Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thứ nhất, NHCSXH tỉnh Hà Nam đã áp dụng thành công các hình thức huy động vốn và cho vay hộ nghèo theo quy định. Nhờ đó, cả nguồn vốn huy động và doanh số cho vay hộ nghèo đều tăng lên theo thời gian, tạo điều kiện để các hộ nghèo được vay vốn phù hợp với

Thứ nhất, NHCSXH tỉnh Hà Nam đã áp dụng thành công các hình thức huy động vốn và cho vay hộ nghèo theo quy định. Nhờ đó, cả nguồn vốn huy động và doanh số cho vay hộ nghèo đều tăng lên theo thời gian, tạo điều kiện để các hộ nghèo được vay vốn phù hợp với

Tải bản đầy đủ - 0trang

năm 2010 xuống còn 3,92% năm 2014, tỷ lệ giảm 8,89%. Số hộ nghèo trên

địa bàn tỉnh năm 2010 là: 30.205 hộ giảm xuống còn 10.458 hộ năm 2014

(giảm 19.747 hộ).

Thứ ba, hoạt động tín dụng hộ nghèo của chi nhánh NHCSXH tỉnh Hà

Nam đã góp phần tạo cơng ăn việc làm và thu nhập cho người nghèo. Nhờ

nguồn vốn cho vay của NHCSXH tỉnh Hà Nam, bình qn mỡi năm đã giải

quyết việc làm cho hơn 10 ngàn lao động nghèo trong tỉnh và giúp phát huy

tiềm năng sẵn có của các hộ gia đình. Đó cũng là điều kiện để khai thác và

phát huy mọi tiềm lực về đất đai, ngành nghề, tạo điều kiện sản xuất, đẩy lùi

nạn cho vay nặng lãi, tình trạng bán lúa non, bán và cầm cố ruộng đất ở nơng

thơn. Theo đó, đời sống dân nghèo được cải thiện góp phần ổn định kinh tế,

chính trị, xã hội của địa phương.

3.3.2. Hạn chế và nguyên nhân

3.3.2.1. Các hạn chế chủ yếu

Bên cạnh những thành tựu kể trên, hoạt động quản lý tín dụng đối với

hộ nghèo tại NHCSXH tỉnh Hà Nam vẫn còn nhiều hạn chế, trong đó các hạn

chế chính là:

- Cơ chế tạo lập nguồn vốn còn thiếu tính ổn định lâu dài, cơ cấu

nguồn vốn chưa hợp lý. Nguồn vốn tín dụng chính sách chủ yếu phải được tập

trung để cho vay trung và dài hạn. Tuy nhiên nguồn vốn tín dụng hộ nghèo

hiện nay chủ yếu là vốn ngắn hạn. Nguồn vốn ngân sách hàng năm Chính phủ

chuyển sang cho NHCSXH để cho vay còn hạn chế; trong khi đó nguồn vốn

huy động ngân sách địa phương để cho vay hộ nghèo mới đáp ứng một phần

rất nhỏ. NHCSXH tỉnh Hà Nam gần như chưa tiếp cận được các nguồn vốn

nhân đạo, vốn ODA, các nguồn vốn vay có thời hạn dài, lãi suất thấp.

- Mức cho vay bình qn mợt hợ còn thấp. Do nguồn vốn còn hạn chế,

chủ yếu dựa vào nguồn vốn của trung ương nên mặc dù dư nợ đối với hộ

79



nghèo đã được nâng lên, nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của hộ vay.

Điều này đã phần nào tác động xấu đến hiệu quả vốn vay.

- Hiệu quả sử dụng nguồn vốn chưa cao. Sự phối hợp giữa các hoạt

động hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ của các tổ chức Nhà nước, các

đơn vị sự nghiệp, các doanh nghiệp và các tổ chức chính trị- xã hội với hoạt

động tín dụng chính sách của NHCSXH chưa cao.

- Chất lượng hoạt đợng của Tổ TK&VV mợt số nơi còn hạn chế. Ban

quản lý tổ TK&VV yếu về năng lực, trình độ, thiếu trách nhiệm nên còn để

xẩy ra tình trạng bình xét cho vay sai đối tượng, vay ké, xâm tiêu vốn ưu đãi,

hộ vay sử dụng vốn sai mục đích, ban quản lý tổ hoạt động chưa đúng chức

năng, nhiệm vụ theo hợp đồng ủy nhiệm đã ký với NHCSXH.

