Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
VÀ CÁC VẤN ĐỀ HÀNH VI Ở TRẺ

VÀ CÁC VẤN ĐỀ HÀNH VI Ở TRẺ

Tải bản đầy đủ - 0trang

này gặp khó khăn khi thiết lập các mối quan hệ xã hội, và những vấn đề này có thể

chuyển tiếp sang các giai đoạn sau (Trương Khánh Hà, 2013, tr.87)

Từ lý thuyết cấu trúc tâm trí của Freud, Mahler phát triển một lý thuyết mới

nhằm tập trung vào tương tác mẹ - con trong ba năm đầu đời, do đó bở sung cho các

lý thút giai đoạn tâm lý của Freud và giai đoạn phát triển tâm lý xã hội của Erikson.

Bà tin rằng mối quan hệ mẹ con bắt đầu với giai đoạn một thực thể mà bà gọi là cộng

sinh (symbiosis).Từ đó trẻ mới dần tách ra và hình thành bản sắc cá nhân riêng. Để có

thể làm được điều này, trẻ phải nội tâm hóa mối quan hệ với mẹ, phải được tạo cảm

giác kết nối với mẹ trong khi vẫn phát triển khả năng tự chủ của mình. Rối nhiễu

trong quá trình này sẽ dẫn đến mâu thuẫn kéo dài ở giai đoạn sau, bao gồm lo âu chia

ly và trở ngại trong việc xây dựng bản sắc an toàn cho cá nhân. Như vậy, việc hồn

thành thành cơng các giai đoạn trong những năm đầu tiên của cuộc sống dẫn đến sự

tách biệt và cá biệt hóa. Tách biệt đề cập đến một quá trình nội tâm của sự tách biệt

về tinh thần với người mẹ, trong khi cá nhân là một khái niệm tự phát triển. Mặc dù

có quan hệ với nhau, người ta có thể phát triển hơn người khác, phần lớn phụ thuộc

vào thái độ của người mẹ đối với đứa trẻ (David L, 2015).

Bowlby (1969/1982) người được ghi nhận là người đề xuất ra thuyết gắn bó.

Bằng những quan sát từ việc trẻ sơ sinh bị tách khỏi mẹ và ghi lại những phản ứng

đau buồn của đứa trẻ thể hiện với sự chia tách. Ông đưa ra giả thuyết hành vi của trẻ

sơ sinh là biểu hiện của mối quan hệ tình cảm giữa trẻ sơ sinh với mẹ của chúng mà

ơng gọi là sự gắn bó mẹ con (mother - infant attachment ). Bowlby (1973) định

nghĩa gắn bó là mối quan hệ tình cảm gần gũi giữa hai người được đặc trưng bởi

tình cảm lẫn nhau và mong muốn duy trì sự gần gũi. Mối quan hệ gắn bó đầu tiên

giữa mẹ và con, theo ơng, được hình thành trong những năm đầu đời và vẫn tương

đối ổn định trong suốt thời thơ ấu, thanh thiếu niên và trưởng thành. Sự gắn bó mẹ

con được Bowlby (1973) đề xuất là một quá trình cực kỳ quan trọng cho sự phát

triển cảm xúc lành mạnh của cá nhân. Trong lý thút gắn bó của ơng, Bowlby

(1969/1982) cho rằng nếu một người chăm sóc chính (trong hầu hết các trường hợp

là người mẹ) ln nhạy cảm với tiếng khóc của trẻ sơ sinh hoặc các tín hiệu cần

thiết khác, mối quan hệ gắn bó bắt đầu phát triển. Đến nửa cuối năm đầu tiên, trẻ sơ

7



sinh bắt đầu có niềm tin rằng người chăm sóc trẻ rất nhạy cảm. Theo Bowlby

(1973), sự tin tưởng của trẻ sơ sinh vào các phản ứng tích cực của người mẹ dẫn

đến sự thể hiện bên trong trẻ, biểu hiện của mối quan hệ tích cực, đáng tin cậy, an

toàn giữa mẹ và trẻ. Đồng thời, trẻ hình thành một biểu tượng cái tôi phù hợp với

tình yêu và sự chăm sóc của người mẹ. Biểu tượng nhận thức/ mô hình làm việc này

(Bowlby, 1969/1982) sau đó được khái quát hóa theo mong đợi của đứa trẻ về các

mối quan hệ khác và phục vụ để định hướng các phản ứng hành vi của trẻ sơ sinh

đến sự đau buồn. Do đó, mơ hình này trở thành nền tảng tiếp diễn cho những cảm

xúc, hành vi, trẻ sơ sinh liên quan đến cảm xúc, hành vi và kinh nghiệm của chúng.

