Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 3: Các yếu tố tác động đến quá trình tìm kiếm việc làm của sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành Công tác xã hội Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Chương 3: Các yếu tố tác động đến quá trình tìm kiếm việc làm của sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành Công tác xã hội Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tải bản đầy đủ - 0trang

điều tra sơ bộ bằng phỏng vấn sâu của tôi thì khơng ít sinh viên trong trường Đại học

Khoa học xã hội và Nhân Văn trong thời gian đi học có tìm việc làm thêm và đi làm

thêm, họ làm nhiều loại hình cơng việc khác nhau đúng theo chun môn của họ học

hoặc không đúng chuyên môn và các cơng ty của sinh viên làm cũng có nhiều loại hình

đa dạng, và còn có những sinh viên do năng lực của bản thân cũng như do những đặc

trưng cơ bản của ngành mình học nên dễ dàng tìm việc làm và họ xác định làm luôn

khi ra trường và có bằng cấp rồi vẫn làm.



Biểu đồ 10: Sinh viên làm thêm trong quá trình học đại học

Theo như bảng điều tra thông tin chúng tôi ghi nhận được rằng trong tổng số

183 người trả lời có trả lời bảng hỏi thì có 33 người trả lời rằng có đi làm thêm đúng

với chun mơn mình theo học và chiếm 18,0%, còn số người đi làm thêm khơng đúng

chun mơn có 108 người trên tổng số 183 người trả lời và chiếm 59,0%.và số người

không đi làm thêm là chiếm 42 người và có 23,0%. Qua bảng số liệu trên ta có thể thấy

rằng sinh viên trong lúc đi học vẫn đi làm thêm nhiều để thứ nhất có thể tích lũy kinh

nghiệm sống và có thêm thu nhập cho chính mình và giúp đỡ cho bố mẹ. Như vậy ta có

thể thấy rằng sinh viên trong trường hầu hết có xu hướng đi làm thêm nhưng chủ yếu là

làm thêm khơng đúng chun mơn mình học bởi lẽ ngành nào cũng có một đặc trưng



55



ngành và khơng phải dễ xin việc theo đúng ngành mình theo học vì còn tùy vào năng

lực của từng sinh viên mà không phải năng lực ai cũng giống nhau.

Trong quá trình đi tìm việc làm thêm không phải ai cũng dễ dàng xin được việc

làm mà mình theo ý thích của riêng mình và tìm được mức thu nhập theo đúng khả

năng của mình. Có những sinh viên làm bưng bê cho nhà hàng làm cả ngày vất vả mà

thu nhập không đáng bao nhiêu mà làm không đúng theo chuyên môn của mình, nhưng

sinh viên vẫn cố duy trì cơng việc mà không chỉ một hai sinh viên mà rất nhiều sinh

viên có tình trạng như thế, bởi vì hiện nay những người tuyển dụng họ vin cớ rằng sinh

viên chưa có kinh nghiệm hoặc sinh viên chưa có bằng cấp nên vì thế mức lương chỉ

trả cho họ khơng cao và chưa thể xếp vào các vị trí quan trọng được. Nhưng vì sao sinh

viên vẫn đi làm thêm nhiều có lẽ họ có thời gian nhàn rỗi trong việc học lớn khơng có

lẽ đó chỉ là một phần còn phần nhiều có lẽ do muốn mình trưởng thành hơn trong

trường đời hiểu hơn về cuộc sống để có thể khơng bị vấp ngã hoặc họ tiết kiệm thời

gian cho chính mình khi ra trường khơng phải đi học kinh nghiệm, họ muốn hồ sơ xin

việc của mình được chú ý hơn khi đã từng viết mình có kinh nghiệm cơng việc tại một

nơi nào đó, do vậy số sinh viên đi làm thêm dù đúng hoặc không đúng chuyên môn thì

dẫu sao vẫn là sự cố gắng trong cuộc sống của chính họ.

