Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Khái quát về quyền đòi nợ và pháp luật về thế chấp quyền đòi nợ tại Ngân hàng thương mại

2 Khái quát về quyền đòi nợ và pháp luật về thế chấp quyền đòi nợ tại Ngân hàng thương mại

Tải bản đầy đủ - 0trang

Dưới góc độ của pháp luật về nghĩa vụ dân sự, quyền đòi nợ (khoản nợ, quyền

u cầu thanh tốn) là quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện một công việc

quy định tại Ðiều 291 của Bộ luật dân sự năm 2005, cụ thể là phải thanh tốn một

khoản tiền cho bên có quyền tại một thời điểm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng.

Thời điểm thỏa thuận này có thể là một thời điểm nhất định trong tương lai, nhưng

quyền đòi nợ có thể được thanh tốn khi bên có quyền u cầu hay khi phát sinh một

sự kiện tương lai nhất định mà các bên đã thỏa thuận. Bên có quyền chỉ có thể u

cầu việc thanh tốn này từ phía bên có nghĩa vụ chứ không thể yêu cầu một bên thứ

ba làm việc này bởi quyền đòi nợ chỉ thiết lập các mối quan hệ giữa bên có quyền và

bên có nghĩa vụ mà thơi. Ðiều này minh họa cho tính chất tương đối của quyền đòi nợ.

Dưới góc độ của pháp luật về tài sản, quyền đòi nợ là một loại quyền tài sản

(Khoản 1 Ðiều 322, Bộ luật Dân sự năm 2005) và quyền tài sản lại là một trong bốn

loại tài sản theo quy định tại Điều 163 của Bộ luật Dân sự năm 2005. Như vậy, có

thể hiểu rộng hơn quyền đòi nợ là một tài sản. Ðối tượng của quyền đòi nợ chính là

khoản tiền sẽ được thanh tốn vào một thời điểm nhất định.

Trong khn khổ pháp luật giao dịch bảo đảm, Ðiều 322 của Bộ luật Dân sự

năm 2005 phân biệt quyền đòi nợ với quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng (rights

under a contract) theo hướng đây là hai loại quyền tài sản độc lập với nhau. BLDS

công nhận một khái niệm pháp lý khác là quyền yêu cầu (các Ðiều từ 309 đến Ðiều

314). Khoản 4 và 5, Ðiều 22, Nghị định 163/2006/NÐ-CP ngày 29/12/2006 của

Chính phủ về giao dịch bảo đảm đã được bổ sung, sửa đổi theo Nghị định

11/2012/NĐ-CP (gọi tắt là Nghị định 163/2006/NĐ-CP) coi quyền đòi nợ là một

loại quyền yêu cầu. Trước đây, khoản 1.1, điểm d, Thông tư số 04/2007/TT-BTP

ngày 17/5/2007 của Bộ Tư pháp hướng dẫn về thẩm quyền, trình tự và thủ tục đăng

ký, cung cấp thông tin về hợp đồng mua trả chậm, trả dần, hợp đồng thuê tài sản,

hợp đồng cho thuê tài chính và hợp đồng chuyển giao quyền đòi nợ đã định nghĩa

quyền đòi nợ theo hướng liệt kê gồm quyền đòi nợ phát sinh từ hợp đồng vay, hợp

đồng mua bán, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng dịch vụ hoặc phát sinh từ các căn

cứ hợp pháp khác. Song, quy định này đã được thay thế bởi Thông tư số



13



05/2011/TT-BTP của Bộ Tư pháp ngày 16/02/2011 hướng dẫn một số vấn đề về

đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm, hợp đồng, thông báo việc kê biên

tài sản thi hành án theo phương thức trực tiếp, bưu điện, fax, thư điện tử tại Trung

tâm Ðăng ký giao dịch, tài sản của Cục Ðăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc

