Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
*. Điều kiện kinh tế

*. Điều kiện kinh tế

Tải bản đầy đủ - 0trang

nghèo kịp thời, liên tục, có chính sách hướng dẫn hộ đầu tư vốn vào lĩnh vực nào

trong từng thời kỳ, xử lý rủi ro kịp thời cho hộ nghèo, thì vốn vay dễ có điều kiện

phát huy hiệu quả cao. Sản phẩm làm ra của hộ nghèo, nếu có thị trường tiêu thụ

tốt, thì dễ tiêu thụ có lợi nhuận vì vậy hiệu quả đồng vốn cao và ngược lại;

Như vậy, khi Nhà nước có các chính sách đúng, kịp thời hỗ trợ hộ nghèo

trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, thì góp phần làm cho việc sử dụng vốn có

hiệu quả. Nhà nước phải đầu tư cơ sở hạ tầng, bao gồm xây dựng và nâng cấp

các con đường giao thơng nơng thơn, các cơng trình thuỷ lợi và chợ. Hỗ trợ sản

xuất nông nghiệp, bao gồm cung cấp giống mới và các loại vật tư nông nghiệp

khác, quan tâm mở các lớp tập huấn và khuyến nơng để người nghèo có các

điều kiện cần thiết sử dụng vốn tín dụng của NHCSXH có hiệu quả.

*. Bản thân hộ nghèo

Phát triển là do sự vận động nội tại, vậy nên sự nỗ lực của bản thân

người nghèo có tác dụng quyết định đến thực hiện mục tiêu thốt nghèo của

họ. Sự hỡ trợ từ Nhà nước hay ngân hàng chỉ có tác dụng tạo cú “hích” để các

hộ nghèo thốt nghèo, chứ khơng thể làm thay các hộ nghèo được. Cho nên,

nếu các hộ nghèo không chịu khó vươn lên thì đồng vốn tín dụng ưu đãi mà

NHCSXH giao cho họ sẽ không phát huy được hiệu quả, quản lý tín dụng hộ

nghèo vị vậy khơng hiệu quả.

Các hộ nghèo thường thiếu nhiều thứ, trong đó có tri thức, kinh nghiệm

SXKD, dẫn đến hiệu quả của SXKD hạn chế, sản phẩm sản xuất ra chi phí

cao, chất lượng và khả năng cạnh tranh kém, khó vượt qua các rủi ro trong

sản xuất và đời sống. Về vốn chủ yếu là vốn vay ngân hàng, dẫn đến bị động

về vốn sản xuất. Nếu hộ nghèo có ý thức sử dụng vốn đúng mục đích, gặp

thuận lợi trong sản xuất thì có hiệu quả. Sự thiếu cố gắng vươn lên thoát

nghèo, sự thờ ơ của hộ nghèo, thiếu ý thức của hộ nghèo trong việc sử dụng

vốn vay dẫn đến vốn vay sẽ không phát huy hiệu quả, theo đó hoạt động tín

dụng của ngân hàng cũng bị ảnh hưởng do hộ sử dụng vốn sai mục đích,

33



khơng chấp hành việc trả nợ (gốc, lãi) cho ngân hàng đúng hạn, chất lượng

quản lý tín dụng hộ nghèo của NHCSXH vì thế mà kém đi.

b) Nhóm nhân tố chủ quan

Đây là những nhân tố thuộc về nội tại của bản thân NHCSXH. Chúng

bao gồm một số nhân tố chủ yếu sau đây:

*. Chiến lược hoạt động của Ngân hàng

Đây là một nhân tố ảnh hưởng có tính quyết định tới chất lượng quản lý

tín dụng đối với hộ nghèo của NHCSXH. Nếu như ngân hàng chỉ hoạt động

mang tính chất thụ động, không định hướng một cách cụ thể và có chiến lược

hoạt động mang tính khoa học thì tất yếu ngân hàng không thể nâng cao chất

lượng hoạt động của mình, trong đó có hoạt động quản lý tín dụng.