Bên cạnh đó cũng có những sinh viên khơng đi làm thêm họ cũng có nhiều lý do

của chính mình, chẳng hạn như gia đình khá giả khơng phải lo toan về cuộc sống hay

cũng không lo lắng vì cơng việc bởi họ đã có một chỗ làm ngay từ khi đi học, hoặc có

những lý do khác rằng họ bận đi học nhiều họ cần nghỉ ngơi, nhưng có những người có

mục đích cao cả hơn cả đó là họ đi học nhiều bằng hoặc họ đi học lên nữa để có thể có

cơ hội xin việc làm dễ hơn nhiều người khác. Còn có những sinh viên cho rằng họ cần

học nhiều hơn và học gấp đơi người khác thì ra trường sớm hơn và dễ có được cơ hội

tìm việc làm một cách nhanh chóng hơn là ra trường theo đúng tiến trình.

Nói theo một cách nào khác và nhiều khía cạnh thì sinh viên trong thời đại phát

triển mạnh mẽ này họ đều có một cách nghĩ và một cách sống để phù hợp với bản thân

của chính mình cũng như có những sự lựa chọn tốt nhất dù họ có quyết định làm thêm

hay khơng có quyết định đi làm thêm trong thời gian còn đang đi học.



56



Trong thời gian đi học ở đại học khơng phải sinh viên nào cũng có khả năng làm

thêm bởi vì nó phải phù hợp với bản thân của chính mình và cũng phải phù hợp với

thời gian trên trường và thời gian rảnh rỗi của việc đi học, phù hợp với sức khỏe và

năng lực của chính bản thân mình như vậy khơng phải khơng có người đáp ứng được,

do vậy cũng có một bộ phận sinh viên trong trường khơng thích đi làm thêm trong thời

gian còn đang đi học, nhưng bên cạnh đó cũng có một số sinh viên muốn đi làm thêm

và cố gắng sắp xếp thời gian phù hợp với chính mình để không làm ảnh hưởng việc

học cũng như thời gian và sức khỏe của bản thân mình.

Bảng 07: Bảng tương quan giữa làm thêm trong thời gian học đại học *

Thực trạng việc làm của SVTN

Làm thêm trong thời gian học đại



Thực trạng việc làm

tìm



Đã



học



Có đi làm thêm đúng chun mơn



được



Chưa



việc làm

61



được việc làm

3

64



95,3%

Có đi làm thêm khơng đúng chun 86

mơn

Khơng đi làm thêm



tìm



4,7%

11



88,7%

26



100,0%

97



11,3%

3



89,7%



Tổng



100,0%

29



10,3%



100,0%



Tơi tiếp tục tiến hành kiểm định tương quan giữa thực trạng việc làm của SVTN

với các yếu tố khác. Các kết quả thống kê không phản ánh sự khác biệt nào giữa các

nhóm SVTN chia theo các yếu tố: xếp loại tốt nghiệp, năm tốt nghiệp, hệ đào tạo và

giới tính ngoại trừ yếu tố “SVTN có hay khơng làm thêm trong thời gian học đại học”

được thể hiện trong bảng trên. Trong đó 100% SVTN từng tham gia làm thêm một

công việc phù hợp với chuyên môn được đào tạo trong thời gian học ở đại học hiện đã

tìm được việc làm, và tỉ lệ tương ứng với SVTN có đi làm thêm khơng đúng với

chuyên môn và không đi làm thêm là 83,3% và 92,9%. Các con số phản ánh xu hướng

có tác động tích cực của việc sinh viên tham gia làm việc trong các môi trường nghề

nghiệp đúng với chuyên môn được đào tạo từ khi còn đang học tập ở đại học. Điều đó

57



là hợp lý khi sinh viên có cơ hội thực hành các kiến thức chuyên môn cũng như tích

luỹ kinh nghiệm làm việc sớm, đó sẽ là những cơ sở quan trọng để SVTN có thể được

tiếp nhận vào các mơi trường làm việc chính thức sau khi tốt nghiệp.

Thực tế yêu cầu công việc cho sinh viên sau khi ra trường khơng đủ khả năng

đáp ứng đòi hỏi của các nhà tuyển dụng lao động. Tại một số nước nền giáo dục rất

hiện đại, phát triển như Mỹ, Pháp, Anh…. thì sinh viên khi mới học hết năm thứ ba họ

có thể đi làm tại các cơ quan, doanh nghiệp theo đúng ngành nghề mà họ được đào tạo,

có thể phát triển hết khả năng sáng tạo, vận dụng thành thạo những gì họ được học và

họ còn học thêm các khố học về ngoại ngữ, tin học để củng cố nguồn kiến thức của

mình.