Bộ Tư pháp. Thay vào đó, Ðiều 2, khoản 2, điểm 2.4 Thơng tư 05/2011/TT-BTP

quy định: "Hợp đồng chuyển giao quyền đòi nợ bao gồm quyền đòi nợ hiện có hoặc

quyền đòi nợ hình thành trong tương lai". Dường như các nhà làm luật muốn mở

rộng hơn căn cứ phát sinh quyền đòi nợ khi không giới hạn ở các hợp đồng nhất

định nữa. Tuy nhiên, khơng có quy định nào của BLDS giải thích nội hàm của các

quyền phát sinh từ hợp đồng. Có thể hiểu quyền đòi nợ là một quyền yêu cầu mang

tính chắc chắn có thể được thực thi trong khi quyền phát sinh từ hợp đồng là quyền

yêu cầu ít chắc chắn hơn, có tính chất ngẫu nhiên hơn, tức là phụ thuộc vào các tình

huống nhất định để chuyển một quyền tiềm năng thành một quyền có thể thực thi

được. Quyền phát sinh từ hợp đồng bao gồm rất nhiều loại quyền, chẳng hạn như

quyền chọn (options), quyền phát sinh từ một hợp đồng cho thuê tàu biển, quyền

phát sinh từ vận đơn, quyền phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, quyền phát

sinh từ hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp hay quyền thuê phát sinh từ

hợp đồng thuê: Quyền đòi nợ và quyền phát sinh từ hợp đồng là hai loại quyền yêu

cầu tiêu biểu.

Quyền đòi nợ có thể chia thành hai loại là quyền đòi nợ đã hình thành và quyền

đòi nợ hình thành trong tương lai. Cách phân loại này được đa số các nhà khoa học,

các tổ chức, cá nhân thừa nhận và đồng tình. Tuy nhiên, cách hiểu về “quyền đòi nợ

đã hình thành” và “quyền đòi nợ hình thành trong tương lai” lại là vấn đề gây khá

nhiều tranh cãi.

Theo tác giả ý kiến của tác giả Bùi Đức Giang đăng trên mục Kiến thức pháp

luật ngày 18/6/2013 thì quyền đòi nợ tương lai là quyền đòi nợ chưa trở thành tài

sản của bên thực hiện giao dịch. Nó có thể còn chưa phát sinh do giao dịch hay sự

kiện pháp lý có thể làm phát sinh quyền đòi nợ này còn chưa diễn ra [6]. Chẳng hạn

đối với một công ty hàng không, thu nhập từ việc bán các vé máy bay hiện còn chưa



14



được bán nhưng sắp được bán là các quyền đòi nợ hình thành trong tương lai vì

giao dịch bán chưa diễn ra. Các khoản phải thu tương lai (future account

receivables) là các khoản phải thu phát sinh từ các hợp đồng với khách hàng của

doanh nghiệp mà các hợp đồng này còn chưa được ký kết. Tiền phạt vi phạm hợp

đồng khi một cầu thủ vi phạm nghĩa vụ với một câu lạc bộ bóng đá cũng là một

quyền đòi nợ tương lai vì sự kiện pháp lý (việc cầu thủ vi phạm nghĩa vụ quy định

trong hợp đồng) chưa diễn ra. Cần lưu ý một khoản nợ sẽ được thanh toán trong

tương lai theo quy định tại một hợp đồng đã được ký kết là một quyền đòi nợ hiện

tại chứ khơng phải là một quyền đòi nợ tương lai. Tuy vậy, một quyền đòi nợ tương

lai có thể đã tồn tại nhưng chưa thuộc khối tài sản của bên thực hiện giao dịch.

Chẳng hạn, một hợp đồng mua bán tài sản đã được ký kết và việc thanh toán được

thực hiện theo nhiều đợt. Bên bán có quyền đòi nợ đối với bên mua và có thể

chuyển giao quyền đòi nợ này[6].