- Cơng tác kiểm tra, giám sát còn chồng chéo. Việc xây dựng kế hoạch

kiểm tra giám sát hàng năm thiếu tính đồng bộ, chưa có sự thống nhất giữa

các cấp, các ngành liên quan trong việc thực hiện kế hoạch kiểm tra giám sát,

dẫn tới việc kiểm tra chồng chéo giữa các đoàn kiểm tra giám sát lên cùng

một đối tượng được kiểm tra, giám sát. Chẳng hạn, tại xã Thanh Nguyên

huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam, vào tháng 7 và tháng 8/2014 được tiếp đón 5

đồn kiểm tra giám sát gồm: Đoàn kiểm tra, giám sát của NHCSXH tỉnh về

thực hiện chương trình kiểm tra giám sát nội bộ tại NHCSXH huyện Thanh

Liêm, trong đó có lựa chọn xã Thanh Nguyên là đối tượng kiểm tra chọn mẫu;

Đoàn kiểm tra của Ban đại diện HĐQT NHCSXH huyện Thanh Liêm thực

hiện chương trình kiểm tra giám sát theo định kỳ hàng năm; Đồn kiểm tra

của Hội Nơng dân tỉnh thực hiện chương trình kiểm tra năm 2015 theo kế

hoạch đã xây dựng; Đoàn kiểm tra của Hội Cựu chiến binh tỉnh thực hiện

chương trình kiểm tra năm 2015 theo kế hoạch đã xây dựng; Đoàn kiểm tra

của Hội Liên hiệp phụ nữ huyện thực hiện chương trình kiểm tra giám sát đột

xuất do tỷ lệ nợ quá hạn tại xã tăng cao.

80



3.3.2.2. Nguyên nhân

Các tồn tại, hạn chế trên là do nhiều nguyên nhân, trong đó có các

nguyên nhân chủ yếu sau:

Một là, tại một số địa phương sự quan tâm của cấp ủy Đảng, chính

quyền đối với hoạt động của NHCSXH còn hạn chế, một số tổ chức chính trị

xã hội nhận ủy thác đối với NHCSXH chưa làm hết trách nhiệm. Cá biệt ở

một số chính quyền địa phương cấp xã chưa thực sự quan tâm tới cho vay hộ

nghèo, còn khoán trắng cho các tổ chức hội đồn thể.

Hai là, việc bình xét cho vay hộ nghèo tại một số tổ TK&VV chưa thực

sự công khai, dân chủ, chưa bám sát vào danh sách hộ nghèo tại các địa

phương từng thời điểm cho vay. Dẫn đến nhiều hộ nghèo có nhu cầu vay vốn

chưa được tiếp cận với nguồn vốn tín dụng ưu đãi tại NHCSXH.

Ba là, nhận thức về quyền lợi và trách nhiệm của một bộ phận hộ nghèo khi

vay vốn không đúng, còn có tư tưởng trơng chờ, ỷ lại vào chính sách ưu đãi của

nhà nước, sử dụng vốn vay không hiệu quả, khơng chấp hành thanh tốn nợ gốc,

lãi cho ngân hàng khi đến hạn. Công tác tuyên truyền còn hạn chế.

