Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHÁP LUẬT VỀ THẾ CHẤP QUYỀN ĐÒI NỢ VÀ THỰC TIỄN THẾ CHẤP QUYỀN ĐÒI NỢ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

PHÁP LUẬT VỀ THẾ CHẤP QUYỀN ĐÒI NỢ VÀ THỰC TIỄN THẾ CHẤP QUYỀN ĐÒI NỢ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

bản pháp luật quan trọng, cơ bản nhất. Trên cơ sở Nghị định này, các bộ - cơ quan

chuyên môn của từng lĩnh vực, ngành, ban hành các Thông tư hướng dẫn về các vấn

đề liên quan đến việc nhận bảo đảm bằng các loại tài sản thuộc phạm vi quản lý của

bộ, ngành mình.

Ngồi các điều khoản áp dụng chung đối với các biện pháp bảo đảm, Nghị

định 163/2006/NĐ-CP dành riêng 02 điều (Điều 22 và Điều 66) để quy định về vấn

đề thế chấp quyền đòi nợ. Điều này cho thấy việc thế chấp quyền đòi nợ đã được

các nhà làm luật quan tâm đến từ khá sớm. Tuy nhiên, từ đó cho đến nay, vẫn chưa

có thêm văn bản pháp luật nào quy định cụ thể, rõ ràng và đầy đủ hơn về vấn đề thế

chấp quyền đòi nợ. Đây có lẽ là một trong những rào cản khiến việc nhận thế chấp

loại tài sản này phát triển chậm hơn so với các loại tài sản khác.

Với số lượng điều khá khiêm tốn dành cho việc quy định vấn đề thế chấp

quyền đòi nợ, Nghị định 163/2006/NĐ-CP mới chỉ đề cập đến các nội dung cơ bản

nhất của việc thế chấp quyền đòi nợ đó là phạm vi thế chấp quyền đòi nợ, quyền,

nghĩa vụ của bên thế chấp, bên nhận thế chấp quyền đòi nợ, xử lý tài sản bảo đảm là

quyền đòi nợ.

Thứ nhất: về phạm vi thế chấp quyền đòi nợ

Điều 22 của Nghị định 163/2006/NĐ-CP khẳng định “Bên có quyền đòi nợ

được thế chấp một phần hoặc tồn bộ quyền đòi nợ, bao gồm cả quyền đòi nợ hình

thành trong tương lai mà khơng cần có sự đồng ý của bên có nghĩa vụ trả nợ”. Từ

quy định này có thể thấy được quan điểm của nhà làm luật về tài sản là quyền đòi

nợ, theo đó, các nhà làm luật xác định quyền đòi nợ là loại tài sản có thể phân chia

theo phần. Vì vậy, bên có quyền đòi nợ có thể lựa chọn thế chấp một phần hoặc toàn

bộ quyền đòi nợ. Tức là, với quyền đòi nợ phát sinh từ một hợp đồng mua bán hàng

hóa/cung ứng dịch vụ, bên có quyền đòi nợ hồn tồn có thể thế chấp tại một hoặc

nhiều tổ chức tín dụng khác nhau, dĩ nhiên là với điều kiện được các bên nhận thế

chấp đồng ý. Cũng từ quy định trên có thể thấy rằng pháp luật còn cho phép bên có

quyền đòi nợ có thể thế chấp cả quyền đòi nợ hình thành trong tương lai. Trên thực

tế, việc thế chấp một phần quyền đòi nợ khơng phải là vấn đề đơn giản mà hết sức



31



phức tạp, nan giải. Giả dụ, Công ty A vay vốn tại Ngân hàng B, để bảo đảm cho

nghĩa vụ trả nợ của mình, Cơng ty A thế chấp cho Ngân hàng B quyền đòi nợ phát

sinh từ hợp đồng cung cấp hàng hóa ký giữa Cơng ty A và Công ty C. Hợp đồng

cung cấp hàng hóa nêu trên có tổng giá trị là 1 tỷ đồng hay nói cách khác là quyền