Trong khi đó, tác giả Trần Anh Tuấn đăng trong bài viết “Các chế định pháp luật

về quyền đòi nợ” trên Tạp chí Luật học số 323 lại cho rằng, quyền đòi nợ đã hình

thành là quyền đòi nợ phát sinh từ các hợp đồng đã được ký kết và bên có quyền đã

thực hiện tất cả các nghĩa vụ với bên có nghĩa vụ (ví dụ nghĩa vụ giao hàng, nghĩa

vụ cung ứng dịch vụ …) hoặc bên có quyền đã hoàn thành một phần nghĩa vụ bàn

giao hàng hóa/cung cấp dịch vụ và bên có nghĩa vụ sẽ phải thực hiện thanh toán

theo tiến độ giao hàng/cung cấp dịch vụ. Quyền đòi nợ hình thành trong tương lai là

quyền đòi nợ phát sinh từ các hợp đồng mua bán hàng hóa/cung cấp dịch vụ đã

được ký kết nhưng bên có quyền chưa hồn thành nghĩa vụ bàn giao hàng hóa/cung

ứng dịch vụ theo hợp đồng mua bán hàng hóa/cung cấp dịch vụ hoặc chưa hồn

thành nghĩa vụ khác và chưa được thanh toán [19].

Như vậy, nếu tác giả Bùi Đức Giang căn cứ vào việc Hợp đồng/giao dịch phát

sinh quyền đòi nợ đã được xác lập, giao kết hay chưa để xác định quyền đòi nợ đó

là hình thành trong tương lai hay đã hình thành thì tác giả Trần Anh Tuấn lại căn cứ

vào việc bên có quyền đã thực hiện các nghĩa vụ với bên có nghĩa vụ thanh tốn hay

chưa để xác định quyền đòi nợ đó là đã hình thành hay hình thành trong tương lai.



15



Về vấn đề này, tác giả Luận văn cho rằng quan điểm của tác giả Trần Anh Tuấn

là khá hợp lý và cũng đồng tình với quan điểm này. Thực tế tham khảo quy định về

nhận thế chấp quyền đòi nợ của các Ngân hàng thương mại như Ngân hàng TMCP

Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank), Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng

(VPBank), Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB)… cho thấy tất cả các Ngân

hàng thương mại này đều đồng tình với quan điểm của tác giả Trần Anh Tuấn.

Tóm lại, theo quan điểm của tác giả, quyền đòi nợ là quyền tài sản của một bên

đối với bên có nghĩa vụ thanh tốn phát sinh từ hợp đồng được ký kết giữa các bên,

theo đó một bên có quyền u cầu bên còn lại thực hiện thanh toán khi đến hạn

thanh toán.

1.2.1.2 Đặc điểm của quyền đòi nợ

Như đã nêu ở trên, quyền đòi nợ là một loại quyền tài sản, do đó, nó có đầy đủ

các đặc trưng, đặc điểm của một quyền tài sản đó là (i) trị giá được bằng tiền; và (ii)

có thể chuyển giao quyền sở hữu cho chủ thể khác thông qua giao dịch dân sự.

Một trong những đặc điểm nổi bật của quyền đòi nợ nói riêng và quyền tài sản

nói chung đó là trị giá được bằng tiền, tức là phải tương đương với một lượng vật

chất nhất định. Quyền đòi nợ là quyền yêu cầu một chủ thể (một bên trong quan hệ

hợp đồng) thanh toán một khoản tiền trong một khoảng thời gian nhất định và

khoản tiền đó đã được xác định rõ trong hợp đồng đã được ký kết giữa các bên. Đây

là yếu tố thể hiện rõ nét nhất đặc trưng “trị giá được bằng tiền” của quyền đòi nợ.

