Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
THẾ CHẤP QUYỀN ĐÒI NỢ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

THẾ CHẤP QUYỀN ĐÒI NỢ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 4 Luật các TCTD năm 2010 thì: “Ngân hàng

thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng

và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi

nhuận”.

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 Luật các TCTD năm 2010 thì: “Ngân hàng

là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng

theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình

ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp

tác xã”.

Như vậy, căn cứ các quy định pháp luật nêu trên, thì Ngân hàng thương mại là

một loại hình tổ chức tín dụng và là loại hình ngân hàng có phạm vi hoạt động rộng

nhất trong số các loại hình ngân hàng, vì nó khơng chỉ được thực hiện tất cả các

hoạt động ngân hàng mà còn được thực hiện “các hoạt động kinh doanh khác” theo

quy định của Luật các TCTD năm 2010.

1.1.2 Hoạt động của Ngân hàng thương mại

Như đã nêu tại mục 1.1, Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng có phạm

vi hoạt động rộng nhất, theo đó, hoạt động của Ngân hàng thương mại bao gồm hoạt

động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác được phép theo quy định của

Luật các TCTD năm 2010.

1.1.2.1 Hoạt động ngân hàng của Ngân hàng thương mại

Khoản 7 Điều 20 Luật các TCTD năm 1997 được sửa đổi bổ sung theo Luật số

20/2004/QH11 quy định: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và

dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này

để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh tốn”.

Theo quy định tại Khoản 12 Điều 4 Luật các TCTD năm 2010 thì: “Hoạt động

ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp

vụ sau đây:

a) Nhận tiền gửi;

b) Cấp tín dụng;



5



c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”.

Như vậy, so với Luật các TCTD cũ, khái niệm hoạt động ngân hàng trong Luật

các TCTD năm 2010 đã có sự thay đổi lớn về mặt nội hàm, cụ thể: hoạt động ngân

hàng bao gồm một trong ba hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ

thanh tốn qua tài khoản thay vì phải thực hiện đồng thời cả ba hoạt động trên. Sự

thay đổi này là phù hợp với tình hình kinh tế của Việt Nam và phù hợp với quy định

của các nước trên thế giới, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư và thể hiện sự

hội nhập của pháp luật Việt Nam với pháp luật thế giới.

a) Hoạt động nhận tiền gửi

Khoản 13 Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng 2010 quy định: “Nhận tiền gửi là

hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi khơng kỳ hạn, tiền

gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu

và các hình thức nhận tiền gửi khác theo ngun tắc có hồn trả đầy đủ tiền gốc,

lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận”.

Hoạt động nhận tiền gửi là hoạt động đặc thù của loại hình tổ chức tín dụng là

ngân hàng. Theo đó, ngân hàng có thể nhận tiền gửi của cả tổ chức và cá nhân, nhận

tiền gửi dưới hình thức tiền gửi có kỳ hạn hoặc khơng kỳ hạn tùy thuộc vào thỏa

thuận giữa ngân hàng và người gửi tiền. Để kiểm soát hoạt động nhận tiền gửi của

các ngân hàng, đảm bảo sự phát triển an toàn của hoạt động ngân hàng, Ngân hàng

Nhà nước Việt Nam với vai trò là Ngân hàng Trung ương đã có những biện pháp

nhất định và một trong các biện pháp hữu hiệu đó là quy định trần lãi suất gửi tiền.

Biện pháp này của Ngân hàng Nhà nước khi mới đưa vào áp dụng đã gây ra khơng

ít khó khăn cho các Ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện,

rõ ràng biện pháp này đã có những tác động tích cực đến hoạt động ngân hàng nói

riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung, bằng chứng là hoạt động ngân hàng diễn

ra một cách minh bạch hơn, lãi suất cho vay giảm mạnh tạo cơ hội cho các doanh

nghiệp tiếp cận nguồn vốn dễ dàng hơn từ đó thúc đẩy hoạt động đầu tư.

b) Hoạt động cấp tín dụng



6



Khoản 14 Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng 2010 quy định: “Cấp tín dụng là

việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép

sử dụng một khoản tiền theo ngun tắc có hồn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết

khấu, cho th tài chính, bao thanh tốn, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp

tín dụng khác”.