Đồng thời, ông đưa ra giả thút rằng mơ hình gắn bó an tồn trở thành khuôn mẫu

nhận thức cho các mối quan hệ trong suốt cuộc đời đứa trẻ (Mary S. La Mont, 2010)

Bowlby (1969/1982) cũng quan sát thấy rằng một số trẻ sơ sinh đã phát triển

một mô hình hoạt động của sự gắn bó khơng an tồn khi người mẹ khơng có cảm

xúc với đứa trẻ, hoặc sự nhạy cảm hoặc phản ứng của người mẹ không nhất quán

hoặc tiêu cực. Mơ hình gắn bó khơng an tồn cũng được thực hiện từ mối quan hệ

nền tảng của trẻ đến các mối quan hệ tiếp theo của cá nhân đó trong suốt cuộc đời.

Các nhà nghiên cứu đã gợi ý rằng khoảng 90% thời gian của trẻ sơ sinh gắn

bó với mẹ, thời lượng gắn bó chính của trẻ là mẹ, mặc dù tồn tại một số tình huống

khác như người bà, người cha, hoặc một người khác đóng vai trò chăm sóc chính.

Các tác giả khác (Colin, 1996) đã chỉ ra rằng sự gắn bó được hình thành nhiều hơn

với một người chăm sóc. Trong những trường hợp này, sự an tồn của mối quan hệ

có sự khác nhau với mỡi người chăm sóc khác nhau, nhưng như một quy luật nếu sự

gắn bó với người chăm sóc chính rất an tồn thì sự gắn bó với những người khác

cũng sẽ an toàn. Bởi vì hầu hết các nghiên cứu đã tập trung vào mối quan hệ giữa

mẹ và con đánh giá này mang tính văn hóa chỉ tập trung vào mối quan hệ gắn bó

giữa các bà mẹ và con nhỏ của họ trước 3 t̉i.

Người chăm sóc và sức khỏe của người mẹ đóng vai trò nền tảng cho sự phát

triển chính của đứa trẻ, một số trẻ phát triển như những gì mà Bowlby (1969/1982)

mô tả là gắn bó khơng an tồn với người mẹ. Đây là loại gắn bó ít mong muốn được

biểu hiện bằng tình cảm kém ổn định hoặc sự vắng mặt giữa các bà mẹ và trẻ sơ

8



sinh với các hành vi kém an toàn hơn trong việc tìm kiếm sự gần gũi với nhau. Sự

gắn bó khơng an tồn đã được đặt tên là một yếu tố nguy cơ đáng kể đối với một số

rối loạn cảm xúc và hành vi ở cả thời thơ ấu và tuổi trưởng thành (Sroufe và cộng

sự,2000). Một số nhà nghiên cứu đã đưa ra giả thuyết rằng hầu như tất cả các vấn đề

xã hội và cảm xúc xuất hiện ở thời thơ ấu là do các vấn đề quan hệ thiếu gắn bó an

tồn với người chăm sóc chính (Raver & Zigler, 1997).

Một số tác giả khác cũng chỉ ra một khía cạnh đặc biệt cần nghiên cứu là mối

quan hệ giữa sự gắn bó mẹ con đến những vấn đề chậm phát triển và các vấn đề về

hành vi diễn ra trong giai đoạn mẫu giáo của trẻ sơ sinh tới sự chậm phát triển và

các vấn đề hành vi. Vấn đề cần thiết này được bày tỏ bởi một số nhà nghiên cứu

như họ đã chỉ ra mối quan hệ giữa sự gắn bó khơng an tồn ở trẻ em phát triển bình

thường và những trẻ em gặp vấn đề về hành vi ở tuổi mẫu giáo, thanh thiếu niên và

tuổi trưởng thành (Bohlin, Hagekull, & Rydell, 2000; Park & Waters, 1989). Những

nghiên cứu này, không bao gồm những đứa trẻ được xác định ở độ tuổi trẻ bị chậm

phát triển. Bởi vì trẻ chậm phát triển được coi là có nguy cơ mắc các vấn đề về cảm

xúc và hành vi, các nghiên cứu về ảnh hưởng sớm đến hành vi vấn đề trong dân số

này dường như là tối quan trọng.