Bốn là, nguồn nhân lực của NHCSXH Hà Nam còn mỏng, phải quản lý

lượng khách hàng lớn, đến 31/12/2014 bình quân mỗi cán bộ làm nghiệp vụ

tại chi nhánh quản lý 1.780 khách hàng, hơn 50 tổ TK&VV và gần 35 tỷ dư

nợ, do đó trong q trình hoạt động còn có một số bất cập, như: việc tham

mưu cho chính quyền địa phương cấp xã còn hạn chế; cơng tác hướng dẫn,

kiểm tra và giám sát hoạt động đối với tổ TK&VV, hộ vay vốn chưa thực sự

thường xuyên và sâu sát. Trong khi những cánh tay vươn dài của NHCSXH là

các Tổ TK&VV (thường là chi hội trưởng của các Hội, đoàn thể) lại thường

xuyên thay đổi do thay đổi nhân sự sau các kỳ đại hội…

Năm là, Cơ sở vật chất, kỹ thuật của NHCSXH còn hạn chế cả về số

lượng và chất lượng. Hiện nay để đảm bảo hiệu quả hoạt động tại chi nhánh,

cần trang bị thêm nhiều loại máy móc thiết bị như máy tính, máy in, máy soi

81



tiền, máy đếm tiền … và nhiều loại máy móc thiết bị khác để nâng cao suất

lao động và tiết kiệm thời gian, tăng chất lượng phục vụ khách hàng. Nhiều

loại tài sản, máy móc đã hết khấu hao chưa được trang bị lại cho các đơn vị

cấp huyện và ở cả cấp tỉnh do nguồn kinh phí được cấp hàng năm còn hạn chế

như: ơ tơ, máy phơ tơ, máy vi tính cấu hình cao…

Sáu là, công tác kiểm tra, giám sát của Ban đại diện HĐQT, tổ chức

chính trị- xã hội nhận làm dịch vụ uỷ thác các cấp còn hạn chế, chưa thường

xuyên. Chưa có sự thống nhất về kế hoạch kiểm tra, giám sát của các cấp, các

ngành có liên quan trong việc kiểm tra, giám sát tại cơ sở. Nên dẫn tới việc

kiểm tra, giám sát còn chồng chéo như đã nêu trên.

CHƯƠNG 4. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ CÁC GIẢI PHÁP

HỒN THIỆN QUẢN LÝ TÍN DỤNG HỘ NGHÈO

TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TỈNH HÀ NAM

4.1. Định hướng phát triển của NHCSXH tỉnh Hà Nam

4.1.1. Định hướng

Trên cơ sở các kết quả hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội và

mục tiêu chương trình XĐGN tỉnh Hà Nam giai đoạn 2010 - 2020; dựa vào

mục tiêu chiến lược phát triển của NHCSXH đến năm 2020 đã được Thủ

tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 852/QĐ-TTg ngày 10/07/2012,

Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Hà Nam đã xác định định hướng phát triển

đến năm 2020 là: Phát triển Chi nhánh NHCSXH tỉnh Hà Nam theo hướng ổn

định, bền vững, đủ năng lực để thực hiện tốt tín dụng chính sách của Nhà

nước tại địa phương, hỡ trợ có hiệu quả cho người nghèo và các đối tượng

chính sách tiếp cận với các sản phẩm, dịch vụ tài chính từ NHCSXH.

Tranh thủ sự ủng hộ tạo diều kiện của cấp ủy Đảng, các cấp chính

quyền cơ sở, nắm bắt thuận lợi và phát huy thành quả hoạt động trong hơn 10

năm qua, khắc phục những tồn tại hạn chế, phấn đấu vượt qua mọi khó khăn

82



hồn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

4.1.2. Mục tiêu

Để đạt được định hướng phát triển nêu trên, trong thời gian tới

NHCSXH tỉnh Hà Nam xác định thực hiện các mục tiêu cụ thể đến năm 2020

như sau:

- 100% hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác có nhu cầu và đủ

điều kiện đều được tiếp cận các sản phẩm, dịch vụ do NHCSXH cung cấp.

- Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn và dư nợ đạt bình quân hàng năm trên

10%; trong đó, phấn đấu đáp ứng đủ nhu cầu nguồn vốn phục vụ cho vay hộ

nghèo, hộ cận nghèo.

- Thực hiện tốt chỉ tiêu huy động vốn NHCSXH Việt Nam giao trong

từng thời kỳ.

- Giảm nợ quá hạn cả về số tuyệt đối và tương đối, hàng năm tỷ lệ nợ

quá hạn dưới 0,3% so với tổng dư nợ.

- Tỷ lệ thu nợ đạt tối thiểu 97% trên tổng dư nợ đến hạn.

- Tỷ lệ thu lãi đạt trên 98%.

- Phối hợp, lồng ghép có hiệu quả hoạt động tín dụng chính sách với

hoạt động hỡ trợ kỹ thuật, chủn giao cơng nghệ và hoạt động của các tổ

chức chính trị - xã hội nhằm mục tiêu giảm nghèo nhanh và bền vững, bảo

đảm an sinh xã hội.

4.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm hồn thiện quản lý tín dụng hộ nghèo

tại NHCSXH tỉnh Hà Nam.