đòi nợ có giá trị 1 tỷ đồng. Tuy nhiên, do khoản vay của Cơng ty A với Ngân hàng

B chỉ có giá trị 200 triệu đồng nên các bên thỏa thuận Công ty A chỉ thế chấp cho

Ngân hàng B một phần khoản nợ phát sinh từ Hợp đồng cung cấp hàng hóa nêu

trên. Vậy lúc này, chúng ta sẽ xác định phần nào của quyền đòi nợ sẽ là phần đã

được Cơng ty A đem đi thế chấp? Khi Công ty C thực hiện thanh toán một phần giá

trị hợp đồng, làm thế nào để xác định phần được thanh toán ấy là phần thuộc quyền

đòi nợ đã được thế chấp hay thuộc phần chưa được thế chấp. Với tính chất là tài sản

vơ hình, việc xác định giá trị, sự tồn tại, sự tham gia giao dịch của quyền đòi nợ đã

khó, việc phân chia quyền đòi nợ lại càng khó hơn nữa. Như vậy, rõ ràng quy định

nêu trên chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học pháp lý mà khơng có ý nghĩa áp dụng. Hơn

nữa, trên thực tế, khơng có Ngân hàng thương mại nào chấp thuận chỉ nhận thế chấp

một phần quyền đòi nợ, dù cho giá trị của quyền đòi nợ đó có thể lớn hơn rất nhiều

so với giá trị nghĩa vụ được bảo đảm.

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 của Nghị định 163/2006/NĐ-CP được sửa

đổi bổ sung bởi Nghị định số 11/2012/NĐ-CP thì:

“2. Tài sản hình thành trong tương lai gồm:

a) Tài sản được hình thành từ vốn vay;

b) Tài sản đang trong giai đoạn hình thành hoặc đang được tạo lập hợp pháp

tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm;

c) Tài sản đã hình thành và thuộc đối tượng phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng

sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm thì tài sản đó mới được đăng ký

theo quy định của pháp luật.

Tài sản hình thành trong tương lai không bao gồm quyền sử dụng đất”.

Rất dễ nhận thấy quy định các tài sản hình thành trong tương lai nêu trên

dường như chỉ hướng đến các tài sản hữu hình (cụ thể hơn là nhà ở và các cơng

trình xây dựng), có vẻ khá trùng lặp và chưa bao quát hết các loại tài sản có thể coi

32



là tài sản tương lai, đặc biệt là các quyền tài sản. Rất khó có thể xác định một quyền

đòi nợ nào đó có phải là quyền đòi nợ tương lai nếu dựa vào danh sách này.

Có quan điểm cho rằng, quyền đòi nợ tương lai là quyền đòi nợ chưa trở

thành tài sản của bên thực hiện giao dịch. Nó có thể còn chưa phát sinh do giao dịch

hay sự kiện pháp lý có thể làm phát sinh quyền đòi nợ này còn chưa diễn ra. Các

khoản phải thu tương lai (future account receivables) là các khoản phải thu phát

sinh từ các hợp đồng với khách hàng của doanh nghiệp mà các hợp đồng này còn

chưa được ký kết. Nhưng theo quan điểm của tác giả, quyền đòi nợ phát sinh trong

tương lai khơng hẳn là quyền đòi nợ phát sinh từ các hợp đồng chưa được ký kết mà

có thể hợp đồng đã được ký kết nhưng bên bán hàng/bên cung ứng dịch vụ chưa

thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ nghĩa vụ với bên mua hàng/bên sử dụng dịch

vụ, do đó, chưa phát sinh nghĩa vụ thanh toán của bên mua/bên sử dụng dịch vụ.

Như vậy, giữa quy định pháp với việc triển khai thực hiện quy định đó trên

thực tế có khoảng cách khá xa.

