Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

Tải bản đầy đủ - 0trang

-



Là hoạt động lao động: thể hiện sự tác động của sức lao động vào tư liệu



sản xuất để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ. Yếu tố lao động trong việc làm phải có tính

hệ thống, tính thường xun và tính nghề nghiệp. Vì vậy người có việc làm thông

thường phải là những người thể hiện các hoạt động lao động trong phạm vi nghề nhất

định và trong thời gian tương đối ổn định.

-



Tạo ra thu nhập: Là khoản thu nhập trực tiếp và khả năng tạo ra thu nhập.



-



Hoạt động này phải hợp pháp: hoạt động lao động tạo ra thu nhập nhưng



trái pháp luật, không được pháp luật thừa nhận thì khơng được coi là việc làm . Tùy

theo điều kiện kinh tế-xã hội, tập quán, quan niệm về đạo đức của từng nước mà pháp

luật có sự quy định khác nhau trong việc xác định tính hợp pháp của các hoạt động lao

động được coi là việc làm. Đây là dấu hiệu thể hiện đặc trưng tính pháp lí của việc làm.

Dưới góc độ kinh tế xã hội, hoạt động kiếm sống là hoạt động quan trọng nhất

của lồi người nói chung và con người nói riêng. Hoạt động kiếm sống của con người

được gọi chung là việc làm.

Việc làm trước hết là nhu cầu của mỗi cá nhân, xuất phát từ nhu cầu của bản

thân nên tiến hành các hoạt động nhất định. Họ có thể tham gia hoạt động nào đó để

được trả cơng hoặc tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự sản tự tiêu như dùng

các tư liệu sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận hoặc tự tạo ra những sản phẩm cho

hộ gia đình mình.

Ngồi nhu cầu cá nhân, việc làm còn là nhu cầu của cộng đồng của xã hội.. Sở

dĩ có sự phát sinh này là do: con người không sống đơn lẻ và hoạt động lao động của

mỗi cá nhân cũng không đơn lẻ mà nằm trong tổng thể các hoạt động sản xuất, trao đổi,

phân phối, sử dụng của xã hội. Hơn nữa, việc làm và thu nhập không phải là vấn đề mà

lúc nào mỗi cá nhân NLĐ cũng quyết định được. Sự phát triển quá nhanh của dân số,

mức độ tập trung tư liệu sản xuất ngày càng cao vào tay một số cá nhân dẫn đến tình

trạng xã hội ngày càng có nhiều người khơng có khả năng tự tạo việc làm. Trong điều

kiện đó, mỗi cá nhân phải huy động mọi khả năng của bản thân để tự tìm việc làm cho

mình, phải cạnh tranh để tìm việc làm.

Tóm lại, xét về phương diện kinh tế- xã hội, có thể hiểu việc làm là các hoạt

động tạo ra, đem lại lợi ích, thu nhập cho người lao động được xã hội thừa nhận.

19



Như vậy, việc làm có hai đặc tính cơ bản:

Một là, xét dưới khía cạnh kinh tế, việc làm chính đáng là hoạt động của con

người tạo ra thu nhập; hoặc tạo ra những sản phẩm có lợi ích cho con người và xã hội

Hai là, dưới khía cạnh pháp lý của mỗi quốc gia, hoạt động tạo ra thu nhập đó

chỉ được coi là việc làm khi hoạt động đó khơng bị pháp luật quốc gia đó cấm.

Trên thực tế, có nhiều hoạt động tạo ra thu nhập nhưng bị pháp luật ngăn cấm

thì khơng được thừa nhận là việc làm; mặt khác có những hoạt động không bị pháp luật

cấm, không tạo ra thu nhập cũng có thể coi là việc làm nếu tạo ra những sản phẩm tự

sản, tự tiêu có ích lợi với cá nhân và xã hội

1.1.2. Thất nghiệp

Vấn đề thất nghiệp đã được nhiều nước, nhiều tổ chức, nhiều nhà khoa học bàn

luận. Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội và chính trị mà cũng còn nhiều

ý kiến khác nhau về vấn đề thất nghiệp.