Một khi chất lượng lĩnh vực hoạt động chính khơng được chú ý thì hoạt

động của ngân hàng nhanh chóng trở nên bế tắc. Điều này có nghĩa là ngân

hàng cần chú ý hoạch định một cách khoa học và khả thi chiến lược phát triển

của mình, từ đó mới có thể đưa ra các phương án thích hợp để hướng tới các

đối tượng khách hàng trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn. Có như vậy,

chất lượng tín dụng mới ngày càng được nâng cao.

*. Mơ hình tổ chức của Ngân hàng

Đối tượng khách hàng chính của NHCSXH là các hộ nghèo. Các hộ

này lại tập trung chủ yếu ở các vùng nông thôn, phân bố rải rác trên một địa

bàn rộng lớn, đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa, cho nên việc thiết lập mơ

hình tổ chức hoạt động của NHCSXH cũng phải thích ứng với điều kiện này.

Có như vậy việc đưa vốn tín dụng đến với hộ nghèo mới đạt được mục tiêu và

yêu cầu đề ra là hỡ trợ tích cực người nghèo và các đối tượng chính sách khác

từng bước thốt nghèo và vươn lên làm giàu.

Nhưng nếu việc bố trí mạng lưới chi nhánh đến tận huyện, xã như vậy

sẽ phát sinh những bất cập rất lớn đó là chi phí hoạt động của ngân hàng tăng

34



cao. Hơn nữa, việc bố trí mạng lưới chi nhánh rộng khắp như vậy thì đòi hỏi

khả năng quản trị của toàn bộ hệ thống phải tốt. Nếu khơng đáp ứng được u

cầu này thì tất yếu nhiều hoạt động của các chi nhánh trong hệ thống sẽ khơng

được kiểm sốt chặt chẽ, vốn tín dụng ưu đãi rất có thể sẽ bị sử dụng sai mục

đích, kém hiệu quả, thậm chí bị bòn rút bất hợp pháp.

Nhưng nếu khơng bố trí mạng lưới rộng khắp, chẳng hạn chỉ bố trí

mạng lưới chi nhánh đến cấp tỉnh, thì khả năng sâu sát các đối tượng khách

hàng là các hộ nghèo sẽ bị hạn chế, thậm chí dẫn đến tình trạng thốt ly khách

hàng. Hậu quả của tình trạng này thậm chí còn tồi tệ hơn.

*. Cơ sở vật chất kỹ thuật

Hiệu quả quản lý tín dụng của ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào các điều

kiện hoạt động, trong đó cơ sở vật chất kỹ thuật có vai trò rất lớn. Nếu điều

kiện cơ sở vật chất cho hoạt động được hoàn thiện sẽ tạo tiền đề để ngân hàng

mở rộng các loại hình dịch vụ phục vụ khách hàng. Ngược lại, cơ sở vật chất

trang thiết bị thiếu thốn thì ngay bản thân việc thực hiện nhiệm vụ giải ngân

vốn tín dụng chính sách đã là khó khăn, bản thân nó cũng khơng kích thích

cán bộ nhân viên thi đua thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

Trong lĩnh vực tài chính ngân hàng có rất nhiều các loại hình dịch vụ

hỡ trợ nhau. Việc thực hiện đồng thời các loại hình dịch vụ này sẽ cho phép

ngân hàng tăng hiệu quả hoạt động, tăng uy tín đối với khách hàng. Nhưng

việc mở ra một loại hình dịch vụ mới đòi hỏi chi phí cao, thậm chí là rất cao.

Điều này đặt ra một vấn đề là, nếu như Chính phủ muốn duy trì sự hoạt động

bền vững của NHCSXH để giải quyết có hiệu quả hơn các vấn đề thuộc về

chính sách xã hội thì trước hết cần đầu tư hiện đại hố cơ sở vật chất, trang

thiết bị cho ngân hàng hoạt động hiệu quả. Đó cũng là cơ sở tăng niềm tin cho

các đối tượng chính sách về một sự cam kết mạnh mẽ của Chính phủ trong

cuộc chiến chống đói nghèo song hành với chiến lược tăng trưởng nền kinh tế.