Mối quan hệ sớm mẹ - con là chủ để quan tâm chính trong suốt cuộc đời của

Winnicott, bác sĩ nhi khoa và nhà phân tâm học người Anh từng nói: Một đứa trẻ

khơng tồn tại một mình mà nó chủ yếu là một bên của mối quan hệ mẹ - con. Quan hệ

này là phức tạp. Mối gắn bó mẹ - con được hình thành từ vô số mối liên hệ được nuôi

dưỡng bằng tiếp xúc thể chất và tình cảm bằng các cuộc gặp gỡ huyễn tưởng với các

thành viên khác trong gia đình( Gerard Poussin, 2013, tr.139 – 140). Đối với ơng, trẻ

sơ sinh có tiềm năng bẩm sinh, sẽ trưởng thành nhưng chỉ hoàn thiện khi có sự chăm

sóc của người mẹ. Trẻ chỉ có thể phát triển được “cái tôi” riêng của chúng nếu chúng

nhận được cái gọi là “sự hiện diện đầy đủ liên tục” của người mẹ. Lúc đó “cái tơi”

của người mẹ có vai trò nâng đỡ cái tơi ́u đuối chưa thể hòa nhập với mơi trường

của trẻ. Dần dần trẻ có thể tự cảm nhận, tự hòa nhập và tự xa mẹ vì trẻ đã cảm nhận

đủ sự hiện diện liên tục của mẹ. Đối với Winnicott, các rối loạn tinh thần khi trưởng

thành có nguồn gốc từ những kinh nghiệm đầu tiên của trẻ trong mối quan hệ với mẹ

và với môi trường xung quanh. (Dana Castro, 2016)

9



Như vậy, qua các công trình nghiên cứu, các tác giả nước ngồi cũng chỉ ra

vai trò gắn bó mẹ con trong quá trình phát triển của trẻ và đặc biệt là những vấn đề

hành vi, cụ thể như sau:

- Những năm đầu đời là những năm quan trọng nhất đối với sự hình thành

nhân cách, các hành vi bình thường và bất thường đều có sự liên hệ đến những năm

đầu, đặc biệt là những tương tác sớm giữa trẻ và môi trường xã hội đề ra mô hình

học tập, các hành vi thích nghi và sự đối đầu với các tác nhân lo âu.

- Người mẹ có vai trò quan trọng hơn tất cả, là người tạo nên lòng tin của đứa

trẻ bằng sự đáp ứng nhu cầu, chăm sóc trẻ trong giai đoạn đầu đời. Người mẹ chính là

người có vai trò mang đến những trải nghiệm đầu đời của thân chủ, sự quan tâm

chăm sóc của mẹ và thân chủ có thể là hệ quả dẫn đến các hành vi hụt hẫng, thu

mình, nghi hoặc, mất lòng tin cả ở thân chủ và cả đứa trẻ lúc trưởng thành.

- Người mẹ đóng vai trò nền tảng chính của đứa trẻ, sự gắn bó khơng an

tồn được xem như là yếu tố nguy cơ liên quan đến một số rối loạn cảm xúc và

hành vi ở thời thơ ấu và tuổi trưởng thành.

- Mối quan hệ giữa sự gắn bó mẹ con có thể liên quan đến những vấn đề

chậm phát triển và các vấn đề về hành vi diễn ra trong giai đoạn mẫu giáo của trẻ sơ

sinh tới sự chậm phát triển và các vấn đề hành vi.