Tại Cộng hòa Liên bang Đức, luật Bảo hiểm thất nghiệp quy định rằng thất

nghiệp là người lao động tạm thời khơng có quan hệ lao động hoặc chỉ thực hiện công

việc ngắn hạn [34, tr.76]. Ở Pháp người ta cho rằng, thất nghiệp là khơng có việc làm,

có điều kiện làm việc, đang đi tìm việc làm [37, tr.98]. Thái Lan định nghĩa về thất

nghiệp khẳng định: “Thất nghiệp được hiểu là không có việc làm, muốn có việc làm, có

năng lực làm việc [38, tr.21]. Trung Quốc định nghĩa về thất nghiệp như sau: “Thất

nghiệp là người trong độ tuổi lao động (dân thành thị) có khả năng lao động, chưa có

việc làm, đang đi tìm việc làm, đăng ký tại cơ quan giải quyết việc làm [36, tr.67].

Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO), “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại một số

người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng khơng thể tìm được việc làm ở

mức lương thịnh hành”.

Hội nghị Thống kê Lao động Quốc tế lần thứ tám năm 1954 tại Geneva đưa ra

định nghĩa: “Thất nghiệp là người đã qua một độ tuổi xác định mà trong một ngành

hoặc một tuần xác định, thuộc những loại sau đây:[33, tr26]:

 Người lao động có thể đi làm nhưng hết hạn hợp đồng hoặc bị tạm

ngừng hợp đồng, đang khơng có việc làm và đang tìm việc làm

 Người lao động có thể đi làm trong một thời gian xác định và đang tìm

việc làm có lương mà trước đó chưa hề có việc làm, hoặc vị trí hành



20



nghề cuối cùng trước đó khơng phải là người làm cơng ăn lương (ví dụ

người sử dụng lao động chẳng hạn) hoặc đã thôi việc.

 Người lao động không có việc làm và có thể đi làm ngay và đã có sự

chuẩn bị cuối cùng để làm một cơng việc mới và một ngày nhất định sau

một thời kỳ đã được xác định.

 Người phải nghỉ việc tạm thời hoặc khơng thời hạn mà khơng có lương

Có thể thấy, các định nghĩa tuy có khác nhau về mức độ, giới hạn (tuổi, thời

gian mất việc) nhưng đều thống nhất người thất nghiệp ít nhất phải có 3 đặc trưng:

 Có khả năng lao động

 Đang khơng có việc làm

 Đang đi tìm việc làm

Tại Việt Nam thất nghiệp được hiểu là những người trong độ tuổi lao động, có

khả năng lao động, có nhu cầu việc làm, đang khơng có việc làm[40]. Luật

71/2006/QH11 của Quốc hội: Luật Bảo hiểm xã hội quy định rằng người thất nghiệp là

người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng

lao động, hợp đồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm [41]. Tỷ lệ thất nghiệp là

phần trăm số người lao động khơng có việc làm trên tổng số lực lượng lao động xã

hội

Số người có việc làm

Tỷ lệ thất nghiệp = 100% x

Tổng số lao động xã hội

1.1.3. Sinh viên tốt nghiệp

Sinh viên là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp. Ở đó họ

được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này

của họ. Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học.

Như vậy, sinh viên là những người trẻ, học tập trong môi trường đại học, cao

đẳng, là những môi trường tri thức cao, họ được tiếp cận những tri thức tân tiến nhất

của nhân loại, là những chủ nhân tương lai của đất nước. Chính vì vây, Cố Thủ tướng

Phạm Văn Đồng đã từng nói: “Phải làm cho sinh viên, học sinh nắm được những kiến

thức hiện đại nhất”[46]

Sinh viên tốt nghiệp là những sinh viên đã hoàn thành toàn bộ chương trình học

tại trường Cao đẳng hoặc Đại học, được cơng nhận và cấp bằng tốt nghiệp. Những

người này còn có một cách gọi khác là Cựu sinh viên.