Điều 322 Bộ luật Dân sự 2005 quy định các quyền tài sản thuộc quyền sở hữu cảu

bên bảo đảm bao gồm: quyền sử dụng đất, quyền đòi nợ, quyền khai thác tài nguyên

thiên nhiên, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, quyền tài sản phát sinh từ quyền tác

giả, quyền được nhận số tiền bảo hiểm, quyền tài sản đối với phần vốn góp trong

doanh nghiệp. Tất cả các quyền tài sản nêu trên đều có thể được nhận làm tài sản

bảo đảm, khi đó, ngồi việc phải tn thủ các quy định của pháp luật dân sự, các

chủ thể tham gia giao dịch còn phải tuân thủ các quy định của pháp luật chuyên

ngành như: Luật Đất đai, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Khoáng sản … Trường hợp được

nhận làm tài sản bảo đảm để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng cấp tín



16



dụng, đặc trưng “trị giá được bằng tiền” của quyền đòi nợ còn được thể hiện ở việc

bên nhận bảo đảm sẽ căn cứ vào giá trị của quyền đòi nợ được xác định theo hợp

đồng mà quyền đòi nợ đó phát sinh để xác định số tiền mà bên nhận bảo đảm sẽ cấp

tín dụng cho bên vay.

Đặc điểm thứ hai của quyền đòi nợ là có thể chuyển giao quyền sở hữu cho chủ

thể khác thơng qua giao dịch dân sự. Quyền đòi nợ là một loại quyền tài sản, do đó,

nó cũng là tài sản và chủ sở hữu tài sản ấy sẽ có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử

dụng, định đoạt đối với tài sản ấy như một tài sản thông thường. Vì vậy, chủ sở hữu

tài sản hồn tồn có quyền quyết định chuyển giao sở hữu quyền đòi nợ cho một

chủ thể khác thông qua giao dịch dân sự, dưới các hình thức như mua, bán, tặng cho



Như đã phân tích ở trên, bản chất của quyền đòi nợ chính là quyền u cầu chủ

thể khác thanh tốn một khoản tiền nhất định, như vậy, quyền đòi nợ là một dạng

quyền yêu cầu. Do đó, các chế định pháp luật về chuyển giao quyền yêu cầu cũng

được áp dụng với chuyển giao quyền đòi nợ. Việc chuyển giao quyền yêu cầu được

quy định tại các Điều từ 309 đến 314 của Bộ luật Dân sự năm 2005. Theo đó,

chuyển giao quyền yêu cầu là việc bên có quyền yêu cầu thực hiện chuyển giao

quyền yêu cầu đó cho người thế quyền theo thỏa thuận. Khác với khi chuyển giao

nghĩa vụ, khi chuyển giao quyền yêu cầu, bên có quyền khơng cần sự đồng ý, chấp

thuận của bên có nghĩa vụ mà chỉ cần thơng báo cho bên có nghĩa vụ về việc mình

đã chuyển giao quyền yêu cầu. Trên cơ sở thơng báo của người có quyền, kể từ thời

điểm quyền yêu cầu được chuyển giao cho người thế quyền, bên có nghĩa vụ sẽ tiếp

tục thực hiện nghĩa vụ dân sự với người thế quyền. Do quyền đòi nợ là tài sản khá

đặc thù – tài sản vô hình nên việc chuyển giao quyền sở hữu tài sản này cũng có sự

khác biệt so với chuyển giao quyền sở hữu các tài sản hữu hình. Nếu như đối với

các loại tài sản hữu hình khi chuyển giao quyền sở hữu bên chuyển giao sẽ phải bàn

giao tài sản hiện hữu cho bên nhận chuyển giao thì đối với tài sản là quyền đòi nợ,

bên chuyển giao chỉ có thể bàn giao cho bên nhận chuyển giao các giấy tờ, tài liệu

chứng minh quyền sở hữu đối với quyền đòi nợ đó là các hợp đồng đã được ký kết,



17



các văn bản tài liệu chứng minh bên chuyển giao đã hồn thành nghĩa vụ với bên có

nghĩa vụ (nếu có).

Tóm lại, mặc dù có các điểm khác biệt so với việc chuyển giao, chuyển nhượng

quyền sở hữu các loại tài sản hữu hình nhưng việc chuyển giao quyền sở hữu quyền

đòi nợ hồn tồn có thể thực hiện được và đang ngày càng trở nên phổ biến trong

nền kinh tế hiện nay.

