Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 2: Thực trạng việc làm của sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành Công tác xã hội trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Chương 2: Thực trạng việc làm của sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành Công tác xã hội trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tải bản đầy đủ - 0trang

trường. Kết quả khảo sát được trình bày trong bảng 01 cho thấy 88.5% SVTN được hỏi

trả lời đã tìm được việc làm, còn lại 11.5% SVTN chưa tìm được việc làm. Như vậy,

trong khoảng thời gian từ 1 đến 2 năm sau khi tốt nghiệp, đa số SVTN đã tìm được

việc làm.

Trong khi đó, hiện nay nước ta đang cần một nguồn lực tri thức trình độ cao để

xác đinh một hình thái kinh tế mới cao hơn, hồn thiện hơn và hiệu quả hơn đó chính là

nền kinh tế tri thức. Nhưng thực tế, sinh viên mới tốt nghiệp ra trường lại có xu hướng

giảm nhẹ về tỉ lệ có việc làm.

Bảng 01: Thực trạng việc làm của SVTN

Thực trạng việc làm

Đã tìm được việc làm

Chưa tìm được việc làm

Tổng



Số lượng sinh viên trả lời

162

21

183



Tỉ lệ (%)

88,5

11,5

100,0



Mặt khác, do xã hội ngày một phát triển với tốc độ cao, một cách mạnh mẽ

nhanh chóng vì vậy phương thức sản xuất cũng phải thay đổi theo để phù hợp với sự

phát triển. Khi phương thức sản xuất thay đổi theo tốc độ phát triển của xã hội thì nó

cũng đòi hỏi sự thay đổi của lực lượng sản xuất đặc biệt vấn đề ta cần đề cập đến là

nguồn lao dộng có năng lực nhưng lực lượng này lại không bắt kịp theo sự phát triển

của phương thức sản xuất. Lý do vì sao lại như vậy? Do cơ cấu – tổ chức – chất lượng

đào tạo không bắt kịp sự thay đổi này, nó bị tụt hậu hơn , do đó cán cân khơng cân

bằng, đồng bộ giữa q trình đào tạo và thực tế u cầu cơng việc cho sinh viên sau khi

ra trường không đủ khả năng đáp ứng đòi hỏi của các nhà tuyển dụng lao động.

Một thực tế là, số sinh viên hiện nay ra trường khó tìm được việc làm và khơng

đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyển dụng, cũng nói đến là tìm được việc nhưng khơng

đúng chương trình đào tạo tại nhà trường. Một phần là do nhà đào tạo chưa nắm được

nhu cầu thực tế về nguồn nhân lực, khơng có thơng tin đầy đủ cho sinh viên về việc

chọn ngành nghề cho phù hợp với bản thân, với sự phát triển của đất nước để tránh

hiện tượng hiện nay rất nhiều học sinh, sinh viên chọn ngành nghề theo cảm tính thấy

hay thích là học khơng tính đến mục đích học về phục vụ cho tương lai và khả năng xin

việc sau khi ra trường.

32



Để so sánh về thực trạng việc làm của sinh viên đã tốt nghiệp 2-3 năm với sinh

viên mới tốt nghiệp, tơi nhóm sinh viên các khóa 54 và 55 vào thành nhóm 1, sinh viên

khóa 56 và 57 thành nhóm 2



33



Bảng 02. So sánh về Thực trạng việc làm với Các nhóm sinh viên tốt nghiệp

Nhóm sinh viên tốt nghiệp



Tình trạng việc làm

Đã tìm được

Chưa tìm được

việc làm



Nhóm 1

Nhóm 2



84



việc làm

9



90,3%

78



93

9,7%



12

86,7%



Tổng



100%

97



13,3%



100%



Nhìn vào bảng so sánh ta thấy rằng khơng có q nhiều sự khác biệt giữa nhóm

sinh viên đã tốt nghiệp 2-3 năm và nhóm sinh viên mới tốt nghiệp. Tỉ lệ sinh viên đã

tìm được việc làm là 90,3% ở nhóm SVTN 2-3 năm và 86,7% ở nhóm sinh viên mới

tốt nghiệp. Điều ấy cho thấy rằng việc tìm kiếm cơng việc không phải là dễ dàng đối

với SVTN, kể cả qua thời gian dài tìm kiếm như sinh viên đã tốt nghiệp 2-3 năm.