Ngồi ra việc có một cơng việc làm thêm trong thời gian học đại học cũng đánh

giá phần nào khả năng, tính năng động của sinh viên, nó giúp ích rất lớn cho sinh viên

trong quá trình xin việc khi ra trường vào sau này. Giúp cho họ có được điều quan

trọng nhất là kinh nghiệm việc làm, trải nghiệm thực tế cũng như nắm được thông tin

về các nhà tuyển dụng hiện tại. Và việc sau khi ra trường cơ hội tìm kiếm những cơng

việc u thích, cũng như là đúng chun mơn là chun khơng hề khó đối với họ.

Tuy nhiên số sinh viên chưa từng đi làm thêm thì tỉ lệ tìm kiếm được việc làm

sau khi tốt nghiệp bao giờ cũng chiếm tỉ lệ thấp hơn so với những SVTN đã từng đi

làm thêm những công việc trong quá trình học dù là đúng chun mơn hay khơng theo

đúng chuyên môn. Mặc dù số sinh viên hiện nay đi làm thêm không đúng chuyên môn

luôn chiếm tỉ lệ cao hơn, bởi tìm kiếm một cơng việc đúng chun mơn ngành nghề

đào tạo để có cơ hội làm việc khi còn đang theo học trên nhà trường là khó khăn. Tuy

nhiên việc có việc làm thêm vẫn được các sinh viên hiện nay coi là những cơ hội để thể

hiện sự năng động, sự trả nghiệm cơng việc, để có trải nghiệm cho công việc sau này.

Cho nên họ sẽ khơng còn bỡ ngỡ khi ra trường phải đối mặt với các nhà tuyển dụng.

Nhưng số sinh viên chưa từng đi làm thêm vẫn chiếm số ít, tuy nhiên tỉ lệ xin

được việc trong số sinh viên đó cũng chiếm con số nhỏ. Bởi trước khi bước vào môi

trường làm việc chính họ khơng có được sự trải nghiệm ban đầu, đó là một sự thiếu hụt

cũng coi như là thiệt thòi so với các sinh viên khác.



58



Có một yếu tố ảnh hưởng tới xu hướng lựa chọn công việc làm thêm của sinh

viên đó chính là kết quả học tập. Sinh viên có kết quả học tập tốt có xu hướng làm

thêm các công việc phù hợp với chuyên mơn nhiều hơn so với sinh viên có kết quả học

tập thấp. Như vậy, khơng thể nói rằng kết quả học tập có một tác động đến khả năng

tìm việc làm của sinh viên và thực trạng việc làm của sinh viên hiện này khi tốt nghiệp,

mà kết quả đó chỉ có ảnh hưởng nhất định đến xu hướng tìm việc làm đi làm thêm của

sinh viên trong thời gian họ tập ở đại học. Như vậy ta phải có những nghiên cứu cụ thể

để đánh giá tác động thực sự của kết quả học tập lên khả năng tìm kiếm việc làm đúng

với chuyên môn được đào tạo của SVTN.

Bảng 08: Tương quan Xếp loại tốt nghiệp * SVTN làm thêm trong thời gian học đại



học

Xếp loại tốt

nghiệp



Khá



SVTN làm thêm trong thời gian học đại học

Có đi làm thêm

KHƠNG đi làm

đúng chuyên



thêm đúng



Không đi



môn



chuyên môn



làm thêm

36



15



87

10,9%



Giỏi



18



63,0%

18



Xuất sắc



0



42,9%

3

100,0%



Tổng



33



108



138



26,1%

6



42,9%



Tổng

100,0%

42



14,3%

0

42



18,0%

59,0%

23,0%

Số phiếu không được trả lời (missing): 0



100,0%

3

100,0%

183

100,0%



Như vậy qua bảng số liệu ta có thể thấy rằng việc xếp loại bằng tốt nghiệp của

sinh viên không bị chi phối nhiều bởi việc đi làm thêm của sinh viên hay khơng, vì

theo số liệu trên những sinh viên có đi làm thêm dù đúng chun mơn hay khơng đúng

chun mơn thì việc xếp loại học lực của sinh viên vẫn còn phụ thuộc vào khả năng

của sinh viên hoặc do ý chí của sinh viên và sinh viên đó còn có biết sắp xếp thời gian

của mình có phù hợp hay khơng, khơng chỉ nói rằng đi làm thêm là ảnh hưởng đến việc