Ngồi 02 đặc điểm nêu trên, quyền đòi nợ còn một điểm đặc trưng khác đó là

tính chất hỗn hợp của nó. Quyền đòi nợ khơng chỉ là một tài sản mà nó còn phản

ánh, thể hiện một mối quan hệ trong giao dịch dân sự. Khi nói tới các tài sản thông

thường khác, người ta chỉ liên tưởng đến bản thân tài sản đó và chủ sở hữu tài sản,

khơng có sự xuất hiện của một chủ thể khác cho đến khi gắn tài sản đó với một giao

dịch cụ thể như cho thuê, cho mượn, tặng cho, chuyển nhượng; nhưng khi nhắc tới

quyền đòi nợ, chúng ta luôn liên tưởng đến sự tồn tại của 2 chủ thể là bên có quyền

yêu cầu và bên có nghĩa vụ thanh tốn, trong đó bên có quyền là chủ sở hữu của tài

sản còn bên có nghĩa vụ thanh tốn là yếu tố khơng thể thiếu để góp phần tạo nên

quyền đòi nợ.

1.2.1.3 Các giao dịch có đối tượng là quyền đòi nợ tại Ngân hàng thương mại

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh giữa các Ngân hàng ngày

càng khốc liệt, điều này khiến các Ngân hàng thương mại phải đẩy mạnh việc đa

dạng hóa sản phẩm dịch vụ, đơn giản hóa thủ tục hành chính. Đồng thời với việc đa

dạng hóa sản phẩm dịch vụ là sự đa dạng hóa các loại tài sản bảo đảm. Nếu như

trước đây các tổ chức tín dụng nói chung và các ngân hàng thương mại nói riêng

chủ yếu nhận bảo đảm bằng các loại tài sản thơng dụng như quyền sử dụng đất, nhà

ở, cơng trình xây dựng trên đất, ơ tơ, nhà xưởng thì đến nay các loại tài sản được

các ngân hàng thương mại chấp nhận nhận làm tài sản bảo đảm đã đa dạng hơn, bao

gồm cả các loại tài sản như cổ phần, phần vốn góp, các loại tài sản hình thành trong

tương lai và đặc biệt là cả các tài sản vơ hình như quyền đòi nợ, quyền khai thác

khống sản và các loại quyền tài sản khác.



18



Để có thể phục vụ khách hàng một cách tốt nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho

khách hàng đồng thời bảo vệ tối đa quyền lợi của mình, đa số các Ngân hàng

thương mại đều xây dựng quy định riêng về việc nhận bảo đảm bằng quyền đòi nợ.

Theo đó, xác định cụ thể các loại quyền đòi nợ nhận bảo đảm, đối tượng khách

hàng, mục đích cấp tín dụng có thể được bảo đảm bằng quyền đòi nợ, điều kiện đối

với khách hàng vay vốn có bảo đảm bằng quyền đòi nợ, quy trình nhận bảo đảm

bằng quyền đòi nợ, cách thức định giá, thẩm quyền tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ,

tỷ lệ cho vay tối đa tính trên giá trị quyền đòi nợ … Sự ra đời của sản phẩm cho vay

thế chấp bằng quyền đòi nợ là hồn tồn phù hợp với xu thế kinh tế hiện nay, đáp

ứng kịp thời nhu cầu vay vốn ngày càng tăng cao của các nhà đầu tư.

Đa số các Ngân hàng thương mại khơng hạn chế hình thức cấp tín dụng được

nhận bảo đảm bằng quyền đòi nợ, tức là khách hàng có thể sử dụng quyền đòi nợ

làm tài sản bảo đảm cho mọi loại nghĩa vụ tín dụng của mình, bao gồm nhưng

không giới hạn nghĩa vụ trả nợ phát sinh từ hợp đồng vay vốn, hợp đồng cấp bảo

lãnh, hợp đồng phát hành thư tín dụng.