35



*. Phẩm chất, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, nhân viên

trong Ngân hàng

Nhìn chung, tâm lý của người nghèo hay dễ mặc cảm, tự ti. Do vậy

phong cách phục vụ của cán bộ nhân viên trong ngân hàng tác động lớn đến

tâm lý của khách hàng do đó sẽ tác động đến ý chí vươn lên thốt nghèo của

họ. Tạo một sự quan tâm gần gũi hơn với các khách hàng của mình là rất cần

thiết để người nghèo coi NHCSXH thực sự là người bạn gần gũi và họ mới

thực sự muốn giữ chữ “tín” với ngân hàng. Điều này rất quan trọng trong cho

vay hộ nghèo, bởi tín dụng chính sách chủ yếu là tín chấp, hộ vay có thiện chí

trả nợ hay khơng là do ý thức của họ là chính, cộng thêm sự tác động vào cuộc

của các Tổ TK&VV, các tổ chức chính trị- xã hội và chính quyền địa phương.

Hơn nữa, cho vay các hộ nghèo chứa đựng rủi ro rất cao do đa số người

nghèo thiếu kinh nghiệm sản xuất kinh doanh, trình độ nhận thức nhìn chung

cũng bị hạn chế. Do vậy hoạt động quản lý tín dụng lại càng đòi hỏi cán bộ có

trình độ cũng như năng lực chun mơn cao mới có thể giúp giảm thiểu rủi ro

tín dụng. Cho nên, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực cũng như phẩm chất

đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ, nhân viên trong ngân hàng là rất cần

thiết. Nếu cán bộ, nhân viên thiếu tư cách đạo đức, hay đòi hỏi, nhũng nhiễu

khách hàng thì quả là rất khó đối với NHCSXH để thực hiện mục tiêu tồn tại

và phát triển bền vững của mình.

1.3. Kinh nghiệm về quản lý tín dụng hộ nghèo của một số NHCSXH cấp

tỉnh và bài học rút ra cho NHCSXH tỉnh Hà Nam

1.3.1. Kinh nghiệm của một số Ngân hàng Chính sách xã hội cấp tỉnh

1.3.1.1. Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Thanh Hóa

Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Thanh Hóa được thành lập và đi vào

hoạt động theo Quyết định số 43/QĐ-HĐQT ngày 14/10/2002 của Chủ tịch

36



Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội. Thực hiện nhiệm vụ trên địa

bàn tỉnh có diện tích rộng 11.133,4 km 2, dân số trung bình tồn tỉnh gần 3,5

triệu người, được chia làm 3 vùng miền rõ rệt (Vùng núi - Trung du; Vùng

đồng bằng và Vùng ven biển), với 27 đơn vị hành chính cấp huyện, có 11

huyện miền núi, trong đó có 7/62 huyện là huyện nghèo của cả nước; tồn

tỉnh có 637 đơn vị hành chính cấp xã và có 219 xã thuộc vùng khó khăn; có

gần 6 ngàn thơn, bản.

Nhiệm vụ chính trị đặt ra đối với chi nhánh NHCSXH tỉnh Thanh Hóa

là phải tập trung mọi nguồn lực để truyền tải kịp thời nguồn vốn tín dụng ưu

đãi đến tận tay và đúng đối tượng thụ hưởng một cách an toàn và hiệu quả

nhất, góp phần cùng cấp ủy, chính quyền các cấp và các ban, ngành, các tổ

chức chính trị- xã hội thực hiện thành công các mục tiêu theo tinh thần Nghị

quyết Đảng bộ tỉnh đề ra, trong đó có mục tiêu là mỗi năm giảm tỷ lệ hộ

nghèo từ 3% đến 5%.