Như vậy, SVTN sau khi ra trường có việc làm ở mức cao (88,5%), cũng như

khơng có nhiều sự khác biệt giữa hai nhóm sinh viên tốt nghiệp thời gian dài và mới tốt

nghiệp

2.2.



Thời điểm có việc làm của sinh viên



Sau khi tốt nghiệp là khoảng thời gian sinh viên đã lớn và không được sự bảo

vệ của thầy cô cũng như sự chở che của cha mẹ, họ đã khơng còn là những đừa trẻ mà

phải biết quyết định cho chính cuộc đời của mình. Và lúc ra trường là lúc quyết định

xem bản thân mình muốn làm gì và làm những gì, dù đúng ngành học hay khơng đúng

ngành học của mình, như thế nào thì thời gian sau khi ra trường là thời gian khó khăn

nhất của sinh viên vì lúc này họ khơng còn tự quyết định là mình làm vào cơ quan nào

bởi lẽ phải phụ thuộc vào nhà tuyển dụng và mình có đáp ứng được các yêu cầu mà

nhà tuyển dụng cần thiết hay không.

Sinh viên ra trường sau khi tốt nghiệp khơng phải ai cũng có một việc làm ln

có người cần rất nhiều thời gian để có thể có thể xin được việc làm, trong khi đó chưa

chắc phải là cơng việc mà mình muốn làm nhưng cũng khơng thể thay đổi được vẫn

quyết định làm việc do vậy khi đi xin việc cần có rất nhiều yếu tố có thể do bằng cấp

hoặc có thể do năng lực do có thể do sự năng động của mình hay có thể do quan hệ của

34



gia đình như vậy có thể xin được việc có rất nhiều yếu tố tác động vào, và còn cần thời

gian để chờ đợi như vậy để xin việc thành công không chỉ do một yếu tố tác động vào.



Biểu đồ 01: Thời điểm có việc làm của SVTN

Qua điều tra theo bảng số liệu ta có thể thấy được cụ thể hơn về việc xin việc

của sinh viên dựa vào một yếu tố đó chính là thời gian của sinh viên khi đợi chờ xin

việc làm. Có việc làm ngay có 54 người trên 165 người trả lời chiếm 32,7%, có việc

làm sau 1 đến 6 tháng là có 81 người trên 165 người trả lời chiếm 49,1%, có việc làm

sau 6 đến 12 tháng có 14 người trên 165 người trả lời đạt 12,7%, có việc làm sau trên

12 tháng chỉ có 9 người trên 165 người trả lời và đạt 5,5% .

Như vậy có thể thấy rằng số lượng người có việc làm ngay chiếm số phần trăm

cao trong tổng số 165 người trả lời ta có thể thấy rằng sinh viên khi ra trường có thể

tìm được việc làm ngay, có thể nói rằng sinh viên có năng lực trong tìm việc làm và vì

thế thời gian tìm việc làm có thể được rút ngắn hơn rất nhiều. Bên cạnh đó sinh viên có

thể tận dụng nhiều cơ hội tìm việc làm và cả khi việc làm không đúng với chuyên mơn

của mình nhưng vẫn cố gắng đi làm và có thể chuyển đổi cơng việc sau khi đã hình

thành được kinh nghiệm làm việc và khi mở rộng được mối quan hệ của chính bản thân

của mình.



35



Sinh viên có việc làm sau 1 đến 6 tháng chiếm cao nhất là 81 người và chiếm

49,1% chiếm gần một nửa phần trăm số lượng người trả lời, như vậy đây là số sinh

viên có thể có sự năng động chưa nhanh trong công việc cũng như chưa biết nắm bắt

thời cơ nhanh chóng hoặc chưa tìm được những cơng việc phù hợp hoặc chưa đáp ứng

được các yêu cầu của nhà tuyển dụng trong cơng việc, chính vì thế thời gian tìm được

việc làm chưa nhanh và chưa được nhanh chóng như những sinh viên ra trường đã tìm

được việc làm ngay.