Thứ hai: Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch thế chấp quyền đòi

nợ

Trong hợp đồng song vụ, quyền của bên này sẽ là đồng thời là nghĩa vụ của

bên kia, hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ là một loại hợp đồng song vụ, vì vậy

nguyên lý nêu trên cũng hoàn toàn đúng với loại hợp đồng này. Bên nhận thế chấp

quyền đòi nợ có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ trả nợ phải thanh tốn cho mình nếu

đến hạn mà bên được bảo đảm bằng quyền đòi nợ đó khơng thực hiện hoặc thực

hiện khơng đúng nghĩa vụ, ngược lại, bên có nghĩa vụ trả nợ lại có nghĩa vụ phải

thanh tốn cho bên nhận thế chấp. Bên có nghĩa vụ trả nợ có quyền u cầu còn bên

nhận thế chấp có nghĩa vụ cung cấp thơng tin về việc thế chấp quyền đòi nợ.

Trong giao dịch thế chấp quyền đòi nợ, có sự tham gia của bốn bên chủ thể,

bao gồm: bên thế chấp, bên nhận thế chấp, bên được bảo đảm và bên có nghĩa vụ

thanh tốn. Trong đó, bên thế chấp và bên được bảo đảm có thể là một chủ thể

(trong trường hợp bên thế chấp dùng quyền đòi nợ để bảo đảm cho nghĩa vụ của

chính mình) hoặc là hai chủ thể khác nhau (trong trường hợp bên thế chấp dùng



33



quyền đòi nợ để bảo đảm cho nghĩa vụ của người khác). Hợp đồng thế chấp quyền

đòi nợ có thể có sự tham gia giao kết của tất cả các bên chủ thể này (Hợp đồng bốn

bên), hoặc có sự tham gia giao kết của ba bên chủ thể gồm bên thế chấp, bên nhận

thế chấp và bên có nghĩa vụ được bảo đảm (Hợp đồng ba bên) hoặc chỉ có sự tham

gia giao kết của hai chủ thể chính là bên thế chấp và bên nhận thế chấp (Hợp đồng

hai bên). Trên thực tế, các Ngân hàng thương mại thường yêu cầu giao kết Hợp

đồng ba bên, theo đó, sự tham gia của bên có nghĩa vụ thanh tốn như một sự xác

nhận cơng nợ với bên thế chấp, đồng thời thừa nhận nghĩa vụ thanh toán cho bên

nhận thế chấp, cũng từ đó, các Ngân hàng thương mại sẽ ràng buộc trách nhiệm của

bên có nghĩa vụ thanh toán, yêu cầu chủ thể này cam kết hợp tác, thiện chí và thực

hiện nghĩa vụ thanh tốn nếu bên được bảo đảm không thực hiện hoặc thực hiện

không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ. Tuy nhiên, dù có tham gia giao kết Hợp đồng thế

chấp quyền đòi nợ hay khơng thì bên có nghĩa vụ thanh tốn cũng khơng thể phủ

nhận, chối bỏ nghĩa vụ của mình. Bởi nghĩa vụ thanh toán của họ phát sinh từ hợp

đồng cung cấp hàng hóa/cung ứng dịch vụ chứ khơng phải phát sinh từ hợp đồng

thế chấp quyền đòi nợ, việc thanh toán cho bên thế chấp hay bên nhận thế chấp thực

chất khơng có gì khác biệt.

Mặc dù là chủ sở hữu của quyền đòi nợ, nhưng một khi đã xác lập giao dịch

thế chấp đối với quyền đòi nợ đó, quyền của chủ sở hữu đối với tài sản đó sẽ bị hạn

chế đáng kể. Khi đã thế chấp quyền đòi nợ, trong thời hạn thế chấp, bên thế chấp sẽ

mất đi quyền định đoạt đối với quyền đòi nợ đó, tức là bên thế chấp sẽ khơng thể

chuyển nhượng, tặng cho quyền đòi nợ đó cho bất cứ chủ thể nào khác nếu không

được bên nhận thế chấp đồng ý. Cũng do đã thế chấp quyền đòi nợ ấy nên khi bên

có nghĩa vụ thanh tốn thanh tốn cho bên thế chấp giá trị quyền đòi nợ, bên thế

chấp không thể tự do định đoạt, sử dụng số tiền ấy mà phải sử dụng theo đúng thỏa

thuận trong hợp đồng thế chấp đã ký với bên nhận thế chấp và thông thường, số tiền

ấy sẽ được bên nhận thế chấp phong tỏa và khấu trừ luôn vào nghĩa vụ được bảo

đảm.