So với quy định tại Luật các TCTD năm 1997 (được sửa đổi bổ sung theo Luật

số 20/2004/QH11), khái niệm cấp tín dụng được mở rộng hơn, theo đó bao gồm cả

nghiệp vụ bao thanh toán. Tuy vậy, đến Luật các TCTD năm 2010, hoạt động bao

thanh tốn vẫn còn là một nghiệp vụ khá mới mẻ với các ngân hàng thương mại.

Trong số các nghiệp vụ cấp tín dụng, cho vay là nghiệp vụ cấp tín dụng cơ bản,

phổ biến, có ý nghĩa sống còn đối với các Ngân hàng thương mại và được các Ngân

hàng thương mại chú trọng nhất. Theo thống kê của Phòng Thương mại và Cơng

nghiệp Việt Nam (VCCI), trong năm 2014, tỷ lệ dư nợ cho vay chiếm tới 42,85% tỷ

lệ dư nợ cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại.

Khoản 16 Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng 2010 quy định: “Cho vay là hình

thức cấp tín dụng theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một

khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo

thỏa thuận với nguyên tắc có hồn trả cả gốc và lãi”. Cho vay bao gồm các hình

thức cho vay ngắn hạn (thời hạn cho vay đến 12 tháng), cho vay trung hạn (thời hạn

cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng), cho vay dài hạn (thời hạn cho vay trên 60

tháng). Hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng được điều chỉnh bởi Quy chế cho

vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng được ban hành kèm theo Quyết định số

1627/2001/QĐ-NHNN. Quy chế này đã được sửa đổi, bổ sung 2 lần bằng Quyết

định số 127/2005/QĐ-NHNN và Quyết định số 783/2005/QĐ-NHNN và đến nay

các văn bản này vẫn đang có hiệu lực thi hành. Sau một thời gian dài áp dụng, Quy

chế cho vay hiện hành đã bộc lộ những điểm bất cập và khơng còn phù hợp với tình

hình thực tế. Trong điều kiện hoạt động cấp tín dụng nói chung và cho vay nói riêng

có nhiều diễn biến phức tạp như hiện nay, để đáp ứng tình hình thực tế, Ngân hàng



7



nhà nước đang dự thảo văn bản thay thế cho Quy chế cho vay hiện hành, nhằm góp

phần giải quyết được các vướng mắc mà hoạt động tín dụng hiện nay đang gặp phải.

Ngồi hình thức cho vay, bảo lãnh ngân hàng cũng là một trong các hình thức

cấp tín dụng truyền thống.

Khoản 18 Điều 4 Luật Các Tổ chức tín dụng 2010 quy định:

“Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam

kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính

thay cho khách hàng khi khách hàng khơng thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ

nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng

theo thỏa thuận”.

Như vậy, nếu cho vay là nghiệp vụ mà ngân hàng gần như chắc chắn phải giao

cho khách hàng một khoản tiền thì bảo lãnh ngân hàng lại là nghiệp vụ phát sinh

nghĩa vụ trong tương lai của ngân hàng và có thể nghĩa vụ này (nghĩa vụ trả nợ

thay) sẽ không phát sinh (trong trường hợp bên được bảo lãnh không vi phạm nghĩa vụ).

Ngồi các hình thức cấp tín dụng phổ biến nêu trên, các hình thức cấp tín dụng

khác như chiết khấu, cho th tài chính, bao thanh tốn cũng đang được các Ngân

hàng thương mại ngày càng chú trọng nhằm đa dạng hóa sản phẩm tín dụng để có

thể đáp ứng mọi nhu cầu của mọi đối tượng khách hàng.

c) Hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản

Khoản 15 Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng 2010 quy định: “Cung ứng dịch vụ

thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch

vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư

tín dụng và các dịch vụ thơng qua tài thanh tốn khác cho khách hàng khoản của

khách hàng”.

Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản có thể nói là hoạt động ngân hàng

đặc thù nhất, đây là hoạt động nghiệp vụ mà chỉ các ngân hàng mới được quyền

thực hiện, cung ứng.

Trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, dịch vụ thanh toán

qua tài khoản là dịch vụ thiết yếu, mang lại cơ hội đầu tư, kinh doanh cho cả người



8



sử dụng tài khoản (khách hàng) và các Ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, sự phát

triển của hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản cũng đặt ra cho các

Ngân hàng thương mại không ít thách thức, đó là áp lực nâng cao chất lượng dịch

vụ để cạnh tranh với các đối tác, áp lực về vấn đề an ninh thông tin, bảo mật đặc

biệt là trong điều kiện tội phạm công nghệ cao đang gia tăng và diễn biến một cách

phức tạp như hiện nay. Ngồi ra, vấn đề phòng, chống rửa tiền cũng là một thách

thức rất lớn với các Ngân hàng thương mại, vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến

hoạt động, có nguy cơ gây thiệt hại về vật chất cho các Ngân hàng thương mại mà

còn là điều kiện để các Ngân hàng thương mại hội nhập kinh tế thế giới.

1.1.2.2. Các hoạt động kinh doanh khác của Ngân hàng thương mại

a) Góp vốn, mua cổ phần

Lĩnh vực ngân hàng là lĩnh vực quan trọng và có ảnh hưởng lớn đến các lĩnh

vực khác của nền kinh tế xã hội, vì vậy, sự quản lý, kiểm sốt của Nhà nước đối với

lĩnh vực này cũng chặt chẽ hơn so với các lĩnh vực khác. Nếu như ở các lĩnh vực,

ngành nghề kinh tế khác, các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp có thể thực hiện những

hoạt động mà pháp luật khơng cấm thì riêng đối với lĩnh vực ngân hàng các tổ chức,

cá nhân, doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện các hoạt động mà pháp luật cho phép.

Do đặc thù ngành nghề nên hoạt động góp vốn, mua cổ phần của Ngân hàng thương

mại cũng phải tuân thủ những điều kiện, quy định pháp luật nhất định, cụ thể là:

-



Ngân hàng thương mại chỉ được góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp



hoạt động trong các lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán, kiều hối, kinh doanh ngoại

hối, vàng, bao thanh tốn, phát hành thẻ tín dụng, tín dụng tiêu dùng, dịch vụ trung

gian thanh tốn, thơng tin tín dụng. Trường hợp muốn góp vốn, mua cổ phần của

doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khác ngoài các lĩnh vực nêu trên thì phải

được sự chấp thuận trước bằng văn bản của Ngân hàng Nhà nước theo quy định tại

khoản 4 Điều 103 Luật các Tổ chức tín dụng 2010.

- Mức góp vốn, mua cổ phần của một ngân hàng thương mại và các công ty

con, công ty liên kết của ngân hàng thương mại đó (trừ trường hợp công ty con,

công ty liên kết là công ty quản lý quỹ góp vốn, mua cổ phần từ nguồn vốn của các

quỹ do công ty quản lý) vào một doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực bảo hiểm,

9



chứng khoán, kiều hối, kinh doanh ngoại hối, vàng, bao thanh toán, phát hành thẻ

tín dụng, tín dụng tiêu dùng, dịch vụ trung gian thanh tốn, thơng tin tín dụng khơng

được vượt q 11% vốn điều lệ của doanh nghiệp nhận vốn góp theo quy định tại

khoản 1 Điều 18 Thông tư 36/2014/TT – NHNN quy định về tỷ lệ đảm bảo an toàn

trong hoạt động của Ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngồi.

- Tổng mức góp vốn, mua cổ phần của một ngân hàng thương mại vào các

doanh nghiệp, bao gồm cả mức vốn cấp, vốn góp vào các công ty con, công ty liên

kết của ngân hàng thương mại đó khơng được vượt q 40% vốn điều lệ và quỹ dự

trữ của ngân hàng thương mại theo quy định tại khoản 2 Điều 18 Thông tư

36/2014/TT – NHNN quy định về tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của Ngân

hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngồi .

- Ngân hàng thương mại khơng được góp vốn, mua cổ phần của các doanh

nghiệp, tổ chức tín dụng khác là cổ đơng, thành viên góp vốn của chính ngân hàng

thương mại đó; khơng được góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp, tổ chức

tín dụng khác là người có liên quan của cổ đơng lớn, của người quản lý của ngân

hàng thương mại đó theo quy định tại khoản 5 Điều 18 Thông tư 36/2014/TT –

NHNN quy định về tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của Ngân hàng thương

mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Như vậy, mặc dù pháp luật cho phép Ngân hàng thương mại được thực hiện hoạt

động góp vốn, mua cổ phần, nhưng để có thể thực tế thực hiện được hoạt động này,

các Ngân hàng thương mại phải đáp ứng khá nhiều các điều kiện chặt chẽ và tuân

thủ nghiêm ngặt các giới hạn về tỷ lệ sở hữu cổ phần, phần vốn góp do Ngân hàng

nhà nước quy định.

b) Tham gia thị trường tiền tệ

Thị trường tiền tệ là thị trường vốn ngắn hạn, nơi diễn ra các hoạt động của cung

và cầu nguồn vốn ngắn hạn. Hiện nay, thị trường tiền tệ được chia thành thị trường

sơ cấp và thị trường thứ cấp. Thị trường sơ cấp là nơi diễn ra các hoạt động mua,

bán lần đầu các loại giấy tờ có giá. Thị trường thứ cấp là nơi diễn ra các hoạt động

mua, bán từ lần thứ 2 trở đi các loại giấy tờ có giá, thị trường này còn được gọi là



10



thị trường liên ngân hàng vì chủ thể tham gia thị trường này chủ yếu là các ngân

hàng, các tổ chức tín dụng.

Theo Điều 104 Luật các Tổ chức tín dụng 2010 thì việc tham gia thị trường tiền

tệ của Ngân hàng thương mại được thể hiện qua các hoạt động tham gia đấu thầu tín

phiếu Kho bạc, mua, bán cơng cụ chuyển nhượng, trái phiếu Chính phủ, tín phiếu

Kho bạc, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước và các giấy tờ có giá khác.

Giao dịch mua, bán giấy tờ có giá được chia thành hai loại là giao dịch mua bán

thông thường và giao dịch mua bán có kỳ hạn. Giao dịch mua bán thơng thường là

giao dịch mua bán mà theo đó quyền sở hữu giấy tờ có giá được chuyển từ người

bán sang người mua và các bên khơng có thỏa thuận về việc bên bán sẽ mua lại giấy

tờ có giá. Giao dịch mua, bán có kỳ hạn là giao dịch mà một tổ chức tín dụng, chi

nhánh ngân hàng nước ngồi mua và nhận quyền sở hữu giấy tờ có giá chưa đến

hạn thanh toán (bên mua) từ một tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngồi

khác (bên bán), đồng thời bên bán cam kết sẽ mua lại giấy tờ có giá đó sau một

khoảng thời gian nhất định.

c) Kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối và sản phẩm phái sinh

Theo quy định tại khoản 1 Điều 105 Luật các Tổ chức tín dụng 2010 thì sau khi

được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản, ngân hàng thương mại được

kinh doanh, cung ứng dịch vụ cho khách hàng ở trong nước và nước ngoài các sản

phẩm sau đây:

-



Ngoại hối;

Phái sinh về tỷ giá, lãi suất, ngoại hối, tiền tệ và tài sản tài chính khác.