- Ở những trẻ vắng mẹ lâu ngày, thiếu hụt tình cảm của mẹ, chúng ta có thể

quan sát thấy các dấu hiệu về thể chất như sụt cân, khó ngủ, từ chối ăn, chậm phát

triển tâm vận động, dễ bị nhiễm khuẩn. Về tâm lý, trẻ tự cô lập, tránh tiếp xúc với

xã hội, tự kích thích bằng những hành vi rập khn và có ánh nhìn xa xăm, thụ

động. Trẻ có các vấn đề về hành vi như hiếu động q mức hoặc có tính hiếu chiến,

ngơn ngữ kém phát triển. Trẻ thể hiện không muốn ôm mẹ, hơn mẹ, khơng muốn

nhìn vào mắt mẹ và khơng nói, với người khác cũng ứng xử tương tự.

Các rối nhiễu do mối quan hệ gắn bó mẹ con sớm gồm lo hãi, khủng hoảng

sự hình thành cái Tôi, rối loạn về tư duy, ngôn ngữ, duy kỉ quá, tự cao, tự đại;

ngược lại là mặc cảm tự ti, giải thể nhân cách. Trẻ tách khỏi những liên hệ xung

quanh, không nhận thấy sự khác nhau trong ứng xử giữa người thân và người lạ.

Cũng có những trẻ bộc lộ các nhu cầu khát khao tiếp xúc, vồ vập những người

không quen biết.

10



1.1.2. Điểm luận một số nghiên cứu về vấn đề hành vi

Thay vì nhấn mạnh đến các vấn đề bên trong, các khía cạnh bản năng, các

yếu tố vô thức trong quá trình phát triển và biến đổi hành vi con người, tiếp cận về

vấn đề hành vi trong tâm lý học là tập trung trực tiếp vào hành vi và các mối quan

hệ của nó với các điều kiện môi trường và nhân cách. Từ quan điểm cơ bản: phần

lớn hành vi chịu ảnh hưởng của quá trình học tập được hình thành trong một tình

huống, bối cảnh xã hội nhất định nào đó.

Khi đề cập các vấn đề hành vi cần nói đến lý thuyết hành vi cở điển của

J.Watson có những điểm đề cập, lý giải hành vi con người như sau: thứ nhất, hành

vi con người tuy có một số khác biệt so với động vật, nhưng bản chất hành vi người

là tổ hợp phản ứng của cơ thể để trả lời kích thích tác động vào cơ thể. Thứ hai,

không thừa nhận tâm lý, ý thức tham gia vào việc điều khiển hành vi người. Để

nghiên cứu hay điều chỉnh hành vi nói chung và hành vi người nói riêng thì chỉ cần

dựa vào yếu tố đầu trong công thức S -> R (Nguyễn Hồi Loan,Trần Thu Hương,

2018, tr.183).

Tiếp tục kế thừa và phát triển quan điểm của J.Watson, B.F.Skinner cho rằng

sự khác biệt đầu tiên giữa hành vi có điều kiện với hành vi tạo tác là hành vi có điều

kiện xuất hiện nhằm tiếp nhận một kích thích củng cố còn hành vi tạo tác nhằm tạo

ra kích thích củng cố. Từ đó mà ơng kết luận rằng hành vi tạo tác đặc trưng cho việc

học tập hàng ngày vì thông thường hành vi mang tính tạo tác, nên cách tiếp cận có

hiệu quả nhất đối với khoa học về hành vi là nghiên cứu về điều kiện hóa và sự tắt

dần các hành vi tạo tác.

Lý thyết tiếp nhận thức xã hội do Albert Bandura khởi xướng, xem hành vi

của con người được hình thành dựa vào 3 cơ sở nền tảng có tương quan chặt chẽ với

nhau đó là: (1) kích thích ngoại cảnh, (2) sự củng cố bên ngoài, (3) các quá trình

nhận thức trung gian bên trong. Trong 3 yếu tố này thì quá trình thứ ba có vai trò

đặc biệt quan trọng bới chúng chi phối cách mà chúng ta nhìn nhận cũng như diễn

giải các kích thích từ môi trường.