34



Đối với các Ngân hàng thương mại với tư cách là bên nhận thế chấp, các

Ngân hàng thương mại có quyền yêu cầu bên thế chấp cung cấp thơng tin về quyền

đòi nợ nhận thế chấp, tình hình thực hiện quyền đòi nợ trong suốt thời gian nhận thế

chấp quyền đòi nợ, có quyền u cầu bên có nghĩa vụ thanh toán thực hiện thanh

toán theo quy định tại hợp đồng cung cấp hàng hóa/cung ứng dịch vụ phát sinh

quyền đòi nợ khi bên được bảo đảm vi phạm nghĩa vụ được bảo đảm.

Về phần bên có nghĩa vụ thanh toán, như đã nêu ở trên, việc thanh tốn giá

trị hợp đồng mua bán hàng hóa/cung ứng dịch vụ cho bên thế chấp hay bên nhận thế

chấp về bản chất khơng có gì khác biệt. Trong giao dịch thế chấp, bên có nghĩa vụ

thanh tốn có quyền u cầu bên nhận thế chấp cung cấp các thông tin, tài liệu theo

đó chứng minh bên nhận thế chấp đã nhận thế chấp quyền đòi nợ và nếu bên nhận

thế chấp khơng cung cấp được thơng tin thì bên có nghĩa vụ thanh tốn có thể từ

chối thanh tốn tiền cho bên nhận thế chấp. Tuy nhiên, quyền yêu cầu cung cấp

thơng tin này chỉ có giá trị trong trường hợp bên có nghĩa vụ thanh tốn khơng tham

gia giao kết hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ.

Nhìn chung, chế độ pháp lý của thế chấp quyền đòi nợ còn khá sơ lược.

Chẳng hạn về tính đối kháng của giao dịch thế chấp quyền đòi nợ với bên có nghĩa

vụ trả nợ, Điểm b, Khoản 2 Ðiều 22 và Điểm b, Khoản 3 Ðiều 22, Nghị định

163/2006/NĐ-CP quy định "bên nhận thế chấp quyền đòi nợ có nghĩa vụ cung cấp

thơng tin về việc thế chấp quyền đòi nợ, nếu bên có nghĩa vụ trả nợ yêu cầu" và

"bên có nghĩa vụ trả nợ có quyền yêu cầu bên nhận thế chấp cung cấp thông tin về

việc thế chấp quyền đòi nợ; nếu khơng cung cấp thơng tin thì có quyền từ chối

thanh toán cho bên nhận thế chấp". Các quy định này chưa rõ, bởi vì khơng chỉ ra

được thông tin được bên nhận thế chấp cung cấp cho bên có nghĩa vụ trả nợ là về

việc xác lập giao dịch thế chấp quyền đòi nợ hay về diễn biến của giao dịch thế

chấp quyền đòi nợ. Vấn đề tính đối kháng đối với bên nhận thế chấp của các

phương tiện phòng vệ mà bên có nghĩa vụ trả nợ có thể đưa ra để từ chối thanh tốn

hay chỉ thanh toán một phần khoản nợ cho bên nhận thế chấp cũng còn đang bỏ



35



ngỏ. Hơn nữa, các nhà làm luật chưa đưa ra được giải pháp về xử lý tài sản thế chấp

trong trường hợp quyền đòi nợ đến hạn trước hay sau nghĩa vụ được bảo đảm.