21



Như vậy, với các định nghĩa trên, ta có thể khái quát Việc làm của SVTN

chuyên ngành Công tác xã hội là hoạt động tạo ra giá trị vật chất và phi vật chất của

những người đã hồn thành chương trình học tập bậc đại học về chuyên ngành Công

tác xã hội tại các cơ sở đào tạo. Hoạt động tạo ra giá trị có thể được đo bằng thu nhập,

mức độ ổn định công việc,…

1.1.4. Nghề nghiệp

Nghề hay nghiệp, Đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như ý chủ biên, Nxb Văn hố

thơng tin – 1998) định nghĩa: “Nghề: Công việc chuyên làm theo sự phân cơng của xã

hội”; còn “Nghề nghiệp là nghề nói chung”. Từ điển Tiếng Việt (Văn Tân chủ biên,

Nxb Khoa học xã hội – 1991) thì định nghĩa: “Nghề là công việc hàng ngày làm để

sinh nhai”, “Nghề nghiệp: là nghề làm để mưu sống”, còn từ điển Larousse của Pháp

(Le Petit Larousse, NXB Larousse – 2006) định nghĩa: “Nghề nghiệp (Profession) là

hoạt động thường ngày được thực hiện bởi con người nhằm tự tạo nguồn thu nhập cần

thiết để tồn tại”.

Từ một số những quan điểm về nghề nghiệp ở trên, chúng ta có thể hiểu một

cách ngắn gọn và khái quát rằng, nghề nghiệp là một dạng lao động mà ở đó, đòi hỏi

con người cần qua một quá trình đào tạo chuyên biệt, để từ đó có những kỹ năng, kỹ

xảo về chun mơn, có phẩm chất, đạo đức phù hợp với dạng lao động tương ứng với

nghề nghiệp đó. Nhờ hoạt động nghề nghiệp mà con người có thể tạo ra những sản

phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu về vật chất cũng như tinh thần của cá nhân và tồn xã

hội.

Nghề nghiệp có thể hình thành do q trình đào tạo chính quy về nghề đó vì

nghề đòi hỏi một trình độ kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nhất định. Nghề cũng có thể hình

thành một cách tự phát do q trình tích lũy kinh nghiệm của bản thân trong q trình

xã hội hóa hoặc do truyền lại trong quá trình kèm cặp, học hỏi giữa người biết nghề và

người chưa biết nghề.

1.1.5. Thị trường lao động

Khái niệm Thị trường lao động cũng là một khái niệm đang tồn tại nhiều ý kiến

khác nhau từ những học giả khác nhau,

Theo Adam Smith, thị trường lao động là không gian trao đổi dịch vụ lao động

(hàng hóa sức lao động) giữa một bên là người mua sức lao động (chủ sử dụng lao

động) và người bán sức lao động (người lao động). Tuy nhiên, định nghĩa này lại chủ

22



yếu nhấn mạnh đối tượng trên thị trường lao động là dịch vụ lao động, chứ chưa phải là

người lao động

Theo Từ điển Kinh tế học Pengiun, (NXB Giáo dục – 1995), thị trường lao

động là thị trường trong đó tiền cơng, tiền lương và các điều kiện lao động được xác

định trong bối cảnh quan hệ của cung lao động và cầu lao động. Khác với Adam

Smith, định nghĩa này lại nhấn mạnh vào kết quả của mối quan hệ tương tác bên trong

thị trường lao động đó là tiền cơng, tiền lương và các điều kiện lao động

Theo Từ điển kinh tế MIT, (NXB Giáo dục – 2008), thị trường lao động là nơi

cung và cầu lao động tác động qua lại với nhau. Định nghĩa này cũng nhấn mạnh vào

quan hệ trong thị trường lao động, đó là quan hệ cung – cầu như bất kỳ một thị trường

nào khác.