Như vậy tiếp cận hành vi xem xét các vấn đề hành vi con người là phản ứng của

họ đối với tác động từ môi trường xung quanh chứ khơng hồn tồn là các triệu chứng

11



bệnh lý. Từ cơ sở nền tàng nghiên cứu về khoa học hành vi mà có nhiều quan điểm, đề

tài nghiên cứu, các thiết kế, các công cụ được xây dựng nhằm hỗ trợ, phục vụ cho các

vấn đề đặt ra trong tâm lý học cũng như tâm lý học lâm sàng đáp ứng trong quá trình

nghiên cứu, chẩn đoán, trị liệu, chăm sóc sức khỏe tâm thần, giáo dục, y tế dự phòng

nói chung và giải qút các vấn đề hành vi trẻ em nói riêng. Tiêu biểu như :

Danh mục bảng phân loại bệnh quốc tế ICD – 10 được xây dựng và hoàn

thiện nhằm phục vụ cho quá trình chẩn đoán, chữa bệnh và nghiên cứu về bệnh tật

và các vấn đề sức khỏe. Các rối loạn tâm thần và hành vi nằm ở chương 5, trong đó,

Bảng phân loại bệnh quốc tế ICD – 10 liệt kê các rối loạn hành vi và cảm xúc

thường khởi phát ở tuổi trẻ em và thanh thiếu niên từ mục F90 – F98 bao gồm 8 vấn

đề chính: Các rối loạn tăng động; Các rối loạn hành vi; Các rối loạn hỗn hợp hành

vi và cảm xúc; Các rối loạn cảm xúc và sự khởi phát đặc biệt ở tuổi trẻ em; Rối loạn

hoạt động xã hội và sự khởi phát đặc biệt ở tuổi trẻ em và thanh thiếu niên; Các rối

loạn tic; Những rối loạn hành vi và cảm xúc khác thường khởi phát ở tuổi trẻ em và

thanh thiếu niên (WHO, 1993).

Tương tự Hiệp hội tâm thần Hoa Kỳ cơng bố Sở tay thống kê và chẩn đốn

các rối loạn tâm thần rút gọn – DSM IV bao gồm các bệnh tâm thần và đưa ra

những rối loạn thường được chẩn đoán ở trẻ thơ, trẻ em và thanh thiếu niên (35) bao

gồm 10 mục: Chậm phát triển tâm thần; Những rối loạn về học tập; Rối loạn về kỹ

năng vận động; Những rối loạn về giao tiếp; Những rối loạn phát triển lan tỏa;

Những rối loạn giảm chú ý và rối loạn hành vi; Những rối loạn hành vi ăn uống và

những rối loạn về hành vi ăn uống ở trẻ thơ hoặc trẻ em; Các rối loạn tic; Những rối

loạn kiểm sốt cơ vòng; Những rối loạn khác (APA, 1996).

Từ cơ sở nền tảng dựa trên các công cụ chính ICD – 10 và DSM – IV,

Frances Gardner và Daniel S. Shaw tổng hợp và đưa ra: Các vấn đề về hành vi của

trẻ nhỏ và trẻ mẫu giáo từ giai đoạn 0 đến 5 tuổi bị ảnh hưởng bởi cả hai yếu tố sinh

học và môi trường, như biểu hiện ở sự khác biệt cá nhân về đặc điểm của trẻ (ví dụ:

loại hình khí chất, tính xã hội, sự chú ý) và chất lượng của mơi trường chăm sóc.

Các ́u tố mơi trường di truyền và trước khi sinh có ảnh hưởng trong giai đoạn t̉i

này. Giữa các ́u tố nguy cơ, trong đó có xác suất xuất hiện rối loạn; tiểu sử, trong

12



đó có sự liên quan đến một vấn đề ban đầu (ví dụ: các vấn đề chống đối ở trường

mầm non) và sau đó (rối loạn hành vi ứng xử); sự xuất hiện của rối loạn hành vi.