Hoạt động ngoại hối của tổ chức tín dụng được phép là hoạt động kinh doanh

ngoại hối, cung ứng dịch vụ ngoại hối của tổ chức tín dụng được phép với người cư

trú, người không cư trú trong giao dịch vãng lai, giao dịch vốn và các giao dịch

khác liên quan đến ngoại hối trên thị trường trong nước và thị trường quốc tế.

d) Nghiệp vụ ủy thác

Ủy thác là việc một bên (bên ủy thác) giao vốn bằng tiền cho một bên khác (bên

nhận ủy thác) để thực hiện một số hoạt động theo quy định của pháp luật đối với đối

tượng ủy thác, bên ủy thác chịu mọi rủi ro, bên nhận ủy thác được hưởng phí ủy

11



thác. Hiện nay, Thông tư số 30/2014/TT-NHNN quy định Ngân hàng thương mại

chỉ được thực hiện ủy thác, nhận ủy thác đối với các hoạt động cho vay; góp vốn,

mua cổ phần; mua trái phiếu doanh nghiệp và chỉ được triển khai thực hiện hoạt

động ủy thác, nhận ủy thác nếu các hoạt động này đã được ghi nhận trong Giấy

phép hoạt động của Ngân hàng thương mại.

e) Các hoạt động kinh doanh khác của Ngân hàng thương mại

Ngoài các hoạt động kinh doanh nêu trên, Ngân hàng thương mại còn được phép

thực hiện các hoạt động kinh doanh khác như:

-



Dịch vụ quản lý tiền mặt, tư vấn ngân hàng, tài chính; các dịch vụ quản lý,



bảo quản tài sản, cho thuê tủ, két an tồn.

- Tư vấn tài chính doanh nghiệp, tư vấn mua, bán, hợp nhất, sáp nhập doanh

nghiệp và tư vấn đầu tư.

- Mua, bán trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp.

- Dịch vụ môi giới tiền tệ.

- Lưu ký chứng khoán, kinh doanh vàng và các hoạt động kinh doanh khác

liên quan đến hoạt động ngân hàng sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận

bằng văn bản.

Tuy nhiên, các hoạt động kinh doanh nêu trên không phải là hoạt động kinh

doanh trọng yếu của các Ngân hàng thương mại.

1.2 Khái quát về quyền đòi nợ và pháp luật về thê chấp quyền đòi nợ tại

Ngân hàng thương mại

1.2.1 Khái quát về quyền đòi nợ

1.2.1.1Khái niệm quyền đòi nợ

Mặc dù quyền đòi nợ khơng phải phạm trù quá mới mẻ nhưng cho đến hiện nay,

pháp luật thực định chưa có văn bản nào ghi nhận chính thức về khái niệm này.

Quyền đòi nợ là quyền yêu cầu một chủ thể khác thanh toán một khoản tiền theo

hợp đồng/thỏa thuận đã được xác lập giữa các bên. Do đó, quyền đòi nợ được coi là

một loại thuộc quyền tài sản.

Quyền đòi nợ (debt claim, money claim, debt) có tính chất khá đặc biệt vì nó

phản ánh việc một nghĩa vụ vừa là một mối quan hệ về mặt pháp luật, đồng thời lại

là một loại tài sản.

12



Dưới góc độ của pháp luật về nghĩa vụ dân sự, quyền đòi nợ (khoản nợ, quyền

u cầu thanh tốn) là quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện một công việc

quy định tại Ðiều 291 của Bộ luật dân sự năm 2005, cụ thể là phải thanh toán một

khoản tiền cho bên có quyền tại một thời điểm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng.

Thời điểm thỏa thuận này có thể là một thời điểm nhất định trong tương lai, nhưng

quyền đòi nợ có thể được thanh tốn khi bên có quyền yêu cầu hay khi phát sinh một

sự kiện tương lai nhất định mà các bên đã thỏa thuận. Bên có quyền chỉ có thể yêu

cầu việc thanh tốn này từ phía bên có nghĩa vụ chứ không thể yêu cầu một bên thứ

ba làm việc này bởi quyền đòi nợ chỉ thiết lập các mối quan hệ giữa bên có quyền và

bên có nghĩa vụ mà thơi. Ðiều này minh họa cho tính chất tương đối của quyền đòi nợ.