Còn ở Việt Nam, theo Tìm hiểu một số khái niệm trong văn kiện Đại hội IX của

Đảng, thị trường lao động là: "Thị trường mua bán các dịch vụ của người lao động, về

thực chất là mua bán sức lao động, trong một phạm vi nhất định. Ở nước ta, hàng hóa

sức lao động được sử dụng trong các doanh nghiệp tư bản tư nhân, các doanh nghiệp

tư bản Nhà nước, các doanh nghiệp tiểu chủ, và trong các hộ gia đình neo đơn thuê

mướn, người làm dịch vụ trong nhà. Trong các trường hợp đó có người đi thuê, có

người làm thuê, có giá cả sức lao động dưới hình thức tiền lương, tiền cơng". Theo

như định nghĩa này thì thị trường lao động chỉ bó hẹp trong một vài thành phần kinh tế

nhất định, các quan hệ lao động trong khu vực kinh tế Nhà nước, khu vực kinh tế tập

thể, và khu vực hành chính sự nghiệp lại bị đặt ra ngồi các quy luật của thị trường.

Tóm lại, mặc dù có nhiều điểm khác biệt, nhưng các định nghĩa nêu trên đều

thống nhất nhau về các nội dung cơ bản của thị trường lao động, đó là: Thị trường lao

động là nơi mà người lao động và người sử dụng lao động thực hiện các quan hệ xã hội

thông qua các hình thức thỏa thuận về tiền lương, tiền cơng và các điều kiện làm việc

khác, trên cơ sở một hợp đồng lao động bằng văn bản hoặc qua các dạng thỏa thuận

khác như bằng miệng…

1.2. Các lý thuyết áp dụng

1.2.1. Lý thuyết lựa chọn hành vi hợp lý

Theo G. Homans, con người thực hiện hành vi ln có sự cân nhắc. Làm sao đạt

được lợi ích một cách tối đa và chi phí đặt ra là tối thiểu



23



Định đề kích thích: tương đồng giữa nhóm kích thích mới và cũ và khả năng lập

lại hành động. Nếu trong quá khứ, một kích thích đem lại một hành động được tưởng

thưởng, thì trong hiện tại kích thích càng giống kích thích trong q khứ, càng có khả

năng cá nhân lập lại hành động tương tự.Homans quan tâm đến khuynh hướng khái

quát hoá của con người, nghĩa là xu hướng mở rộng hành vi đến những hoàn cảnh

tương tự.

Định đề giá trị: hành động càng có giá trị cao đối với chủ thể bao nhiêu thì chủ

thể càng có xu hướng thực hiện hành động đó bấy nhiêu.

Định đề hợp lý: cá nhân chọn hành động nào có khả năng lớn nhất đạt được kết

quả.

Tất cả những định đề này đều nhấn mạnh con người là một chủ thể hợp lý trong

việc xem xét và chọn lựa hành động. Con người còn tính tốn giữa mức độ của giá trị và

tính khả thi của một hành động. Ví dụ, con người có thể chọn lựa hành động có giá trị

thấp nhưng tính khả thi cao.

Điểm cần lưu ý, tính hợp lý chỉ được xét từ góc độ nhận thức chủ quan của người

hành động. Đây là luận điểm cốt lõi của tâm lý học hành vi. Mặt khác, giá trị của kết

quả, của phần thưởng, sự mong đợi của cá nhân bắt nguồn từ những chuẩn mực xã hội,

từ phong tục tập quán, truyền thống của xã hội trong đó cá nhân sống.

Áp dụng Lý thuyết lựa chọn hành vi hợp lý vào vấn đề nghiên cứu ta thấy: trong

điều kiện kinh tế của khác nhau, SVTN có những lựa chọn khác nhau cho cơng việc

của mình. Một trong những lý do của sự lựa chọn đó phụ thuộc vào chế độ lương

thưởng, môi trường làm việc...