59



học của sinh viên vì phần nhiều còn do mơi trường ảnh hưởng đến sinh viên đấy và do

ý chí của sinh viên đó có ảnh hưởng như thế nào đến việc hoặc của sinh viên và họ xác

định việc học để có thể giúp đỡ như thế nào trong cuộc sống họ vì thế khơng chỉ do

việc làm thêm chi phối mà còn do bản thân của sinh viên là phần nhiều.

Chính vì như vậy ta có thế thấy rằng khi sinh viên dù đi làm thêm dù đúng

chuyên môn hay không đúng chuyên môn trong thời gian học đại học thì những SVTN

trung bình và trung bình khá khơng hề có một sinh viên nào vì thế có thể nói rằng việc

đi làm thêm ảnh hưởng tới học lực của sinh viên chưa đáng kể vì số lượng sinh viên đạt

học lực khá và học lực giỏi dù đi làm đúng chun mơn hay khơng đúng chun mơn

thì cũng khơng ảnh hưởng bởi vì số sinh viên khá giỏi vẫn rất nhiều và hầu hết phần

trăm đều cao, thậm chí có cả những sinh viên đạt cả học lực xuất sắc, chính vì vậy khi

đi làm thêm chưa chắc đã ảnh hưởng tới học lực của sinh viên, và các sinh viên có thể

đi làm thêm để tích lũy kinh nghiệm sống cho chính mình và đi làm thêm để có nhiều

cơ hội tìm việc làm sau khi đã tốt nghiệp, như vậy ta có thể có một phần khẳng định

rằng công việc làm thêm của sinh viên trong thời gian học đại học của sinh viên có ảnh

hưởng nhỏ tới học lực của sinh viên mà phần nhiều do mục đích của sinh viên đặt ra

như thế nào và bản thân của sinh viên khi đi làm thêm sẽ thế nào.



Bảng 09: Tương quan Làm thêm trong thời gian học đại học*Thu nhập/tháng của SVTN



60



Làm thêm



Thu nhập trung bình/ tháng của SVTN

Từ 3.000.000 Từ 6.000.000

Trên



trong thời gian học

đại học



Dưới



3.000.000

Có đi làm thêm đúng 9

chun mơn

Có đi làm thêm

không đúng chuyên

môn

Không đi làm thêm



đến dưới



đến dưới



9.000.00



6.000.000

18



9.000.000



0



27,3%

36



54,5%

51



38,7%

9

54



0

18,2%



6

54,8%



27

23,1%



Tổng



6



96



0,0%



6,5%



69,2%



33



0



3



0,0%



7,7%



32,7%

58,2%

9,1%

Số phiếu không được trả lời (missing): 18



100,0%

93



0



15



Tổng



100,0%

39



0,0%

0



100,0%

165



0,0%



100,0%



Như vậy ta có thể thấy rằng trong bảng số liệu trên đã chỉ rõ một điều đó là

những người đi làm việc đúng chun mơn mặc dù ít hơn số người đi làm khơng đúng

chun môn tuy nhiều hơn nhưng xét về mức lương những người đi làm theo đúng

chun mơn sẽ có mức lương cao hơn những người đi làm thêm mà không đúng

chuyên mơn. Từ đó ta có thể rút ra rằng những người đi làm đúng chun mơn mặc dù

ít vì khơng phải ai cũng có thể tìm được đúng chun mơn mình vì cơng việc khơng

đúng với chun mơn lại dễ xin việc hơn việc đúng chuyên môn nhưng trên thực tế lại

cho rằng nếu xin được công việc đúng chuyên mơn thì mức thu nhập lại cao và dễ

những người làm việc đúng chun mơn thì các kiến thức được học trong trường đại

học thì dễ dàng vận dụng hơn và như thế sẽ mang lại một hiệu quả công việc cao hơn

so với việc mình làm việc khơng đúng chun mơn thì lúc đó mình lại phải học lại

cơng việc từ đầu và như thế công việc không được hiệu quả cao và thậm chí còn tốn

tiền vì phải bỏ ra chi phí đi học nghề hoặc đi học kiến thức để có thể làm việc, như vậy

làm việc theo đúng chun mơn nói lý thuyết lại dễ dàng được mức thu nhập cao

nhưng trên thực tế không phải ai cũng có năng lực để làm đúng chun mơn và thậm

chí việc làm đúng chun mơn chưa chắc đã phù hợp với bản thân mình, cũng như rất

khó trong việc xin việc nếu nhà tuyển dụng không cần vị trí so với mình mong muốn.