Tại ngân hàng thương mại, các hoạt động có đối tượng là quyền đòi nợ không

chỉ bao gồm hoạt động bảo đảm tiền vay mà còn có các hoạt động khác như bao

thanh tốn, chiếu khấu hối phiếu đòi nợ. Trong mỗi hoạt động nêu trên, vai trò, tính

chất của quyền đòi nợ có sự khác biệt nhất định.

a. Giao dịch bao thanh toán

Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng 2010 quy định: “Bao thanh tốn là hình thức

cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo

lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc

mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng

dịch vụ”.

Như đã nêu tại Mục 1 Chương 1 của Luận văn này, hoạt động ngân hàng là hoạt

động khá đặc thù, nhạy cảm. Do đó, quy định của pháp luật đối với lĩnh vực này

cũng khá chặt chẽ, các tổ chức tín dụng nói chung và ngân hàng thương mại nói

riêng chỉ được thực hiện các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh



19



khác ghi trong Giấy phép được Ngân hàng nhà nước cấp. Vì vậy, hoạt động bao

thanh tốn cũng khơng phải là một ngoại lệ, ngân hàng thương mại chỉ được thực

hiện hoạt động bao thanh toán sau khi hoạt động đó được ghi nhận trong Giấy phép

hoạt động của ngân hàng thương mại.

Tương tự các hình thức cấp tín dụng khác như cho vay, bảo lãnh, hoạt động bao

thanh toán cũng bao gồm ba phương thức là bao thanh toán từng lần, bao thanh toán

theo hạn mức và đồng bao thanh toán. Mỗi phương thức bao thanh toán nêu trên

đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định, tùy thuộc vào tình hình kinh doanh và

nhu cầu về nguồn vốn mà khách hàng có thể thỏa thuận với Ngân hàng thương mại

để lựa chọn phương thức bao thanh toán phù hợp và có lợi nhất.

Từ các phân tích trên đây có thể thấy rằng, đối tượng của hoạt động bao thanh

tốn chính là các khoản phải thu hoặc khoản phải trả và bản chất của hoạt động bao

thanh toán chính là việc mua lại quyền yêu cầu bên mua hàng/bên nhận cung ứng

dịch vụ thanh toán giá trị hàng hóa/dịch vụ được cung ứng khi các khoản thanh tốn

này chưa đến hạn. Trong điều kiện khủng hoảng kinh tế, sự hạn chế, eo hẹp về

nguồn vốn đòi hỏi các nhà đầu tư phải hết sức linh hoạt, việc quay vòng nguồn vốn

trở thành yếu tố sống còn đối với một doanh nghiệp. Giữa thực trạng ấy, bao thanh

toán trở thành một giải pháp, một lựa chọn tối ưu đối với các nhà đầu tư, hoạt động

này đã phần nào giải quyết được nhu cầu vốn của các nhà đầu tư. Thay vì phải chờ

đợi một khoảng thời gian nhất định (theo thỏa thuận tại hợp đồng mua bán hàng

hóa, cung ứng dịch vụ) để có thể nhận được tiền thanh toán của bên mua/bên sử

dụng dịch vụ, bên bán có thể bán lại quyền đòi nợ bên mua cho Ngân hàng thương

mại để thu hồi vốn và tái đầu tư vào sản xuất, kinh doanh.

b. Giao dịch chiết khấu hối phiếu đòi nợ

Khoản 19 Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng 2014 quy định: “Chiết khấu là việc

mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các cơng cụ chuyển nhượng,

giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán”.

Khoản 2 Điều 4 Luật các công cụ chuyển nhượng 2005 quy định: “Hối phiếu

đòi nợ là giấy tờ có giá do người ký phát lập, yêu cầu người bị ký phát thanh toán



20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Khái quát về quyền đòi nợ và pháp luật về thế chấp quyền đòi nợ tại Ngân hàng thương mại

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×