2.1.2 Quy định của pháp luật về Hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ

Chế định hợp đồng là một chế định quan trọng của Bộ luật Dân sự, Bộ luật

Dân sự năm 2005 dành hẳn một mục với 40 điều (từ Điều 388 đến Điều 427) để quy

định về các vấn đề liên quan đến hợp đồng dân sự. Hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ

là một loại hợp đồng dân sự, do đó, nó cũng phải tuân thủ các quy định pháp luật áp

dụng đối với hợp đồng dân sự nói chung.

Theo Điều 388 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì “Hợp đồng dân sự là sự thỏa

thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân

sự”. Khái niệm hợp đồng nêu trên đã nói lên bản chất của hợp đồng là sự thỏa

thuận. Trong dân sự, sự tự nguyện của các bên tham gia giao dịch là yếu tố quyết

định, vì vậy sự thỏa thuận của các bên là nguyên tắc cơ bản, tiên quyết và sự thỏa

thuận của các bên luôn được ưu tiên hàng đầu, điều này lý giải vì sao trong hầu hết

các quy định của Bộ luật Dân sự chúng ta đều thấy mở ra nội dung “trừ trường hợp

các bên có thỏa thuận khác”.

Trên cơ sở khái niệm hợp đồng dân sự nêu trên có thể hiểu “Hợp đồng thế

chấp quyền đòi nợ” là sự thỏa thuận giữa bên thế chấp và bên nhận thế chấp về việc

xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt giao dịch thế chấp quyền đòi nợ.

Cũng giống như các loại hợp đồng dân sự khác, hợp đồng thế chấp tài sản

nói chung và hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ nói riêng phải tuân thủ các quy định

của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, hình thức của hợp đồng, nội

dung hợp đồng, nguyên tắc giao kết, xác lập hợp đồng, quy định về chấm dứt hợp

đồng …

Theo quy định tại Điều 401 của Bộ luật Dân sự năm 2005 thì Hợp đồng dân

sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, nếu

pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức

nhất định. Như vậy, nếu pháp luật không quy định cụ thể loại hợp đồng đó phải

được giao kết bằng hình thức nào thì các bên tham gia giao kết hợp đồng hồn tồn



36



có quyền lựa chọn hình thức giao kết. Trong các hình thức giao kết hợp đồng nêu

trên, hình thức giao kết bằng văn bản là hình thức dễ xác định nhất, phổ biến hơn cả

và được các bên tin tưởng lựa chọn nhiều nhất, đặc biệt, trong lĩnh vực ngân hàng

thì gần như tồn bộ các giao dịch đều được giao kết bằng hình thức này.

Hình thức giao kết bằng lời nói thường được sử dụng đối với những giao

dịch có giá trị nhỏ, được xác lập, thực hiện và chấm dứt trong một khoảng thời gian

ngắn, ví dụ mua sắm các đồ dùng, vật dụng có giá trị nhỏ phục vụ cho sinh hoạt

hàng ngày hoặc trong các trường hợp mà các bên giao kết hợp đồng có quan hệ thân

thiết, tin tưởng lẫn nhau. Hình thức giao kết bằng hành vi có thể nói là hình thức ít

được sử dụng nhất. Pháp luật hiện hành khơng có định nghĩa cụ thể về các hình thức

giao kết hợp đồng, do đó, ngồi hình thức giao kết bằng văn bản là hình thức khá rõ

ràng và tương đối dễ xác định, việc xác định và phân biệt hai hình thức giao kết hợp

đồng còn lại vẫn đang có nhiều tranh cãi và nhiều quan điểm khác nhau.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, hợp đồng được coi là được giao kết bằng lời

nói nếu các bên tham gia giao kết hợp đồng thỏa thuận, thống nhất các nội dung với

nhau thông qua việc trao đổi bằng lời. Trường hợp khơng có sự trao đổi, thống nhất

bằng lời nói mà thể hiện bằng hành động thì hình thức giao kết hợp đồng đó là bằng

hành vi. Quan điểm này lấy tiêu chí có sử dụng lời nói trong giao kết hợp đồng hay

khơng để xác định hình thức giao kết của hợp đồng đó. Như vậy, nếu theo quan

điểm này thì những người khiếm thính (khơng thể nghe) và những người khơng thể

nói (người câm) sẽ khơng thể giao kết hợp đồng dưới hình thức bằng lời nói. Tác

giả cho rằng, quan điểm này chưa linh hoạt và cứng nhắc.