Dưới góc độ của pháp luật về tài sản, quyền đòi nợ là một loại quyền tài sản

(Khoản 1 Ðiều 322, Bộ luật Dân sự năm 2005) và quyền tài sản lại là một trong bốn

loại tài sản theo quy định tại Điều 163 của Bộ luật Dân sự năm 2005. Như vậy, có

thể hiểu rộng hơn quyền đòi nợ là một tài sản. Ðối tượng của quyền đòi nợ chính là

khoản tiền sẽ được thanh tốn vào một thời điểm nhất định.

Trong khuôn khổ pháp luật giao dịch bảo đảm, Ðiều 322 của Bộ luật Dân sự

năm 2005 phân biệt quyền đòi nợ với quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng (rights

under a contract) theo hướng đây là hai loại quyền tài sản độc lập với nhau. BLDS

công nhận một khái niệm pháp lý khác là quyền yêu cầu (các Ðiều từ 309 đến Ðiều

314). Khoản 4 và 5, Ðiều 22, Nghị định 163/2006/NÐ-CP ngày 29/12/2006 của

Chính phủ về giao dịch bảo đảm đã được bổ sung, sửa đổi theo Nghị định

11/2012/NĐ-CP (gọi tắt là Nghị định 163/2006/NĐ-CP) coi quyền đòi nợ là một

loại quyền yêu cầu. Trước đây, khoản 1.1, điểm d, Thông tư số 04/2007/TT-BTP

ngày 17/5/2007 của Bộ Tư pháp hướng dẫn về thẩm quyền, trình tự và thủ tục đăng

ký, cung cấp thông tin về hợp đồng mua trả chậm, trả dần, hợp đồng thuê tài sản,

hợp đồng cho thuê tài chính và hợp đồng chuyển giao quyền đòi nợ đã định nghĩa

quyền đòi nợ theo hướng liệt kê gồm quyền đòi nợ phát sinh từ hợp đồng vay, hợp

đồng mua bán, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng dịch vụ hoặc phát sinh từ các căn

cứ hợp pháp khác. Song, quy định này đã được thay thế bởi Thông tư số



13



05/2011/TT-BTP của Bộ Tư pháp ngày 16/02/2011 hướng dẫn một số vấn đề về

đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm, hợp đồng, thông báo việc kê biên

tài sản thi hành án theo phương thức trực tiếp, bưu điện, fax, thư điện tử tại Trung

tâm Ðăng ký giao dịch, tài sản của Cục Ðăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc

Bộ Tư pháp. Thay vào đó, Ðiều 2, khoản 2, điểm 2.4 Thông tư 05/2011/TT-BTP

quy định: "Hợp đồng chuyển giao quyền đòi nợ bao gồm quyền đòi nợ hiện có hoặc

quyền đòi nợ hình thành trong tương lai". Dường như các nhà làm luật muốn mở

rộng hơn căn cứ phát sinh quyền đòi nợ khi khơng giới hạn ở các hợp đồng nhất

định nữa. Tuy nhiên, không có quy định nào của BLDS giải thích nội hàm của các

quyền phát sinh từ hợp đồng. Có thể hiểu quyền đòi nợ là một quyền u cầu mang

tính chắc chắn có thể được thực thi trong khi quyền phát sinh từ hợp đồng là quyền

yêu cầu ít chắc chắn hơn, có tính chất ngẫu nhiên hơn, tức là phụ thuộc vào các tình

huống nhất định để chuyển một quyền tiềm năng thành một quyền có thể thực thi

được. Quyền phát sinh từ hợp đồng bao gồm rất nhiều loại quyền, chẳng hạn như

quyền chọn (options), quyền phát sinh từ một hợp đồng cho thuê tàu biển, quyền

phát sinh từ vận đơn, quyền phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, quyền phát

sinh từ hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp hay quyền thuê phát sinh từ

hợp đồng thuê: Quyền đòi nợ và quyền phát sinh từ hợp đồng là hai loại quyền yêu

cầu tiêu biểu.