61



Những sinh viên có việc làm trong thời gian đi học đại học cũng có những tác

động khơng nhỏ tới việc sinh viên có thể tìm được việc làm hay khơng sau khi tốt

nghiệp. Sinh viên có việc làm thêm trong thời gian đi học cũng có ảnh hưởng tới việc

làm của sinh viên sau này vì có việc làm thêm trong khi đi học chứng tỏ sinh viên đó

có sự năng động trong cơng việc khi đi tìm kiếm việc làm, thứ hai việc làm thêm trong

thời gian đang còn đi học làm cho sinh viên tích lũy được kinh nghiệm cho sinh viên

và sau khi ra trường tìm việc làm có thể viết trong hồ sơ xin việc của chính mình đã có

kinh nghiệm làm tại đâu như vậy sẽ khiến cho những nhà tuyển dụng có thể chú ý

mình hơn và có thể cho mình vào những vị trí thích hợp cho bản thân của chính mình.

Thứ ba khi sinh viên có một cơng việc trong thời gian đi làm thì có thể có các mối quan

hệ trong khi đi làm và qua đó ta có thể tìm được nhiều cơ hội việc làm thơng qua các

mối liên hệ sau đó của các mối quan hệ ta đã thiết lập từ trước đó. Như vậy việc đi làm

thêm của sinh viên hiện nay có thể thấy rằng có tác động một cách mạnh mẽ tới việc

sinh viên sau khi ra trường có việc làm hay khơng hoặc có cơ hội xin việc làm trong

khoảng thời gian ngắn khơng hay là có thể xin được việc làm theo đúng chuyên ngành

của mình hay không.



Bảng 10: Tương quan Làm thêm trong thời gian học đại học * Thời điểm có việc

làm đầu tiên của SVTN.

Làm thêm

trong thời gian học

đại học

Có đi làm thêm

đúng chuyên mơn



Thời điểm SVTN có việc làm đầu tiên

Có việc

làm ngay

12

34,4%



Sau 1 - 6



Sau 6 -



Sau trên



tháng



12 tháng

0



12 tháng

3



18

54,5%

62



9,1%



Tổng

33

100,0%



Có đi làm thêm

không đúng chuyên

môn

Không đi làm thêm



33



48

35,5%



9



51,6%

15



23,1%

Tổng



54



12



0

12,9%



9

38,5%



81



93

100,0%



6

23,1%



21



39

15,1%



9



100,0%

165



32,7%

49,1%

12,7%

5,5%

Số phiếu không được trả lời (missing): 18



100,0%



Như vậy ta có thể thấy rằng sinh viên có việc làm trong thời gian đang đi làm

thêm rất quan trọng đối với sinh viên khi ra trường có việc làm thêm hay khơng và

quyết định sinh viên khi ra trường tìm việc làm như thế nào có phù hợp hay khơng phù

hợp với chính mình như vậy co nghĩa rằng bảng số liệu này cho ta thấy rằng sinh viên

sau khi ra trường có tìm được việc làm hay khơng hoặc tìm việc làm như thế nào có

điều kiện tiên quyết rằng trong q trình học trong trường đại học sinh viên có làm

thêm hay khơng.

3.2.



Ảnh hưởng của yếu tố nguồn thơng tin tìm kiếm việc làm của SVTN



Để tìm được một cơng việc thành cơng, yếu tố nguồn thơng tin tìm kiếm việc

làm là rất quan trọng. Chính nhờ vào nguồn thơng tin đó, SVTN mới có thể tiếp cận

được với thị trường lao động và lựa chọn được cơng việc phù hợp với mình.