Quan điểm thứ hai lại cho rằng, tiêu chí để phân biệt một hợp đồng được

giao kết bằng lời nói hay hành vi đó là sự xuất hiện của các bên chủ thể tại thời

điểm giao kết hợp đồng. Nếu tại thời điểm giao kết hợp đồng có sự xuất hiện và có

thể xác định được cả hai bên chủ thể thì hình thức giao kết hợp đồng đó là bằng lời

nói. Ngược lại, nếu tại thời điểm giao kết hợp đồng chỉ có sự xuất hiện và chỉ xác

định được một bên chủ thể thì hình thức giao kết hợp đồng đó là bằng hành vi. Như

vậy, theo quan điểm này thì kể cả các bên chủ thể gặp nhau nhưng khơng trao đổi,



37



thống nhất bằng lời nói mà hành động, đưa ra ám hiệu, ký hiệu thì hình thức giao

kết của hợp đồng đó vẫn là bằng lời nói, mặc dù khơng hề có sự xuất hiện của lời

nói trong suốt quá trình giao kết hợp đồng.

Trong hai quan điểm nêu trên, tác giả tán thành với quan điểm thứ hai và cho

rằng tiêu chí phân biệt theo quan điểm thứ hai đưa ra là khá hợp lý.

Đối với hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ, vì là một loại hợp đồng thế chấp

nên hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ phải tn thủ hình thức của hợp đồng thế chấp

tài sản nói chung. Theo quy định tại Điều 343 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì việc thế

chấp tài sản phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi

trong hợp đồng chính. Trong trường hợp pháp luật có quy định thì văn bản thế chấp

phải được công chứng, chứng thực hoặc đăng ký. Pháp luật dân sự hiện hành không

quy định hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ phải cơng chứng, chứng thực, do đó, hợp

đồng thế chấp quyền đòi nợ chỉ cần được lập thành văn bản là đáp ứng yêu cầu của

pháp luật.

Mặc dù pháp luật hiện hành cho phép các bên tham gia giao kết hợp đồng thế

chấp quyền đòi nợ có thể thỏa thuận lập hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ riêng hoặc

ghi nhận các nội dung về thế chấp quyền đòi nợ trong hợp đồng chính nhưng thực tế

nhận thế chấp quyền đòi nợ tại các Ngân hàng thương mại cho thấy tất cả các Ngân

hàng thương mại đều yêu cầu lập hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ riêng. Sở dĩ như

vậy là vì các lý do sau đây:

Thứ nhất: Tại thời điểm giao kết hợp đồng phát sinh quyền đòi nợ, bản thân

bên có quyền đòi nợ có thể chưa có ý định sẽ thế chấp quyền đòi nợ đó hoặc giả sử

có ý định đi chăng nữa thì có thể cũng chưa xác định được bên nhận thế chấp (chủ

thể không thể thiếu trong giao dịch thế chấp quyền đòi nợ). Vì vậy, việc thỏa thuận

các điều kiện về thế chấp quyền đòi nợ trong hợp đồng phát sinh quyền đòi nợ và

ngay khi xác lập hợp đồng này là không thể thực hiện được.

Thứ hai: Nếu giao dịch thế chấp phát sinh sau khi hợp đồng phát sinh quyền

đòi nợ đã được giao kết mà các bên muốn ghi nhận các thỏa thuận về giao dịch thế

chấp ngay trong hợp đồng phát sinh quyền đòi nợ thì các bên sẽ phải lập phụ lục



38



sửa đổi, bổ sung hợp đồng hoặc hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng đã giao kết.