4.2.1. Hồn thiện cơng tác xây dựng kế hoạch tín dụng hộ nghèo của tỉnh

Kế hoạch tín dụng hộ nghèo được xây dựng từ thơn, xóm, tổ dân phố

và giao chỉ tiêu kế hoạch được thực hiện từ NHCSXH đến cấp tỉnh, cấp

huyện, cấp xã và cấp chính quyền thơn, xóm, tổ dân phố. Tuy nhiên việc xây

dựng kế hoạch tín dụng hộ nghèo ở các cơ sở thơn xóm ở Hà Nam còn mang

83



tính hình thức, phụ thuộc vào chủ quan của chính quyền thơn, xóm, tổ dân

phố, chưa sát với tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo tại địa phương. Nguyên nhân

chủ yếu là do thời điểm triển khai xây dựng kế hoạch tín dụng hàng năm của

NHCSXH đối với cấp cơ sở (từ huyện đến thơn, xóm) thường vào khoảng

tháng 7 hàng năm. Tại thời điểm này, việc rà soát hộ nghèo của cấp chính

quyền chưa được triển khai thực hiện, nên chưa có cơ sở dự đốn chính xác tỷ

lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo được phê duyệt, từ đó ảnh hưởng đến việc xây

dựng kế hoạch không sát với thực tế.

Như vậy để hồn thiện cơng tác xây dựng kế hoạch tín dụng hộ nghèo,

NHCSXH tỉnh Hà Nam cần đề nghị NHCSXH Việt Nam xem xét thời điểm

triển khai xây dựng kế hoạch tín dụng cấp cơ sở (từ huyện đến thơn, xóm, tổ

dân phố) vào thời điểm tháng 10, tháng 11 hàng năm, sao cho kế hoạch tín

dụng hộ nghèo được các cấp xây dựng sát với thực tế và có tính khả thi cao.

4.2.2. Đẩy mạnh cơng tác tuyên truyền phổ biến về chính sách tín dụng hộ

nghèo và cơng khai hóa các hoạt động của ngân hàng

*. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền

Đẩy mạnh thông tin tuyên truyền với nhiều hình thức hiệu quả khác

nhau nhằm đưa chính sách ưu đãi của Chính phủ, hoạt động của NHCSXH

đến các cấp, các ngành, các tầng lớp dân cư đặc biệt là hộ nghèo để đạt kết

quả quan trọng là thay đổi và chuyển biến nhận thức trong giảm nghèo, thực

hiện có hiệu quả vốn tín dụng chính sách vươn lên thoát nghèo.

Thường xuyên tuyên truyền về chủ trương, chính sách về tín dụng hộ

nghèo trên các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là hệ thống đài

truyền thanh của xã, thôn; tại các buổi sinh hoạt tổ của các Tổ TK&VV; các

buổi họp tổ dân phố, thôn xóm…

*. Cơng khai hóa các hoạt động của ngân hàng



84



Việc công khai để mọi người dân, đặc biệt là hộ nghèo nắm rõ chính

sách cho vay của NHCSXH là một điều cần thiết, để nhân dân thực hiện và

kiểm tra, giám sát hoạt động của NHCSXH. Các nội dung NHCSXH cần phải

cơng khai đó là: Cơ chế cho vay đối với hộ nghèo tại từng thời điểm (hồ sơ,

thủ tục vay vốn, trả nợ, dư nợ của từng hộ vay), lãi suất cho vay, cơ chế xử lý

rủi ro đối với hộ nghèo gặp rủi ro bất khả kháng..., hoa hồng, phí ủy thác,

danh sách hộ nghèo vay vốn, danh sách hộ nghèo không đủ điều kiện vay

vốn. Những nội dung này được công khai ở điểm giao dịch, trụ sở NHCSXH

và trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Để được vay vốn chương trình tín dụng hộ nghèo của NHCSXH, thì

hộ gia đình phải thuộc diện hộ nghèo (có tên trong danh sách hộ nghèo do

UBND cấp xã lập hàng năm) và phải là thành viên của tổ tiết kiệm và vay

vốn, có điều kiện SXKD. Tổ TK&VV thực hiện bình xét đối tượng được vay

vốn, nhu cầu vay vốn, mục đích sử dụng vốn vay, mức vay vốn và thời gian

đề nghị vay vốn; hướng dẫn hộ vay viết giấy đề nghị vay vốn. Tổ vay vốn

lập hồ sơ đề nghị vay vốn, sau đó trình lên tổ chức chính trị- xã hội cấp xã

xét duyệt và trình lên UBND cấp xã xem xét quyết định xác nhận về đối

tượng đề nghị vay vốn về địa chỉ cư trú hợp pháp của hộ vay vốn. Việc bình

xét các hộ vay vốn được thực hiện một cách công khai, dân chủ.