Để chuyển tải vốn tín dụng chính sách đúng đối tượng thụ hưởng, đồng

thời nâng cao chất lượng tín dụng, hỗ trợ tối đa cho người nghèo trong điều

kiện định biên ít, tiết giảm chi phí quản lý, NHCSXH tỉnh Thanh Hóa đã thực

hiện phương thức quản lý tín dụng chính sách thơng qua hình thức: uỷ thác

cho các tổ chức chính trị - xã hội một số nội dung công việc liên quan đến

việc thành lập và chỉ đạo hoạt động của Tổ TK&VV, bình xét hộ vay vốn,

hướng dẫn người vay sử dụng vốn, kiểm tra giám sát q trình sử dụng vốn

vay, đơn đốc hộ vay trả nợ trực tiếp cho NHCSXH… Đến 31/12/2012, các tổ

chức chính trị - xã hội tham gia quản lý 6.302 tỷ đồng, chiếm 99%/ tổng dư

nợ. Được chính quyền địa phương hỗ trợ, Chi nhánh đã phối hợp với các tổ

chức CT-XH thành lập được trên 10 ngàn Tổ TK&VV, tổ chức được 637/637

điểm giao dịch xã. Tại các điểm giao dịch xã, các chính sách tín dụng của Nhà

nước, danh sách hộ vay vốn và các quy trình thủ tục của NHCSXH được niêm

37



yết công khai, người vay giao dịch trực tiếp với NHCSXH vào ngày cố định

hàng tháng để gửi tiền tiết kiệm, vay và trả nợ trước sự chứng kiến của cán bộ

tổ chức CT-XH, Tổ trưởng Tổ TK&VV và chính quyền cấp xã. Nhờ đó hạn

chế được việc thất thốt, xâm tiêu, tham ơ lợi dụng tiền vốn, tạo được lòng tin

của nhân dân đối với chính sách của Đảng, Nhà nước và hoạt động của

NHCSXH.

Từ năm 2011, NHCSXH đã đưa ra hệ thống các tiêu chí đánh giá xếp

loại Tổ TK&VV nhằm đưa chất lượng hoạt động của Tổ vào nề nếp và mang

lại hiệu quả thiết thực cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác trong

việc vay vốn, cũng như sinh hoạt cộng đồng trên địa bàn. Đến nay, phần lớn các

Tổ hoạt động có hiệu quả, tính đến cuối năm 2012, số Tổ TK&VV được xếp loại

tốt là 6.419 Tổ, chiếm tỷ trọng 60,2 %; số Tổ xếp loại khá là 3.318 Tổ, chiếm

31,1%; số Tổ xếp loại trung bình là 853 Tổ, chiếm 8,0%; số Tổ yếu kém là 80 Tổ,

chiếm 0,7%. Các huyện có nhiều Tổ hoạt động tốt, khơng có Tổ yếu kém như

huyện Nga Sơn, Tĩnh Gia, Đơng Sơn, Triệu Sơn, Thiệu Hố...

Từ thực tiễn hoạt động tín dụng hộ nghèo của NHCSXH tỉnh Thanh

Hóa có thể rút ra các nhận xét sau:

Thứ nhất, mơ hình hoạt động đặc thù của NHCSXH phải đặc biệt coi

trọng vai trò của các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương, tranh thủ tối đa

sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng bộ và chính quyền các cấp, sự phối kết hợp

đồng bộ, thống nhất giữa ngân hàng với các ban, ngành, đoàn thể, bám sát

mục tiêu định hướng phát triển kinh tế- xã hội ở từng địa phương, tập trung

đầu tư vốn vay cho từng vùng, miền, từng đối tượng khách hàng, phát huy sức

mạnh tổng hợp toàn xã hội cùng hướng về mục tiêu Chương trình Quốc gia

xố đói giảm nghèo.

Thứ hai, mơ hình quản lý vốn như hiện nay có hiệu quả về mặt kinh tế,

mang ý nghĩa chính trị, xã hội sâu sắc. NHCSXH và các tổ chức CT-XH cần phải

38



có sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất, công khai từ cấp cơ sở, tạo cơ hội cho người

nghèo và các đối tượng chính sách được tiếp cận với dịch vụ tài chính ngân hàng.