Liên quan đến việc lập Phụ lục hợp đồng hay hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng,

hiện nay đang có nhiều cách hiểu khác nhau và tranh cãi. Theo quy định tại Khoản

1 Điều 108 Bộ luật Dân sự thì phụ lục hợp đồng là để quy định chi tiết một số điều

khoản của hợp đồng. Xuất phát từ quy định này của pháp luật, nhiều quan điểm cho

rằng nếu muốn sửa đổi, bổ sung hợp đồng, các bên phải lập hợp đồng sửa đổi, bổ

sung hợp đồng chứ không phải phụ lục hợp đồng. Tuy nhiên, trên thực tế, để sửa đổi

bổ sung hợp đồng, các thủ thể vẫn thực hiện lập phụ lục hợp đồng và giá trị pháp lý

của nó được các cơ quan có thẩm quyền cơng nhận.

Thứ ba: Giao dịch thế chấp là giao dịch giữa bên thế chấp và bên nhận thế

chấp, trong nhiều trường hợp, việc ghi nhận các điều khoản về thế chấp quyền đòi

nợ trong hợp đồng mua bán hàng hóa/cung ứng dịch vụ có thể gây ra những ảnh

hưởng nhất định đến bên có nghĩa vụ thanh tốn, vì vậy, bên có nghĩa vụ thanh tốn

khơng muốn tham gia vào giao dịch này. Khi đó, các bên chỉ có một lựa chọn duy

nhất là ký hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ riêng.

Thứ tư: Để đảm bảo tính thống nhất và không mất nhiều thời gian soạn thảo,

đàm phán hợp đồng thế chấp cho từng trường hợp cụ thể, các Ngân hàng thương

mại thường xây dựng mẫu hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ để áp dụng chung cho

các trường hợp. Do đó, việc ký kết hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ riêng giúp họ

chủ động hơn và tiết kiệm được khá nhiều thời gian, chi phí.

Theo quy định của pháp luật hiện hành về đăng ký giao dịch bảo đảm thì thế

chấp quyền đòi nợ là giao dịch khơng bắt buộc phải đăng ký. Tuy nhiên, thứ tự đăng

ký và việc có đăng ký hay khơng lại là các tiêu chí xác định thứ tự ưu tiên thanh

tốn theo quy định tại Điều 325 của Bộ luật Dân sự năm 2005, cụ thể như sau:

“Thứ tự ưu tiên thánh toán khi xử lý tài sản bảo đảm được xác định như sau:

1.Trong trường hợp giao dịch bảo đảm được đăng ký thì việc xác định thứ tự ưu

tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm được xác định theo thứ tự đăng ký;



39



2. Trong trường hợp một tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa

vụ dân sự mà có giao dịch bảo đảm có đăng ký, có giao dịch bảo đảm khơng

đăng ký thì giao dịch bảo đảm có đăng ký được ưu tiên thanh tốn”.

Hơn nữa, như đã phân tích ở Chương I của Luận văn, quyền đòi nợ là tài sản

vơ hình nên việc quản lý đối với loại tài sản này là khá phức tạp, tình trạng quyền

đòi nợ đã được thế chấp tại ngân hàng này nhưng lại tiếp tục được đem thế chấp tại

ngân hàng khác là hoàn toàn có khả năng xảy ra, vì vậy để bảo đảm quyền ưu tiên

thanh tốn của mình, trên thực tế hầu hết các Ngân hàng thương mại vẫn thực hiện

đăng ký giao dịch bảo đảm khi nhận thế chấp quyền đòi nợ.

Cũng giống như các hợp đồng khác, các quy định của pháp luật về điều kiện

có hiệu lực của giao dịch dân sự cũng được áp dụng đối với hợp đồng thế chấp

quyền đòi nợ. Theo đó, hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ có hiệu lực khi đáp ứng đủ

các điều kiện sau đây:

Điều kiện thứ nhất: Người tham gia ký kết hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ

có năng lực hành vi dân sự.

