại

Đối với việc bảo đảm bằng quyền đòi nợ, sự thay đổi quan điểm, khái niệm về

thế chấp và cầm cố của pháp luật có ý nghĩa rất lớn và là sự thay đổi theo hướng

tích cực, làm thay đổi cách nhìn nhận, đánh giá, áp dụng của các tổ chức tín dụng

nói chung và Ngân hàng thương mại nói riêng đối với tài sản bảo đảm là quyền đòi

nợ, từ đó khiến quyền đòi nợ trở thành loại tài bảo đảm khá phổ biến ở nhiều Ngân

hàng thương mạ; thể hiện trên các phương diện sau đây:

Thứ nhất: Trong giao dịch bảo đảm có tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ, tài sản

dùng để bảo đảm chính là quyền đòi nợ - một loại tài sản vơ hình. Theo Bộ luật Dân



27



sự năm 1995, bên bảo đảm chỉ có thể nhận cầm cố tài sản ấy, trong khi thực tế các

bên không thể xác định được tài sản này có hình dạng, kích thước ra sao, khơng thể

cầm nắm, sờ, cảm nhận được mà chỉ có thể nắm giữ, bảo quản giấy tờ của tài sản đó

chính là các hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ làm phát sinh các quyền

đòi nợ. Về mặt pháp lý, việc khơng nhìn thấy, nắm giữ được tài sản trong trường

hợp này không gây ra rủi ro và không ảnh hưởng đến quyền lợi của bên nhận bảo

đảm. Tuy nhiên, về mặt tâm lý thì việc nhận cầm cố tài sản nhưng lại không thể

nắm giữ tài sản khiến bên nhận bảo đảm cảm thấy không yên tâm, thiếu tin tưởng.

Điều này, có thể ảnh hưởng đến thái độ của bên nhận bảo đảm đối với tài sản bảo

đảm là quyền đòi nợ, khiến bên nhận bảo đảm e ngại, khơng mặn mà với việc nhận

quyền đòi nợ làm tài sản bảo đảm và đương nhiên, các Ngân hàng thương mại cũng

không phải là một ngoại lệ.

Thứ hai: Mặc dù khi nhận thế chấp quyền đòi nợ (thay vì nhận cầm cố quyền

đòi nợ như trước đây), bên nhận bảo đảm cũng không nắm giữ được tài sản thực sự

mà mình nhận làm tài sản bảo đảm nhưng chính việc được xác định tư tưởng ngay

từ đầu là bên bảo đảm sẽ giữ, bảo quản và sử dụng tài sản thế chấp đã khiến cho bên

nhận bảo đảm cảm thấy an tâm, tin tưởng hơn. Xuất phát từ tâm lý đó, các bên nhận

bảo đảm nói chung và Ngân hàng thương mại nói riêng đã dễ chấp nhận hơn với

hoạt động thế chấp loại tài sản khá đặc thù này.

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội, nhu cầu vốn của các nhà đầu tư

ngày càng lớn, điều này thúc đẩy các Ngân hàng thương mại phải đẩy mạnh việc đa

dạng hóa các sản phẩm dịch vụ để đáp ứng tối đa mọi nhu cầu của khách hàng. Đi

đơi với sự đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, việc đa dạng hóa loại tài sản được nhận

làm tài sản bảo đảm cũng được các Ngân hàng thương mại chú trọng. Điều này

không chỉ mở ra cơ hội tiếp cận nguồn vốn cho các nhà đầu tư mà còn mở ra cơ hội

kinh doanh, thu hút khách hàng, gia tăng doanh thu cho chính các Ngân hàng

thương mại. Một trong những loại hình tài sản bảo đảm được các Ngân hàng thương

mại quan tâm trong thời gian gần đây phải kể đến quyền tài sản mà cụ thể là quyền



28



khai thác tài nguyên thiên nhiên, quyền đòi nợ, quyền tài sản phát sinh từ quyền sở

hữu trí tuệ.

Nhằm đảm bảo tính thống nhất trong hoạt động nhận thế chấp quyền đòi nợ, tạo

cơ sở pháp lý cho các đơn vị thực hiện, đồng thời đưa ra những giới hạn, hành lang

nhất định đối với hoạt động này, hiện nay, hầu hết các Ngân hàng thương mại đều

xây dựng quy định riêng về nhận thế chấp quyền đòi nợ, điển hình phải kể đến một

số ngân hàng như: Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank), Ngân hàng

TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank), Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội

(SHB) ...

Mặc dù chưa chiếm tỷ trọng cao như các loại tài sản phổ biến, truyền thống,

nhưng quyền đòi nợ đang ngày càng khẳng định được vị thế của mình và từng bước

trở thành một trong các loại tài sản bảo đảm được các Ngân hàng thương mại chấp

nhận, hướng tới. Để hoạt động nhận thế chấp quyền đòi nợ ngày càng phát triển, đòi

hỏi sự cố gắng, nỗ lực của các chủ thể trong nền kinh tế xã hội, đặc biệt là sự cố

gắng thực hiện đúng nghĩa vụ của bên bảo đảm và các bên có nghĩa vụ thanh tốn,

từ đó tạo được lòng tin với các Ngân hàng thương mại. Đồng thời, cũng cần sự quan

tâm hơn nữa của các nhà làm luật, các cơ quan chức năng để quy định pháp luật về

thế chấp quyền tài sản nói chung và thế chấp quyền đòi nợ nói riêng ngày càng hồn

thiện, chặt chẽ, bảo vệ tối đa quyền lợi của các bên tham gia giao dịch.