Phối hợp chặt chẽ hơn nữa trong công tác kiểm tra sau khi cho vay, củng cố hoạt

động của các tổ TK&VV, tăng cường công tác tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ hội

và ban quản lý tổ TK&VV nâng cao trình độ quản lý vốn…

Thứ ba, thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến chính

sách cho vay để cấp ủy, chính quyền các cấp, các ngành và các đối tượng thụ

hưởng thấy được những lợi ích thiết thực của chương trình tín dụng chính

sách và có trách nhiệm tham gia phối hợp thực hiện.

Thứ tư, thực hiện sơ kết, tổng kết các phong trào thi đua khen

thưởng, động viên kịp thời các tập thể, cá nhân tiêu biểu để nhân rộng

thành phong trào, tạo khơng khí hăng say lao động. Quan tâm đến quyền

lợi vật chất, tinh thần của người lao động, trên cơ sở giao việc, giao các chỉ

tiêu đến từng cán bộ, chi trả tiền lương, theo mức độ hồn thành kế hoạch.

Tăng cường cơng tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, đào tạo nghiệp

vụ cho cán bộ nhân viên tận tâm trong công việc được giao.

Thứ năm, phải thường xuyên nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ

NHCSXH, cán bộ quản lý vốn của các tổ chức hội, đồn thể, Tổ TK&VV; coi

trọng cơng tác kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý Nhà nước chuyên

ngành, của Hội đồng quản trị và hệ thống kiểm tra nội bộ của NHCSXH về

chính sách tín dụng ưu đãi.

Thứ sáu, việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính, đơn giản quy trình,

thủ tục, hồ sơ vay vốn tạo nhiều thuận lợi để đối tượng thụ hưởng dễ dàng

tiếp cận với chính sách tín dụng ưu đãi cũng là nguyên nhân tạo nên sự thành

công trong thực hiện các chương trình.



39



1.3.1.2. Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Nghệ An

Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Nghệ An được thành lập trên cơ sở tổ

chức lại Ngân hàng Phục vụ người nghèo và chính thức đi vào hoạt động

ngày 09/4/2003, theo quyết định số 44/QĐ- HĐQT ngày 14/01/2003 của Chủ

tịch HĐQT NHCSXH Việt Nam. Đây là đơn vị thành viên trực thuộc Hội sở

chính, đại diện pháp nhân theo uỷ quyền của Tổng Giám đốc trong việc chỉ

đạo, điều hành các hoạt động của NHCSXH trên địa bàn Nghệ An. Về cơ sở vật

chất phục vụ cho hoạt động khi mới thành lập không đáng kể, trụ sở phải thuê

mượn. Trong hơn 10 năm qua, được sự quan tâm chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền

địa phương các cấp, sự phối hợp có hiệu quả của các tổ chức chính trị- xã hội, tập

thể cán bộ nhân viên trong toàn chi nhánh NHCSXH tỉnh Nghệ An đã có nhiều cố

gắng, nỡ lực vượt qua mọi khó khăn, thách thức, từng bước tạo lập và xây dựng

chi nhánh ngày càng lớn mạnh, tổ chức triển khai các chương trình tín dụng đối

với hộ nghèo và các đối tượng chính sách đạt hiệu quả, tạo nền tảng cho

NHCSXH tỉnh Nghệ An phát triển trong những năm tiếp theo.

Bảng 1.1 cho thấy, sau hơn 10 năm hoạt động, tổng dư nợ các chương

trình tín dụng ưu đãi tại Chi nhánh trong những năm qua tăng trưởng ổn định,

năm sau cao hơn năm trước, đối tượng thu hưởng chính sách đa dạng hơn.