Những sinh viên tìm được việc làm sau 6 đến 12 tháng thì họ chưa có khả năng

tìm được cơng việc mình có thể làm hoặc những cơng việc chưa đáp ứng được nhu cầu

của những người đi tìm việc làm, do vậy thời gian tìm việc làm của họ đang còn dài.

Những sinh viên tìm được việc làm sau trên 12 tháng thì có thể thấy rằng mặc

dù chỉ chiếm một số người nhỏ trong tổng số những người trả lời mặc dù vậy thì cũng

là tình trạng đáng báo động của tất cả sinh viên chưa ra trường bởi lẽ phải biết tranh

thủ thời gian và tìm hiểu được bản thân muốn làm những công việc như thế nào và đặc

thù những ngành mình học như thế nào, và xác định bản thân cần những gì thì mới dễ

dàng có những cơng việc mà mình có thể hồn thành nhiệm vụ của nhà tuyển dụng đề

ra.

Như vậy trên đây là bức tranh tổng quan về thời gian sinh viên làm việc như thế

nào và xin việc trong bao lâu để có thể phần nào mường tượng xem hiện nay xã hội

đang cần một lớp người như thế nào và mình cần phải cống hiến như thế nào, cống

hiến thế nào là tốt, và hiện nay trong các trường đại học cần bổ sung những kiến thức

gì cho sinh viên và sinh viên hiện nay trong trường đang thiếu những kiến thức gì và

như thế nào để có thể đáp ứng được những thứ mà xã hội cần mình. Do đó bức tranh

này khiến chúng ta cũng hiểu rằng sự năng động của sinh viên đang ở ngưỡng nào, có

cần bổ sung và thêm lửa cho những lớp sinh viên đi sau những lớp sinh viên này không

và cần bổ sung những kỹ năng mềm như thế nào để có thể giúp sinh viên tìm việc trong

một thời gian ngắn nhất và tốt nhất có thể cho sinh viên và có một cơng việc phù hợp

nhất với sinh viên khi mới ra trường.



36



Biểu đồ 08: So sánh thời điểm có việc làm của SVTN Nhóm 1 và Nhóm 2



Khi so sánh thời điểm có việc làm của 2 nhóm SVTN, ta thấy rằng, số SVTN ở

nhóm 1 tìm được việc làm ngay nhiều hơn ở nhóm 2. Tuy nhiên, lại có số ít SVTN ở

nhóm 1 lại phải đợi thời gian lên đến trên 12 tháng để tìm kiếm cơng việc phù hợp với

bản thân. Trong khi đó, số SVTN của nhóm 2 chủ yếu tìm được việc làm ngay trong

thời gian khoảng 6 tháng, chứng tỏ SVTN ở những khóa sau này có kinh nghiệm hơn

trong việc tìm kiếm việc làm và thích ứng nhanh hơn với điều kiện xã hội.

Sau khi tốt nghiệp có việc làm hay khơng đã là một vấn đề mà khơng ít sinh

viên phải đau đầu mà còn có một vấn đề khác làm họ khơng ít khi phải lo lắng đó chính

là vấn đề làm có đúng chun mơn được hay khơng bởi lẽ đi học sau bốn năm thì họ đã

phải mua được kiến thức trong trường bởi vậy họ muốn được sử dụng kiến thức đấy

trong cơng việc của mình như thế nào và họ có thể vận dụng tốt kiến thức của mình

trong cơng việc hồn thành tốt nhất các công việc được giao. Nhưng thực tế không phải

sinh viên nào cũng có thể tìm được các cơng việc đúng chun mơn của mình học và

làm việc nhưng bên cạnh đó cũng khơng ít sinh viên tìm các việc làm khơng đúng

chun mơn mình học và có những sinh viên thì khơng có việc làm, như vậy hầu như

khơng phải ai cũng có thể tìm được các cơng việc theo đúng chun mơn mình học.