Quyền đòi nợ có thể chia thành hai loại là quyền đòi nợ đã hình thành và quyền

đòi nợ hình thành trong tương lai. Cách phân loại này được đa số các nhà khoa học,

các tổ chức, cá nhân thừa nhận và đồng tình. Tuy nhiên, cách hiểu về “quyền đòi nợ

đã hình thành” và “quyền đòi nợ hình thành trong tương lai” lại là vấn đề gây khá

nhiều tranh cãi.

Theo tác giả ý kiến của tác giả Bùi Đức Giang đăng trên mục Kiến thức pháp

luật ngày 18/6/2013 thì quyền đòi nợ tương lai là quyền đòi nợ chưa trở thành tài

sản của bên thực hiện giao dịch. Nó có thể còn chưa phát sinh do giao dịch hay sự

kiện pháp lý có thể làm phát sinh quyền đòi nợ này còn chưa diễn ra [6]. Chẳng hạn

đối với một công ty hàng không, thu nhập từ việc bán các vé máy bay hiện còn chưa



14



được bán nhưng sắp được bán là các quyền đòi nợ hình thành trong tương lai vì

giao dịch bán chưa diễn ra. Các khoản phải thu tương lai (future account

receivables) là các khoản phải thu phát sinh từ các hợp đồng với khách hàng của

doanh nghiệp mà các hợp đồng này còn chưa được ký kết. Tiền phạt vi phạm hợp

đồng khi một cầu thủ vi phạm nghĩa vụ với một câu lạc bộ bóng đá cũng là một

quyền đòi nợ tương lai vì sự kiện pháp lý (việc cầu thủ vi phạm nghĩa vụ quy định

trong hợp đồng) chưa diễn ra. Cần lưu ý một khoản nợ sẽ được thanh toán trong

tương lai theo quy định tại một hợp đồng đã được ký kết là một quyền đòi nợ hiện

tại chứ khơng phải là một quyền đòi nợ tương lai. Tuy vậy, một quyền đòi nợ tương

lai có thể đã tồn tại nhưng chưa thuộc khối tài sản của bên thực hiện giao dịch.

Chẳng hạn, một hợp đồng mua bán tài sản đã được ký kết và việc thanh toán được

thực hiện theo nhiều đợt. Bên bán có quyền đòi nợ đối với bên mua và có thể

chuyển giao quyền đòi nợ này[6].

Trong khi đó, tác giả Trần Anh Tuấn đăng trong bài viết “Các chế định pháp luật

về quyền đòi nợ” trên Tạp chí Luật học số 323 lại cho rằng, quyền đòi nợ đã hình

thành là quyền đòi nợ phát sinh từ các hợp đồng đã được ký kết và bên có quyền đã

thực hiện tất cả các nghĩa vụ với bên có nghĩa vụ (ví dụ nghĩa vụ giao hàng, nghĩa

vụ cung ứng dịch vụ …) hoặc bên có quyền đã hồn thành một phần nghĩa vụ bàn

giao hàng hóa/cung cấp dịch vụ và bên có nghĩa vụ sẽ phải thực hiện thanh toán

theo tiến độ giao hàng/cung cấp dịch vụ. Quyền đòi nợ hình thành trong tương lai là

quyền đòi nợ phát sinh từ các hợp đồng mua bán hàng hóa/cung cấp dịch vụ đã

được ký kết nhưng bên có quyền chưa hồn thành nghĩa vụ bàn giao hàng hóa/cung

ứng dịch vụ theo hợp đồng mua bán hàng hóa/cung cấp dịch vụ hoặc chưa hoàn

thành nghĩa vụ khác và chưa được thanh toán [19].

Như vậy, nếu tác giả Bùi Đức Giang căn cứ vào việc Hợp đồng/giao dịch phát

sinh quyền đòi nợ đã được xác lập, giao kết hay chưa để xác định quyền đòi nợ đó

là hình thành trong tương lai hay đã hình thành thì tác giả Trần Anh Tuấn lại căn cứ

vào việc bên có quyền đã thực hiện các nghĩa vụ với bên có nghĩa vụ thanh tốn hay

chưa để xác định quyền đòi nợ đó là đã hình thành hay hình thành trong tương lai.



15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

THẾ CHẤP QUYỀN ĐÒI NỢ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×