1.2.2. Lý thuyết nhu cầu của A. Maslow

Lí thuyết về thang bậc nhu cầu của Maslow là mơt trong các lí thuyết mà tầm

ảnh hưởng của nó được thừa nhận rộng rãi và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác

nhau. Trong lí thuyết này, ông sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống

trật tự cấp bậc và được thể hiện dưới dạng một hình kim tự tháp, trong đó, các nhu cầu

ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa

mãn trước đó, trong đó:



24



Nhu cầu cơ bản (basic needs): Được coi là quan trọng nhất vì nó đáp ứng nhu

cầu sinh lí tối thiểu của con người như ăn uống, ngủ, mặc, khơng khí để thở, tình dục,

… Maslow cho rằng, những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện khi những

nhu cầu này không được thỏa mãn.

Nhu cầu về an toàn, an ninh (safe, security needs): Khi con người đã được đáp

ứng các nhu cầu cơ bản, tức các nhu cầu này khơng còn điều kiện suy nghĩ và hành

động của họ nữa, họ sẽ nảy sinh nhu cầu về an toàn, an ninh. Con người mong muốn có

sự bảo vệ cho sự sống còn của mình khỏi các nguy hiểm. Nhu cầu này sẽ trở thành

động cơ hoạt động trong các trường hợp khẩn cấp, nguy đốn đến tính mạng như chiến

tranh, thiên tai, gặp thú dữ,… Nhu cầu này cũng thường được khẳng định thông qua

các mong muốn về sự ổn định trong cuộc sống, được sống trong các khu phố an ninh,

sống trong xã hội có pháp luật, có nhà cửa an tồn để ở,… Nhiều người tìm đến sự che

chở bởi các niềm tin tôn giáo cũng là do nhu cầu này, đây chính là việc tìm kiếm sự an

tồn về mặt tinh thần. Các chế độ bảo hiểm xã hội, các chế độ khi về hưu, các kế hoạch

để dành tiết kiệm tiền,… cũng chính là thể hiện sự đáp ứng nhu cầu an toàn này.

Nhu cầu về xã hội (social needs): Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu mong

muốn thuộc về một bộ phận, một tổ chức nào đó hoặc nhu cầu về tình cảm, tình

thương. Nhu cầu này thể hiện qua quá trình giao tiếp như việc kết bạn, tìm người yêu,

lập gia đình, tham gia một cộng đồng nào đó, đi làm việc, đi chơi picnic, tham gia các

câu lạc bộ, làm việc nhóm,…

Nhu cầu được quý trọng (esteem needs): Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu

tự trọng vì nó thể hiện hai khía cạnh: Nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng

thong qua các thành quả của bản thân, và nhu cầu của bản thân, và nhu cầu cảm nhận,

quý trong chính bản thân, danh tiếng của mình, có long tự trọng, sự tự tin vào khả năng

của bản thân. Sự đáp ứng và đạt được nhu cầu này có thể khiến cho một đứa trẻ học tập

tích cực hơn, một người trưởng thành cảm thấy tự do hơn.

Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs):Đây chính là nhu cầu được

sử dụng hết khả năng, tiềm năng của mình để tự khẳng định mình, để làm việc, đạt các

thành quả trong xã hội. Đó chính là việc đi tìm kiếm các cách thức mà năng lực, trí tuệ,

khả năng của mình được phát huy và mình cảm thấy hài lòng về nó.

25



Theo A. Maslow, con người cá nhân hay con người trong tổ chức chủ yếu hành

động theo nhu cầu. Chính sự thỏa mãn nhu cầu làm họ hài lòng và khuyến khích họ

hành động. Đồng thời việc nhu cầu được thỏa mãn và thỏa mãn tối đa là mục đích hành

động của con người. Theo cách xem xét đó, nhu cầu trở thành động lực quan trọng và

việc tác động vào nhu cầu cá nhân sẽ thay đổi được hành vi của con người. Những nhu

cầu này phát triển một cách hết sức tự nhiên cùng với sự phát triển của đời sống bản

thân, gia đình và xã hội.