37



2.3.



Sự phù hợp với cơng việc hiện tại và chuyên môn được đào tạo



Một trong những minh chứng cho hiệu quả hoạt động đào tạo là sự phù hợp giữa

chuyên môn được đào tạo ở đại học với cơng việc của SVTN. Trong q trình khảo sát,

nhóm điều tra đặt ra câu hỏi: “Anh/ Chị đánh giá mức độ phù hợp giữa cơng việc của

mình với chuyên môn được đào tạo ở đại học như thế nào?”. Các kết quả thơng kê

được trình bày trong biểu đồ dưới đây.



Biểu đồ 03: Mức độ phù hợp giữa chuyên môn và công việc hiện tại của SVTN

Các số liệu thống kê ở biểu đồ trên chỉ ra rằng, trong vòng 1 đến 3 năm sau khi tốt

nghiệp, ta có thể thấy 60% SVTN đã tìm kiếm được việc làm có được cơng việc phù hợp

và khá phù hợp với chuyên môn được đào tạo ở đại học. Con số còn lại SVTN có được

những cơng việc ít phù hợp 30.9% và hồn tồn khơng phù hợp 9.1%.

Tuy nhiên tỉ lệ sinh viên xin làm các công việc không phù hợp với chuyên môn

đào tạo chiếm 10.9%, đây không phải là con số nhỏ cho lắm nhưng so với con số 60%

SVTN đã tìm kiếm được việc làm phù hợp với chun mơn đào tạo thì đây là một tỉ lệ

nhỏ. Bởi xét cho cùng thì một trong những mục tiêu quan trọng của quá trình đào tạo là

người học sau khi tốt nghiệp có được một cơng việc phù hợp với chun mơn của mình.

Tất nhiên, với đặc thù các ngành học khoa học xã hội và nhân văn, cùng mức độ di động

nghề nghiệp khá cao của SVTN và thời gian tham gia vào thị trường lao động chưa dài

38



thì việc đưa ra một kết luận cuối cùng để đánh giá chất lượng đào tạo đòi hỏi những

nghiên cứu sâu và dài hơi hơn.

Vậy điều đáng chú ý ở đây là tại sao có những sinh viên sau khi tốt nghiệp lại cho

rằng chun mơn mình được đào tạo lại không hề phù hợp, và xu hướng tìm kiếm việc

làm cũng khơng đúng với chun mơn, ngành nghề đã được học tập đào tạo?

“Nói chung cơng việc của mình bây giờ chỉ hồn tồn là việc văn phòng chứ

cũng khơng liên quan nhiều đến ngành học Cơng tác xã hội khi mình học, một là thấy

bản thân khơng phù hợp với ngành học đó, vì mình khá thiếu tính kiên nhẫn, và thiếu

kinh nghiệm trong những lần cộng tác với những người yếu thế” (Nữ, 27 tuổi, Nhân

viên giáo vụ)

“Tơi vẫn rất u cơng việc đó vì tơi cho rằng đó là sự hy sinh thầm lặng cũng

như cao quý của rất nhiều người lựa chọn, nhưng vì bản thân tơi có lẽ chưa quyết tâm

và cũng như gia đình cũng có nhiều biến cố và do đó tơi quyết định rằng bản thân mình

khơng theo đuổi được nữa cũng như là cần giúp đỡ gia đình mình hơn, chính vì vậy tơi

chuyển sang cơng việc bây giờ.” (Nam, 26 tuổi, Nhân viên kinh doanh)

Đây là một thực tế rất đáng lưu tâm hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, khi mà