Bảng 11: Nguồn thơng tin tìm kiếm việc làm của SVTN

Nguồn thơng tin tìm kiếm việc làm

- Từ bố/ mẹ hoặc người thân khác trong gia đình

- Từ bạn bè/ đồng nghiệp

- Từ sự thông báo/ giới thiệu của trường đại học, thầy/ cô giáo

- Từ kênh quảng cáo tuyển dụng

- Ứng tuyển trực tiếp

- Qua một đơn vị môi giới việc làm

- Thơng tin khác



Tỉ lệ (%)

30,9

32,7

3,6

34,5

9,1

0

1,8



Bảng 11 trình bày các số liệu mô tả nguồn thông tin về việc làm của sinh viên.

Ta thấy rằng, nguồn thông tin chủ yếu mà SVTN có được về cơng việc là từ các mối



63



quan hệ xã hội của mình (gia đình, bạn bè, thầy/cô) và từ các phương tiện truyền thông

đại chúng.

Tiếp theo ta đi so sánh tương quan nguồn thông tin việc làm với thời điểm có

việc làm của SVTN



Bảng 12: Tương quan Nguồn thơng tin tìm kiếm việc làm * Thời điểm có việc làm

đầu tiên của SVTN.

Nguồn thơng tin



Thời điểm SVTN có việc làm đầu tiên

Có việc

Sau 1 - 6

Sau 6 Sau trên



tìm kiếm việc làm

Từ bố/ mẹ hoặc

người thân

Từ bạn bè/ đồng



làm ngay

18

18



tuyển dụng

Ứng tuyển trực tiếp



27



3



50,0%



50,0%



51



5,9%

0



100,0%

54



16,7%

0



100,0%

0



6



50,0%

36



21,1%

3



12 tháng

3



17,6%

9



3



12



12 tháng

9



41,2%



33,3%



trường đại học,

thầy/ cô giáo

Từ kênh quảng cáo



21



35,3%



nghiệp

Từ sự thông báo/

giới thiệu của



tháng



Tổng



100,0%

9



63,2%

6



57



15,8%

0



64



0



100,0%

6



15



20,0%

Thơng tin khác



3



40,0%

0



40,0%

0



0



100,0%

3



100%



100,0%



Nhìn vào bảng số liệu, ta có thể thấy được tầm quan trọng của việc giới thiệu

của các thầy cô trong trường đại học, khi mà 100% SVTN được thầy cơ giới thiệu cơng

việc có việc làm ngay trong 6 tháng đầu tiên sau khi tốt nghiệp. Điều đó cũng phản ảnh

đúng thực tế khi mà thầy cô là những người hiểu rõ nhất về chuyên ngành học, cũng

như giới thiệu những công việc phù hợp nhất với chuyên ngành Công tác xã hội. Tiếp

theo là nguồn thơng tin từ bạn bè/ đồng nghiệp, khi SVTN có được nguồn thơng tin từ

bạn bè/ đồng nghiệp đều có được cơng việc trong vòng 12 tháng kể từ khi tốt nghiệp.

Bạn bè/đồng nghiệp là những người hiểu rõ về ngành học, cũng như những kỹ năng

của mình, nên dễ dàng giới thiệu được những công việc phù hợp với bản thân SVTN

hơn

Bảng 13: Tương quan Nguồn thơng tin tìm kiếm việc làm * Mức độ ổn định của công

việc hiện tại

Nguồn thơng tin tìm

kiếm việc làm

Từ bố/ mẹ hoặc người

thân

Từ bạn bè/ đồng

nghiệp

Từ sự thông báo/ giới

thiệu của trường đại

học, thầy/ cô giáo

Từ kênh quảng cáo

tuyển dụng

Ứng tuyển trực tiếp



Mức độ ổn định của công việc hiện tại

Không

Rất ổn định Ổn định Ít ổn định

ổn định

9

30

9

0

18,8%

9



62,5%

21



16,7%

6

100%

12

6



9



3



15

16,7%

0



27



9



9



47,4%



15,8%

9



54

27,8%



0



40%

Thơng tin khác



100%



0



0



48



18,8%



38,9%



21,1%



Tổng



100%

6

100%

57



15,8%

0



100%

15



60%

0



0



100%



100%

0



3

100%



65



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 3: Các yếu tố tác động đến quá trình tìm kiếm việc làm của sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành Công tác xã hội Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×