Theo tháp nhu cầu của Maslow, nhu cầu giải trí nằm ở nấc thâng thứ ba, thuộc

về nhu cầu xã hội. Khi các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, mặc, ở,…, sự an toàn

được đảm bảo, con người sẽ nảy sinh những ước muốn được thỏa mãn các nhu cầu tinh

thần, nhu cầu được giải trí. Mặc dù Maslow xếp nhu cầu này sau hai nhu cầu phía trên,

nhưng ông nhấn mạnh rằng nếu nhu cầu này không được thỏa mãn, đáp ứng, nó có thể

gây ra các bệnh trầm trọng về tinh thần, thần kinh.

Tuy nhiên, con người không nhất thiết phải thực hiện các nhu cầu theo một tuần

tự sắp đặt trước như trên. Trong nhiều trường hợp, những nhu cầu ở bậc cao hơn đôi

khi lại được ưu tiên hơn. Chẳng hạn, hoặc khi gặp các vấn đề về tâm lí, mọi người

thường lựa chọn cách giải trí thư giãn nào đó trước khi nghĩ đên việc đáp ứng các nhu

cầu ăn ngủ.

Áp dụng vào đề tài nghiên này cứu ta thấy rằng, nhu cầu tìm kiếm việc làm nằm

ở nấc thang đầu tiên, nấc thang nhu cầu cơ bản của mỗi con người. Việc làm là một

phương pháp để giải quyết cho nhu cầu ăn, ngủ, nghỉ của con người. Chính vì vậy, việc

tìm kiếm một công việc là rất quan trọng đối với mỗi cá nhân trong xã hội nói chung và

mỗi sinh viên tốt nghiệp nói riêng

1.2.3. Lý thuyết xung đột

Trong xã hội học, xung đột được xem là một nhân tố tất yếu của đời sống xã

hội, nó diễn ra một cách phổ biến cả về qui mô và phạm vi không - thời gian, vì lẽ đó

nó được xem xét theo những chiều cạnh khác nhau. Đó là, xung đột khơng chỉ diễn ra

các hành động chống đối nhau mà còn diễn ra cả những hành động nhằm giải quyết

xung đột theo nhiều cách khác nhau (như hòa giải, thỏa hiệp, rút lui...); xung đột có

nhiều nguồn gốc khác nhau và bản thân mỗi cuộc xung đột có một nguyên nhân riêng;

26



xung đột có thể diễn ra giữa cộng đồng này, tập đoàn này với cộng đồng khác, tập đoàn

khác, cũng có thể chỉ diễn ra trong nội bộ một cộng đồng hay một tập đoàn; ganh đua,

cạnh tranh trong nhiều trường hợp cũng được coi là một dạng xung đột. Xuất phát từ

những quan niệm này, các nhà xã hội học đã đưa ra lý thuyết vai trò, lý thuyết tập đồn

để xem xét và giải thích các cuộc xung đột xã hội.

Thuyết xung đột cho rằng: đời sống dựa trên cơ sở các quyền lợi, do đó thường

nảy sinh sự mâu thuẫn, đối lập vì lợi ích, từ đó dẫn tới xung đột giữa các nhóm. Mâu

thuẫn và xung đột cũng làm cho các hệ thống xã hội bị phân hóa và ln có xu hướng

hướng tới sự thay đổi. Cần nhận thức xung đột xã hội về cả 2 mặt đồng thời và lịch

thời (mặt đồng thời thì xem xét cấu trúc xã hội, mặt lịch thời thì xem xét quá trình xã

hội). Hai trạng thái cân bằng và xung đột nằm trong cùng một quá trình, quan hệ với

nhau như quan hệ giữa trị và loạn, thường và biến.