29



CHƯƠNG 2

PHÁP LUẬT VỀ THẾ CHẤP QUYỀN ĐÒI NỢ VÀ THỰC TIỄN THẾ CHẤP

QUYỀN ĐÒI NỢ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

2.1. Quy định của pháp luật về thế chấp quyền đòi nợ

2.1.1. Quy định chung vể thế chấp quyền đòi nợ

Thế chấp quyền đòi nợ là giao dịch bảo đảm duy nhất đối với quyền đòi nợ

được pháp luật thừa nhận. Thế chấp quyền đòi nợ chịu sự điều chỉnh của quy định

chung về thế chấp tài sản và một số quy định chuyên biệt.

Cơ sở pháp lý đầu tiên và quan trọng nhất của việc thế chấp quyền đòi nợ là

Bộ luật Dân sự năm 2005. Mặc dù khơng có điều nào quy định riêng về việc thế

chấp quyền đòi nợ, nhưng việc Bộ luật Dân sự thừa nhận quyền đòi nợ là một loại

quyền tài sản và có thể dùng làm tài sản bảo đảm đã đặt nền tảng cho sự phát triển

của hoạt động thế chấp quyền đòi nợ. Theo Điều 322 của Bộ luật Dân sự năm 2005

thì “Các quyền tài sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm bao gồm quyền tài sản phát

sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu cơng nghiệp, quyền đối với giống cây trồng,

quyền đòi nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm, quyền tài sản

đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng và

các quyền tài sản khác thuộc sở hữu của bên bảo đảm đều được dùng để bảo đảm

thực hiện nghĩa vụ dân sự”. Quy định này của Bộ luật Dân sự có thể coi là “giấy

thơng hành” để quyền đòi nợ trở thành một đối tượng của giao dịch bảo đảm và

được coi là một loại tài sản bảo đảm.

Ngoài Bộ luật Dân sự năm 2005, một trong những văn bản chuyên biệt về

giao dịch bảo đảm phải kể đến đó là Nghị định số 163/2006/NĐ-CP về giao dịch

bảo đảm (sau đây gọi tắt là “Nghị định 163/2006/NĐ-CP”). Nghị định này quy

định, hướng dẫn chi tiết về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự được

Bộ luật Dân sự quy định, theo đó xác định các loại tài sản được nhận làm tài sản

bảo đảm, nội dung của các biện pháp bảo đảm; quyền, nghĩa vụ của các bên tham

gia quan hệ giao dịch bảo đảm; vấn đề xử lý tài sản bảo đảm khi vi phạm nghĩa vụ.

Đối với lĩnh vực giao dịch bảo đảm, Nghị định 163/2006/NĐ-CP có thể coi là văn



30



bản pháp luật quan trọng, cơ bản nhất. Trên cơ sở Nghị định này, các bộ - cơ quan

chuyên môn của từng lĩnh vực, ngành, ban hành các Thông tư hướng dẫn về các vấn

đề liên quan đến việc nhận bảo đảm bằng các loại tài sản thuộc phạm vi quản lý của

bộ, ngành mình.

Ngồi các điều khoản áp dụng chung đối với các biện pháp bảo đảm, Nghị

định 163/2006/NĐ-CP dành riêng 02 điều (Điều 22 và Điều 66) để quy định về vấn

đề thế chấp quyền đòi nợ. Điều này cho thấy việc thế chấp quyền đòi nợ đã được

các nhà làm luật quan tâm đến từ khá sớm. Tuy nhiên, từ đó cho đến nay, vẫn chưa

có thêm văn bản pháp luật nào quy định cụ thể, rõ ràng và đầy đủ hơn về vấn đề thế

chấp quyền đòi nợ. Đây có lẽ là một trong những rào cản khiến việc nhận thế chấp

loại tài sản này phát triển chậm hơn so với các loại tài sản khác.

Với số lượng điều khá khiêm tốn dành cho việc quy định vấn đề thế chấp

quyền đòi nợ, Nghị định 163/2006/NĐ-CP mới chỉ đề cập đến các nội dung cơ bản

nhất của việc thế chấp quyền đòi nợ đó là phạm vi thế chấp quyền đòi nợ, quyền,

nghĩa vụ của bên thế chấp, bên nhận thế chấp quyền đòi nợ, xử lý tài sản bảo đảm là

quyền đòi nợ.

Thứ nhất: về phạm vi thế chấp quyền đòi nợ

Điều 22 của Nghị định 163/2006/NĐ-CP khẳng định “Bên có quyền đòi nợ

được thế chấp một phần hoặc tồn bộ quyền đòi nợ, bao gồm cả quyền đòi nợ hình

thành trong tương lai mà khơng cần có sự đồng ý của bên có nghĩa vụ trả nợ”. Từ

quy định này có thể thấy được quan điểm của nhà làm luật về tài sản là quyền đòi

nợ, theo đó, các nhà làm luật xác định quyền đòi nợ là loại tài sản có thể phân chia

theo phần. Vì vậy, bên có quyền đòi nợ có thể lựa chọn thế chấp một phần hoặc tồn

bộ quyền đòi nợ. Tức là, với quyền đòi nợ phát sinh từ một hợp đồng mua bán hàng

hóa/cung ứng dịch vụ, bên có quyền đòi nợ hồn tồn có thể thế chấp tại một hoặc

nhiều tổ chức tín dụng khác nhau, dĩ nhiên là với điều kiện được các bên nhận thế

chấp đồng ý. Cũng từ quy định trên có thể thấy rằng pháp luật còn cho phép bên có

quyền đòi nợ có thể thế chấp cả quyền đòi nợ hình thành trong tương lai. Trên thực

tế, việc thế chấp một phần quyền đòi nợ không phải là vấn đề đơn giản mà hết sức



31



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b. Giao dịch chiết khấu hối phiếu đòi nợ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×