Tổng dư nợ năm 2005 đạt 663 tỷ đồng, tăng 268 tỷ đồng so với dư nợ năm

2003, đến năm 2008, tổng dư nợ đạt 2.105 tỷ đồng, tăng 1.442 tỷ đồng so với

dư nợ năm 2005. Tổng dư nợ đến cuối năm 2013 đạt 6.083 tỷ đồng, tăng

5.688 tỷ đồng so với năm 2013. Tốc độ tăng trưởng dư nợ năm 2013 đạt 6,3%

so với năm 2012.

Từ 2 chương trình tín dụng khi mới thành lập, đến nay NHCSXH tỉnh

Nghệ An đã cho vay 13 chương trình tín dụng. Tổng dư nợ đến 31/12/2013 là

6.083 tỷ đồng, tăng 5.688 tỷ đồng so với khi mới thành lập (tăng 14,4 lần).



40



Trong 13 chương trình cho vay, có 12 chương trình uỷ thác từng phần

thơng qua các tổ chức chính trị xã hội: Hội Nơng dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến

binh và Đoàn thanh niên CSHCM. Đến nay có 84 Hội cấp huyện, 1.752 Hội cấp

xã và 8.305 Tổ TK&VV tham gia làm ủy thác; dư nợ là 5.654 tỷ đồng, chiếm

92,9% tổng dư nợ. Thông qua phương thức cho vay uỷ thác, vốn được giải ngân

nhanh chóng, quản lý theo mơ hình tổ TK&VV có sự giám sát của Hội đồn thể;

bình xét cơng khai, dân chủ từ cơ sở, giúp người nghèo và các đối tượng chính

sách khác vay vốn thuận lợi, tiết kiệm chi phí và thời gian đi lại.

Bảng 1.1. Một số chỉ tiêu chủ yếu về hoạt động tín dụng của NHCSXH

tỉnh Nghệ An giai đoạn 2003 - 2013

Đơn vị: Tỷ đồng

TT



1

2

3

4

5



Dư nợ qua các năm



Chỉ tiêu



2003 2005



Tổng dư nợ:

Cho vay Hộ nghèo

Cho vay Giải quyết việc làm

Cho vay Học sinh sinh viên

Cho vay Xuất khẩu lao động

Cho vay Nước sạch và vệ sinh môi



395

344

48

3

0



2008



2012



663 2.105 5.723

543

995 1.899

59

79

114

4

666 2.847

4

57

57



2013

6.083

2.015

118

2.712

47



0

53

117

222

trường nông thôn

6 Cho vay vùng khó khăn

0

0

191

350

7 Cho vay Hộ dân tộc thiểu số

0

0

0

18

Cho vay Hộ nghèo làm nhà ở theo

8

0

0

0

209

quyết định 167

9 Cho vay Hộ nghèo làm chòi tránh lũ

0

0

0

0

10 Cho vay Hộ cận nghèo

0

0

0

11 Cho vay Thương nhân vùng khó khăn

0

0

0

5

12 CV Dự án phát triển nghành lâm nghiệp

0

0

0

0

13 Cho vay khác

0

0

0

2

(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động qua các năm của NHCSXH

tỉnh Nghệ An)

41



273

351

20

208

1

311

5

21

1



Từ thực tiễn hoạt động tín dụng hộ nghèo của NHCSXH tỉnh Nghệ An

có thể rút ra những nhận xét sau:

Thứ nhất, Tranh thủ sự chỉ đạo của Hội đồng quản trị, Ban điều hành

NHCSXH; sự lãnh đạo của Đảng bộ, chính quyền các cấp, sự phối hợp tích

cực của các Hội đồn thể làm ủy thác, các ngành liên quan; phát huy sức

mạnh tổng hợp của xã hội hướng về mục tiêu quốc gia xố đói giảm nghèo

theo phương châm “Trung ương và địa phương cùng làm”, “nhà nước và

nhân dân cùng làm” là điều kiện tiên quyết để phát triển ổn định, tổ chức thực

hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao.