Để đảm bảo tính cơng khai, dân chủ trong quá trình cho vay hộ nghèo,

Tổ TK&VV cần tăng cường công tác tuyên truyền để mọi người dân đều

nắm được đối tượng vay vốn, điều kiện được vay vốn, hồ sơ thủ tục vay vốn

hộ nghèo tại NHCSXH, thì tất cả các thông tin liên quan đến vay vốn phải

được công khai cho mọi người biết để cùng thực hiện; đồng thời cùng kiểm

tra, giám sát việc thực hiện.

Tiếp tục thực hiện tốt cơng tác cơng khai hóa văn bản chế độ, quy trình

thủ tục cho vay hộ nghèo tại NHCSXH tỉnh, NHCSXH huyện và tại các điểm

85



giao dịch xã. Niêm yết công khai tại các điểm giao dịch của NHCSXH về quy

trình cho vay, thủ tục hồ sơ cho vay, mức cho vay tối đa, thời hạn cho vay, lãi

suất cho vay…để hộ nghèo dễ dàng tiếp cận với chế độ, chính sách về cho

vay hộ nghèo của NHCSXH và thực hiện đúng, tránh việc hộ nghèo phải đi

lại nhiều lần và nộp các khoản phí, lệ phí sai quy định; giải ngân kịp thời đến

tận hộ vay nhưng vẫn đảm bảo đúng quy trình thủ tục, đảm bảo an toàn vốn.

4.2.3. Hoàn thiện tổ chức mạng lưới hoạt động

Mạng lưới tổ chức hoạt động của NHCSXH tỉnh Hà Nam gồm đơn vị 5

NHCSXH cấp huyện và Hội sở tỉnh, có 116 điểm giao dịch tại xã, 1.851 tổ tiết

kiệm và vay vốn. NHCSXH cấp huyện là nơi trực tiếp thực hiện việc cho vay

vốn đến hộ nghèo, ngân hàng cấp huyện có các tổ giao dịch lưu động, làm việc

tại điểm giao dịch xã vào một ngày cố định trong tháng. Vì vậy hồn thiện tổ

chức mạng lưới hoạt động của NHCSXH có vai trò quan trọng trong việc nâng

caoo hiệu quả quản lý tín dụng hộ ngèo tại NHCSXH tỉnh Hà Nam. Cụ thể,

trong thời gian tới NHCSXH tỉnh Hà Nam cần thực hiện các giải pháp sau:

Thứ nhất, nâng cao chất lượng hoạt động tại các điểm giao dịch tại xã

nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo khi giao dịch với NHCSXH,

hiện nay các hoạt động của NHCSXH trong quy trình cho vay hộ nghèo hầu

như được thực hiện tại các điểm giao dịch xã như tiếp nhận hồ sơ vay vốn,

giải ngân, thu nợ, thu lãi. Các điểm giao dịch đều được bố trí tại hội trường

UBND xã, thị trấn. Tại đây, khách hàng được cung cấp đầy đủ các thơng tin,

chính sách tín dụng, mức lãi suất, danh sách các hộ vay còn dư nợ các chương

trình tín dụng và nội quy giao dịch.

Mặc dù hiện nay hoạt động của các điểm giao dịch tương đối tốt,

tiết kiệm chi phí đi lại cho các hộ vay. Tuy nhiên, do số lượng khách hàng

đến giao dịch tại xã ngày càng lớn, số lượng tổ giao dịch của Ngân hàng ít

dẫn đến thời gian giao dịch phải kéo dài, chất lượng phục vụ chưa cao.

86



Bởi vậy để có điều kiện phục vụ khách hàng một cách tốt nhất, trong thời

gian tới NHCSXH tỉnh Hà Nam cần tiếp tục hoàn thiện điểm giao dịch tại

xã, theo hướng:

- Đối với các xã có quy mơ vốn vay lớn, số hộ nhiều nên bố trí 2 điểm

giao dịch. Mọi chính sách mới về cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính

sách khác, đều phải được cơng khai kịp thời tại điểm giao dịch.

- Đối với NHCSXH cấp huyện cần phải tăng số cán bộ được biên chế

để đáp ứng kịp thời yêu cầu của công việc. Hiện nay, biên chế cho NHCSXH

cấp huyện tại Hà Nam có từ 11 người đến 13 người, trong khi số khách hàng

vay vốn tại NHCSXH các huyện là tương đối lớn từ 11.000 đến 16.000 hộ

nên có lúc khơng phục vụ khách hàng một cách kịp thời. Để đảm bảo chất

lượng và hiệu quả trong cơng tác quản lý tín dụng hộ nghèo cần tăng số cán

bộ được biên chế cho NHCSXH huyện lên 14- 15 người/huyện; tăng số cán

bộ tham gia các phiên trực giao dịch tại xã, nhằm nâng cao chất lượng phục

vụ khách hàng, giảm thời gian chờ của khách hàng khi đến giao dịch.