đất nước đang trong thời kì đổi mới cần đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng, kinh nghiệm

và đảm bảo. Nhưng lượng nhân lực được đào tạo để đảm bảo đạt được yêu cầu của các

nhà tuyển dụng chiếm tỉ lệ rất là ít. Điều này dẫn đến một thực trạng là các cơ sở đào tạo,

các doanh nghiệp sau khi tuyển dụng sẽ phải bỏ ra một khoản chi phí để đào tạo, bồi

dưỡng lại. Đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực là một hoạt động rất cần

thiết đối với các doanh nghiệp. Song hoạt động này cần nhiều chi phí, thời gian và tốn

nhiều cơng sức, điều đó sẽ dẫn đến sự lãng phí về thời gian, tiền bạc. Nhưng có như

vậy thì các nhà tuyển dụng mới sử dụng được tối đa nguồn nhân lực. Bởi chất lượng lao

động là rất quan trọng nó ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cơng việc.

Mục đích là sử dụng tối đa nguồn nhân lực. Đào tạo, bồi dưỡng là một quá trình

học tập nhằm mục đích nâng cao tay nghề và kỹ năng của nhân viên đối với công việc

hiện hành hay trước mắt. Mục đích của cơng tác đào tạo là nhằm chuẩn bị cho nhân

viên theo kịp với sự thay đổi cơ cấu của tổ chức khi có sự thay đổi và phát triển trong

tương lai. Trước kia trong chế độ cũ người ta không mấy chú trọng đến chất lượng lao

39



động việc nhận người vào làm là do quan hệ than thuộc quen biếtvà chỉ tiêu phân bổ

của Nhà nước dẫn đến hình thành đội ngũ cán bộ nhân viên làm việc không hiệu quả,

bị động. Mặt khác công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển cán bộ nhân viên trong

doanh nghiệp không mấy được tiến hành. Nhưng ngày nay trước sự đòi hỏi bức xúc

của cơ chế thị trường cũng như mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp thì cơng tác này

là một nhiệm vụ cấp bách không thể thiếu đối với bất cứ một doanh nghiệp nào. Trong

thời đại mà khoa học, công nghệ tiến bộ nhanh như vũ bão. Một doanh nghiệp muốn

thành đạt, một đất nước muốn tăng trưởng, phát triển nhanh thì phải tạo ra một nguồn

nhân lực có trình độ tay nghề và trình độ chun mơn tương xứng như vậy đào tạo có

vai trò định hướng cho việc phát triển của tổ chức và là chìa khố của sự thành cơng.

Chính vì vậy, việc phát triển chun mơn, chun ngành phải được các cơ sở

giáo dục đào tạo cần được chú trọng và đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực cung cấp

cho thị trường, để tránh hiện tượng khơng có sự ứng dụng hay sự phù hợp giữa chuyên

môn được đào tạo với công việc theo đuổi.



Bảng 03: Mức độ ứng dụng các kiến thức, kỹ năng và phương pháp

được trang bị ở đại học và công việc hiện tại của SVTN

Điểm trung bình (Mean)

Các kiến thức, kỹ năng và phương pháp



(1- Ứng dụng rất tốt 2- Ứng

dụng khá tốt 3- Ứng dụng

vừa phải 4-Ứng dụng rất ít

5- Khơng ứng dụng được gì)

2.87

2.95



Các kiến thức cơ sở, phương pháp luận

Các kiến thức chuyên môn, chuyên ngành

40



Các phương pháp nghiên cứu, phương pháp làm việc

Các kỹ năng mềm

Các nội dung thực tập, thực hành



3.07

2.84

2.98



Bảng trên trình bày điểm số trung bình SVTN đánh giá về các khối kiến thức,

kỹ năng và phương pháp trên cơ sở thang điểm từ 1 đến 5 do tác giả đưa ra tương ứng

với mức độ ứng dụng từ cao đến thấp. Theo đó, hầu hết các khối kiến thức nhà trường

trang bị cho sinh viên ở đại học được đa số SVTN đánh giá có mức độ ứng dụng vào

công việc ở mức vừa phải với điểm số trung bình là sấp xỉ 3. Các kỹ năng mềm , kiến

thức chuyên môn chuyên ngành SVTN được trang bị thông qua việc được cung cấp

kiến thức, tham gia các hoạt động ngoại khố, hoạt động đồn thể xã hội được đánh giá

cao hơn đôi chút với điểm số trung bình 2.84. Trái với mong đợi, các phương pháp

nghiên cứu, phương pháp làm việc được đánh giá ở mức độ thấp hơn cả với điểm số

3.07 gần mức đánh giá thang điểm 5 (Ít, khơng được ứng dụng).