Năng lực hành vi dân sự của một chủ thể là khả năng của chủ thể bằng hành

vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự. Đối với chủ thể là cá nhân,

pháp luật căn cứ vào độ tuổi để xác định cá nhân đó có đầy đủ năng lực hành vi dân

sự hay không. Theo quy định tại Điều 19 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì cá nhân có

năng lực hành vi dân sự đầy đủ khi từ đủ 18 tuổi trở lên. Do đó, trong giao dịch thế

chấp quyền đòi nợ, nếu một bên chủ thể là cá nhân thì một trong những điều kiện để

hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ có hiệu lực là cá nhân đó phải từ đủ 18 tuổi trở lên.

Đối với pháp nhân thì năng lực pháp luật và năng lực hành vi được xác lập từ khi

pháp nhân đó được thành lập và chỉ chấm dứt khi pháp nhân đó khơng còn tồn tại,

bị giải thể, phá sản. Mọi hợp đồng, giao dịch do một pháp nhân thực hiện phải được

xác lập, ký kết bởi người đại diện theo pháp luật của pháp nhân đó hoặc người được

người đại diện theo pháp luật của pháp nhân đó ủy quyền. Do đó, việc xác định tư

cách của chủ thể là pháp nhân khi tham gia giao kết hợp đồng thế chấp quyền đòi

nợ không chỉ dừng lại ở việc xác định xem pháp nhân đó có được thành lập một



40



cách hợp pháp hay khơng mà còn phải xác định tư cách của người đại diện giao kết

hợp đồng để đảm bảo rằng người giao kết/ký kết hợp đồng có thẩm quyền giao

kết/ký kết hợp đồng. Trường hợp người đại diện ký kết hợp đồng không phải là

người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thì phải có hợp đồng/văn bản ủy quyền

còn thời hạn hiệu lực của người đại diện theo pháp luật. Thời hạn ủy quyền được

xác định theo quy định tại hợp đồng/văn bản ủy quyền, trường hợp hợp đồng/văn

bản ủy quyền khơng quy định thời hạn ủy quyền thì theo quy định tại Điều 582 Bộ

luật Dân sự, hợp đồng/văn bản ủy quyền có hiệu lực một năm kể từ ngày xác lập

việc ủy quyền.

Điều kiện thứ hai: Mục đích và nội dung của hợp đồng thế chấp quyền đòi

nợ khơng vi phạm điều cấm của pháp luật, khơng trái đạo đức xã hội.

Điều 128 của Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định điều cấm của pháp luật là

những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất

định, đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong

đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng. Như vậy, nếu hợp đồng thế

chấp quyền đòi nợ được giao kết nhằm bảo đảm cho một nghĩa vụ trái pháp luật hay

trái đạo đức xã hội hoặc nội dung của hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ có các nội

dung, điều khoản trái với quy định của pháp luật, đạo đức xã hội thì hợp đồng thế

chấp quyền đòi nợ đó khơng đáp ứng được điều kiện nêu trên và sẽ khơng có hiệu

lực.

Ví dụ, Ông A là Tổng Giám đốc của Ngân hàng X, ông A có nhu cầu vay vốn

để mua nhà và đã vay vốn tại Ngân hàng Y, để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của

Ông A đối với Ngân hàng Y, Ngân hàng X đã sử dụng quyền đòi nợ của Ngân hàng

này đối với Công ty B phát sinh từ Hợp đồng cung ứng dịch vụ ký kết giữa Ngân

hàng X và Công ty B. Theo quy định tại Điều 126 Luật các TCTD năm 2010, Ngân

hàng X khơng được bảo đảm dưới bất kỳ hình thức nào để tổ chức tín dụng khác

cấp tín dụng cho Ơng A. Như vậy, việc Ngân hàng X sử dụng quyền đòi nợ của

mình làm tài sản bảo đảm cho Ơng A vay vốn tại Ngân hàng Y đã vi phạm điều cấm



41



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHÁP LUẬT VỀ THẾ CHẤP QUYỀN ĐÒI NỢ VÀ THỰC TIỄN THẾ CHẤP QUYỀN ĐÒI NỢ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×