Thứ hai, Tổ chức thực hiện tốt phương thức cho vay uỷ thác từng phần

thông qua các tổ chức chính trị xã hội; thường xuyên rà sốt củng cố, chấn

chỉnh các Hội đồn thể làm ủy thác cấp xã, Tổ TK&VV theo thơn, xóm; thực

hiện cơng khai cơ chế chính sách, qui trình thủ tục vay vốn, làm tốt giao dịch

xã. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, sâu sát với cơ sở, phát hiện xử

lý kịp thời các tồn tại, hạn chế.

Thứ ba, Làm tốt công tác quản trị, điều hành đối với cơ sở theo phương

châm “kiên quyết, tập trung, dân chủ và hiệu quả”. Thực hiện phân công,

phân định rõ trách nhiệm cho từng bộ phận chuyên môn nghiệp vụ, từng

phòng giao dịch, phát huy tính chủ động, sáng tạo, đề cao trách nhiệm cá

nhân. Lựa chọn đúng những vấn đề trọng tâm cần xử lý trong từng thời kỳ để

tham mưu cho cấp ủy chính quyền địa phương tập trung chỉ đạo thực hiện.

Thứ tư, Thường xuyên quan tâm đến cơng tác cán bộ, đào tạo, bố trí sử

dụng hợp lý, tăng cường cơng tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao ý thức

chấp hành kỷ cương, kỷ luật, nhiệt tình, tâm huyết, có năng lực chun mơn,

phong cách giao tiếp văn minh, tạo lòng tin đối với khách hàng là nhân tố

quyết định mọi thành công.



42



1.3.2. Bài học rút ra cho Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Hà Nam

Từ kinh nghiệm NHCSXH tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An về quản lý

hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo, có thể rút ra một số bài học có thể

áp dụng đối với NHCSXH tỉnh Hà Nam để nâng cao hiệu quả quản lý tín

dụng trên địa bàn như sau:

Thứ nhất, Triển khai kịp thời, thực hiện tốt sự chỉ đạo của HĐQT,

NHCSXH, Tỉnh ủy, UBND tỉnh và Ban đại diện HĐQT NHCSXH tỉnh trên

cơ sở định hướng phát triển kinh tế- xã hội hàng năm của địa phương và của

NHCSXH. Tranh thủ sự ủng hộ của các cấp ủy, chính quyền địa phương trong

q trình hoạt động. Phối hợp chặt chẽ có hiệu quả với các cơ quan, đơn vị,

các tổ chức chính trị- xã hội trong quản lý vốn để định ra biện pháp tổ chức

thực hiện đạt kết quả cao nhất.

Nếu tranh thủ được sự lãnh đạo của Đảng bộ, Chính quyền địa phương các

cấp, được nhân dân đồng tình ủng hộ thì quản lý tín dụng hộ nghèo sẽ đạt hiệu

quả mong đợi. Trước hết là khai thác và phát huy sức mạnh của toàn xã hội góp

phần xây dựng NHCSXH. Tổ chức thực hiện có kết quả phương châm là “Trung

ương và địa phương cùng làm”, “Nhà nước và nhân dân cùng làm” là giải pháp

quyết định sự thắng lợi tồn diện, góp phần thực hiện có kết quả mục tiêu giảm

nghèo. Đồng thời là giải pháp quan trọng hàng đầu để tiếp tục củng cố, xây dựng,

phát triển sự lớn mạnh bền vững của Chi nhánh trong tương lai.

Thứ hai, cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý Nhà nước,

Ngân hàng, các tổ chức chính trị - xã hội và Tổ Tiết kiệm và vay vốn do cộng

đồng dân cư thành lập, kết thành mơ hình quản lý kênh tín dụng chính sách,

vừa tận dụng được tiềm lực to lớn về nhân tài, vật lực, vừa là một giải pháp

thực tế tiết kiệm chi phí quản lý, vừa là một giải pháp chiến lược lâu dài,

quyết định sự phát triển bền vững, có hiệu lực và hiệu quả cao đối với hoạt

động của NHCSXH.

43



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

*. Điều kiện kinh tế

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×