Có thể thấy rõ hiện nay, các kiến thức sinh viên nhận được chỉ là nền kiến thức

tại trường chứ chưa thực sự ứng dụng đối với công việc hiện tại của mình, mức độ ứng

dụng rất là trung bình ở tất cả các kĩ năng nhất là đối với các phương pháp nghiên cứu,

phương pháp làm việc và các nội dung thực tập, thực hành.

Chính vì vậy mà đó là một trong những nguyên nhân cơ bản ở ngay bên trong các

trường đại học, cao đẳng…vì sao sinh viên ra trường lại có tỷ lệ thất nghiệp cao như

vậy? Và mức độ ứng dụng của các kiến thức chuyên môn, chuyên ngành cũng như là

phương pháp được các SVTN cho rằng là ít được ứng dụng và sử dụng trong quá trình

làm việc sau này.

“Em đã vận dụng được khoảng 50% kiến thức ở trong trường với công việc của

mình, em học được tâm lý các cụ già sẽ ra sao, và với trường hợp này sẽ phải xử sự

như thế nào và ra sao để vừa lòng các cụ già mà làm các cụ cảm thấy tin tưởng mình

hơn, những bài học trên trường của các thầy cơ cùng những ngày em đi thực hành em

đã học hỏi được rất nhiều điều để khiến cho công việc của mình tốt hơn và đem lại

được nhiều niềm vui hơn nữa dành cho các cụ già” (Nữ, 23 tuổi, Điều dưỡng viên)



41



“Nói về vận dụng kiến thức đi học vào cơng việc hiện nay, thì thú thực với bạn

là mình cũng ít vận dụng vào cơng việc bạn ạ, chỉ khi nào đi tình nguyện hay đi các

dự án thơi, vì cơng việc của mình cũng khơng liên quan gì đến kiến thức bên ngành

Cơng tác xã hội mà mình được học” (Nam. 26 tuổi, Nhân viên kinh doanh)

Tuy nhiên, một thực trạng dễ thấy, các doanh nghiệp hiện nay rất cần đội ngũ

nhân sự chất lượng cao, nhưng ngược lại nhiều SVTN chưa đáp ứng được nhu cầu

tuyển dụng, đặc biệt phần kĩ năng. Nhìn nhận một cách thẳng thắn thì có đến 70%

SVTN chưa trang bị tốt về chun mơn cũng như các kỹ năng mềm và trình độ ngoại

ngữ. Ngoài vấn đề vừa nêu, một số ngành nghề cũng đang mất cân đối giữa các cấp

đào tạo và nhu cầu tuyển dụng. Sự chênh lệch về thu nhập trong từng ngành nghề dẫn

đến sự lựa chọn khác nhau trong nhu cầu tuyển dụng và tìm việc, cũng là một trong số

nguyên nhân.

Những năm kinh tế khủng hoảng khó khăn bao trùm trên tồn diện xã hội. Thất

nghiệp, giảm biên chế là nỗi ám ảnh lớn. Rất nhiều giám đốc dày kinh nghiệm lại phải

“ngồi chơi xơi nước” do cơng ty cắt giảm kinh phí, tuyển người “vừa phải” để giảm

quỹ lương. Bối cảnh của những năm ấy mở ra một hướng nhìn cho những năm tiếp

theo. Bằng cấp cao không phải là yếu tố quyết định trong chuyện dễ hay khó xin việc,

nhân lực phù hợp với yêu cầu tuyển dụng, đảm bảo kiến thức chuyên môn và kĩ năng

nghề mới là yếu tố chính đưa người lao động đến với thành công.



42



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 2: Thực trạng việc làm của sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành Công tác xã hội trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×