Các giả định của lý thuyết xung đột được xây dựng trên cơ sở thừa nhận xung

đột là đặc trưng và khơng thể tránh khỏi trong các nhóm xã hội (David M. Klein &

Jame M. White, 1996). Những người tham gia cùng nhau để đạt được một mục tiêu

chung và có xung đột vì bất đồng về các vấn đề khác và cấu trúc đối lập giữa quyền tự

chủ và liên kết với nhau. Thật vậy, khi con người càng dành nhiều thời gian và đặt ra

những kỳ vọng lớn nhất cho “cảm giác về sự thống nhất” thì họ càng dễ phải đối mặt

với cuộc xung đột lớn. Và mọi nhóm xã hội lớn hay nhỏ, tất cả các nhóm xã hội có “lợi

ích”, ngay cả khi chỉ tồn tại, thì khơng phải tất cả các nhóm cùng một lúc có thể đạt

được mục tiêu của họ (khan hiếm tài nguyên), do đó có xung đột. Giả sử rằng các

nhóm và cá nhân phải cạnh tranh cho nguồn lực khan hiếm, sự khan hiếm tài nguyên là

điều kiện cần thiết cho sự cạnh tranh.

Con người được thúc đẩy chủ yếu bởi lợi ích cá nhân. Tư lợi cá nhân “được bất

nguồn từ ý chí để sống sót”. Nói rộng ra, con người khái quát định hướng tư lợi cá

nhân này từ sự sống sót đơn thuần đến phương thức hoạt động tổng quát hơn trên thế

giới. Như vậy, nếu có ham muốn một cái gì đó thuộc sở hữu của một người khác, người

mà có nhiều quyền lực hay sức mạnh hơn thì giải pháp đó là cầm người có cùng tư

tưởng ở gần nhau để họ khơng thể tập chung năng lực thực hiện mong muốn của mình

được. Đây là trạng thái tự nhiên. Trái với các lý thuyết vị lợi, tư lợi cá nhân không cần

27



thiết phải gắn với trí óc hợp lý. Nguồn gốc lợi ích cá nhân không bị ngăn cản là nguồn

gốc “xung đột từ mọi phía” theo quan điểm của Hobbes (David M. Klein & Jame M.

White, 1996).

Mâu thuẫn cơ bản là do sự khan hiếm nguồn tài nguyên. Nếu có sự dư thừa tài

ngun thì sau đó ngay cả nếu con người hành động theo lợi ích cá nhân thì sẽ khơng

có lý do để học dẫn đến các cuộc xung đột. Quả thực, Marx đã tạo ra từ khóa khan

hiếm này trong giai đoạn cuối cùng của quan điểm duy vật biện chứng của ông về lịch

sử trong chuyển đổi tài nguyên được phân chia “theo công việc” tới “hưởng theo nhu

cầu”. Sau này, các học thuyết xung đột đã trở nên rõ ràng hơn về giả định này như là

các yếu tố cơ bản trong quan điểm của xung đột. Quan niệm về nguồn tài nguyên và

năng lượng đã trở thành trung tâm đối với những gì mà nhiều người coi là bản chất

thực sự của cuộc xung đột (David M. Klein & Jame M. White, 1996).

Áp dụng vào đề tài nghiên cứu, ta có thể thấy rằng, khi việc làm phù hợp với

năng lực, phẩm chất của sinh viên tốt nghiệp ngày càng khan hiếm, thì mâu thuẫn xảy

ra ở hai chiều cạnh. Thứ nhất là giữa các sinh viên tốt nghiệp với nhau khi “tranh đấu”

để đạt được một công việc theo đúng nhu cầu và nguyện vọng. Thứ hai là giữa bản

thân sinh viên và gia đình, khi mà gia đình muốn tìm kiếm một cơng việc ổn định, lâu

dài cho sinh viên tốt nghiệp thì bản thân sinh viên lại muốn tìm kiểm một cơng việc

theo đúng sở thích, nhu cầu của bản thân mình

1.3.