Thứ hai, thường xuyên củng cố nâng cao chất lượng hoạt động Tổ tiết

kiệm và vay vốn. Tổ tiết kiệm và vay vốn (gọi tắt là tổ) được thành lập nhằm

tập hợp các hộ nghèo có nhu cầu vay vốn NHCSXH để SXKD, cải thiện đời

sống, cùng tương trợ giúp đỡ nhau trong sản xuất và đời sống, cùng liên đới

chịu trách nhiệm trong việc vay vốn và trả nợ ngân hàng.

Hộ nghèo muốn vay vốn NHCSXH thì phải là thành viên của tổ (phải

vào tổ), việc bình xét hộ nào được vay, số tiền vay bao nhiêu, thời gian vay,

thời gian trả nợ đều được thực hiện ở tổ. Nếu trong quá trình sử dụng vốn hộ

vay bị rủi ro thì tổ là nơi lập biên bản đề nghị cấp trên xử lý. Do đó, việc

thường xuyên củng cố nâng cao chất lượng hoạt động của tổ tại thơn, xóm là

một trong những khâu trọng yếu, quyết định chất lượng hoạt động của tín

dụng hộ nghèo.

87



Trong thời gian qua, thực hiện chỉ đạo của NHCSXH Việt Nam,

NHCSXH tỉnh Hà Nam đã thực hiện việc sắp xếp lại tổ tiết kiệm và vay vốn.

Để tổ vay vốn thực sự là “cầu nối” giữa NHCSXH với khách hàng thì trong

thời gian tới NHCSXH cần phải tiếp tục sắp xếp lại tổ vay vốn như sau:

- Theo quy định của NHCSXH, mỡi Tổ TK&VV có số thành viên tối

đa lên đến 60 thành viên, nếu số hộ vay trong một thôn lớn hơn 60 hộ thì

được thành lập 2 Tổ TK&VV, hoặc thành lập 3 Tổ TK&VV nếu số hộ vay

vốn trên 120 hộ… Nên thành lập tổ phải theo địa bàn thơn, xóm và duy trì số

lượng thành viên một tổ từ 35 đến 60 người. Các Tổ TK&VV được thành lập

theo cụm dân cư liền kề để tránh trình trạng cho vay chồng chéo giữa các tổ vì

theo quy định mỡi hộ vay vốn chỉ được tham gia vay vốn tại một tổ TK&VV.

Mặt khác, các Tổ TK&VV cần duy trì việc sinh hoạt tổ đều đặn theo định kỳ

(01 tháng/01 lần) với nội dung sinh hoạt tổ phải thiết thực và bổ ích. Trong

sinh hoạt tổ có thể kết hợp với buổi tọa đàm, trao đổi thông tin và học tập

kinh nghiệm giữa các thành viên, tăng cường năng lực SXKD cho người vay;

tăng cường sự tương trợ, giúp đỡ nhau trong sản xuất và đời sống giữa các

thành viên trong tổ.

- NHCSXH kết hợp với các tổ chức Hội, đoàn thể chính trị- xã hội nhận

ủy thác thường xuyên chú trọng công tác đào tạo tập huấn đối với Ban quản lý

Tổ TK&VV. Thành viên ban quản lý tổ phải là những người có sức khoẻ tốt,

có kinh nghiệm làm kinh tế giỏi để hỡ trợ cho hộ nghèo, nhiệt tình trong cơng

việc, có uy tín với nhân dân, có khả năng làm việc lâu dài cho tổ.

- NHCSXH các tổ chức Hội, đồn thể chính trị- xã hội nhận ủy thác cần

có biện pháp củng cố, nâng cao chất lượng đối với các Tổ TK&VV xếp loại

trung bình và yếu kém, kiện toàn ban quản lý tổ TK&VV một cách kịp thời

nhằm không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động của Tổ TK&VV.



88



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thứ nhất, NHCSXH tỉnh Hà Nam đã áp dụng thành công các hình thức huy động vốn và cho vay hộ nghèo theo quy định. Nhờ đó, cả nguồn vốn huy động và doanh số cho vay hộ nghèo đều tăng lên theo thời gian, tạo điều kiện để các hộ nghèo được vay vốn phù hợp với

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×