Quan điểm của Nhà nước Việt Nam đương đại về định hướng



phát triển nghề Công tác xã hội hiện nay

Sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, quan điểm xuyên suốt của Đảng

và Nhà nước ta là tăng trưởng kinh tế phải tiến hành đồng thời với tiến bộ và công

bằng xã hội. Cùng với sự phát triển về kinh tế, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến

đời sống của các nhóm yếu thế trong xã hội như người nghèo, người khuyết tật, người

có hồn cảnh khó khăn,..

Trong những năm gần đây, khi đời sống của người dân ngày ngày được cải

thiện, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách về an sinh xã hội, hướng tới

việc trợ giúp các đối tượng, góp phần ổn định xã hội. Các chính sách hiện nay ngày

càng trở nên toàn diện, bao trùm được hẩu hết các nhu cầu cơ bản của các nhóm yếu

28



thế: về ni dưỡng, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, hướng nghiệp,

dạy nghề,… Cùng với đó, các nhóm đối tượng được trợ giúp cũng từng bước mở rộng

hơn, ngày càng đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn xã hội, mức trợ giúp xã hội ngày

càng cao hơn, cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản ngày càng được cải thiện. Đặc

biệt, cùng với sự hội nhập của nền kinh tế, các chính sách xã hội hiện nay cũng ngày

càng được nâng cao, mang tính hội nhập quốc tế, bên cạnh việc phát huy truyền thống

văn hóa, nhân văn của dân tộc. Song hành với sự phát triển đó, nhu cầu về nhân viên

Cơng tác xã hội cũng ngày càng cao hơn. Đó là những người làm việc trong lĩnh vực

chăm sóc người có cơng với cách mạng, bảo vệ trẻ em, trợ giúp người khuyết tật, trợ

giúp các cá nhân, gia đình tan vỡ, phòng chống tệ nạn ma túy, mại dâm, chăm sóc bệnh

nhân tâm thần, chăm sóc – trợ giúp người nhiễm và ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, giảm

nghèo và trợ giúp người cao tuổi.

Xuất phát từ nhu cầu thực tế đó, ngày 25 tháng 3 năm 2010, Thủ tướng Chính

phủ đã ban hành Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển nghề

Công tác xã hội giai đoạn 2010 – 2020. Đề án chính là việc cụ thể hóa các quan điểm,

chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc chăm lo cho đời sống của

nhân dân, xây dựng một hệ thống an sinh xã hội tiên tiến, góp phần giữ vững sự ổn

định chính trị, thúc đẩy kinh tế - xã hội đất nước phát triển, đưa nước ta cơ bản trở

thành một nước công nghiệp vào năm 2020. Từ đề án trên, đến nay chương trình đào

tạo bậc cử nhân Công tác xã hội cũng đang được triển khai ở 55 trường Đại học, Cao

đẳng trên khắp cả nước. Sau gần 10 năm triển khai, Đề án phát triển nghề Công tác xã

hội đã đi vào cuộc sống và đạt được nhiều kết quả tích cực trên nhiều lĩnh vực.

Thứ nhất, về xây dựng và ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về

Công tác xã hội. Trong thời gian qua đã có một số đề xuất sửa đổi, bổ sung một số luật,

Bộ luật liên quan đến nghề Công tác xã hội như Bộ luật Lao động, Luật Bảo vệ, chăm

sóc và giáo dục trẻ em, Bộ luật Dân sự, Luật Hơn nhân và Gia đình, Luật Phòng chống

bạo lực gia đình, Luật Bình đẳng giới. Bên cạnh đó cũng phát hành nhiều văn bản quy

phạm pháp luật liên quan đến nghề Công tác xã hội. Đặc biệt trong năm 2013, Bộ Nội

vụ đã xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định số 17/2013/ NĐ-CP ngày

19/02/2013 sửa đổi, bổ sung một số điểu của Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14

29



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×