Tính khí cực đoan thường được xem là yếu tố nguy cơ cho các vấn đề hành vi sau

này (Hill, 2002), mặc dù ở mức độ khác biệt vừa phải và khơng có các chỉ số khác

về nguy cơ ở trẻ em hoặc các vấn đề nguy cơ từ gia đình, những khác biệt cá nhân

như vậy có thể ảnh hưởng đến quá trình phát triển hơn là nguy cơ rối loạn. Trong

những năm gần đây, ngày càng có nhiều sự nghiên cứu thừa nhận về nhiều yếu tố

tương tác sớm, quá trình chăm sóc ảnh hưởng tới sự khác biệt của trẻ sơ sinh biểu

hiện như các vấn đề ăn uống, cảm xúc hoặc hành vi chống đối (Campbell, Shaw, &

Gilliom, 2000). Một số tác giả khác như Thomas, Chess, Birch (1968) cũng nhấn

mạnh đến tầm quan trọng và lợi ích giữa tính cách của cha mẹ ảnh hưởng đến các

vấn đề của trẻ, và ngược lại sự tác động của trẻ đối với cha mẹ, mô hình tương tác

giữa cha mẹ và con cái. Do đó, mà đề đánh giá và can thiệp các vấn đề hành vi ở trẻ

cần tập trung vào việc thay đổi hành vi của trẻ, hành vi, các nguồn lực từ cha mẹ và

chất lượng tương tác giữa cha mẹ và con. Vì trẻ em dưới 5 t̉i q phụ thuộc vào

mơi trường chăm sóc của chúng, nên cần chú trọng đến việc xác định các yếu tố

nguy cơ rủi ro trong gia đình và các bối cảnh chăm sóc (ví dụ: chất lượng chăm sóc

hoặc người chăm sóc) giúp điều chỉnh quá trình xuất hiện hành vi sớm ở trẻ.

(Michael Rutter, Dorothy Bishop, Daniel Pine, Stephen Scott, Jim Stevenson, Eric

Taylor, Anita Thapan, 2009, tr.883)

Như vậy, đề cập đến các vấn đề về hành vi cần quan tâm đến cả hai yếu tố

sinh học và môi trường cụ thể đó là về mặt di truyền, mơi trường sống, môi trường

giáo dục, môi trường xã hội, các yếu tố văn hoá – xã hội.

1.1.3. Các nghiên cứu về đánh giá và can thiệp liên quan đến gắn bó và vấn đề

hành vi của trẻ

1.1.3.1. Một số nghiên cứu về đánh giá rối loạn gắn bó mẹ con và vấn đề hành vi

Hiện tại, khơng có cơng cụ cụ thể được xác nhận để chẩn đoán rối loạn phản

ứng gắn bó. Chẩn đốn được thực hiện trên cơ sở phỏng vấn lâm sàng về lịch sử

phát triển và quan sát hành vi. Thực hiện các xét nghiệm y tế và tâm thần của trẻ để

loại trừ các triệu chứng cụ thể và các nguyên nhân thực thể hoặc các chẩn đốn

13



bệnh tâm thần khác có thể giải thích cho sự thoái lui xã hội ở trẻ em. Ví dụ cần loại

trừ chẩn đoán ám ảnh sợ xã hội trước khi xác định chẩn đốn rối loạn phản ứng gắn

bó. Cả ám ánh sợ xã hội và rối loạn phản ứng gắn bó có thể là một triệu chứng

chính của sự thoái lui xã hội ở trẻ. Tuy nhiên, ám ảnh sợ xã hội liên quan đến sự lo

lắng dữ dội trong mơi trường xã hội ngồi các mối quan hệ tương tác gia đình và

trong rối loạn phản ứng gắn bó ln thể hiện các mối quan hệ giữa các cá nhân đều

bị xáo trộn.

Mặc dù trong lĩnh vực tâm thần học và tâm lý học khơng có cơng cụ đánh giá

về rối loạn gắn bó hiệu quả, đặc biệt là đối với trẻ em trong độ tuổi đi học. Tuy

nhiên, gần đây Trinis và cộng sự (Trinis, 2009) đã phát triển Bảng câu hỏi về các

vấn đề trong các mối quan hệ (RPQ) để phát hiện ra những rối loạn phản ứng gắn

bó (RAD) dành cho phụ huynh và giáo viên để kiểm tra tính bất biến giữa thông tin

được cung cấp. Bảng câu hỏi về rối loạn phản ứng gắn bó có 17 mục đề cập đến các

triệu chứng rối loạn tập tin đính kèm của cả hai loại, được mã hoá theo thang điểm

từ 0 đến 3. Cả hai loại tập rối loạn gắn bó đều khơng được đề cập riêng có thể đạt

được điểm trung bình từ 0 đến 51 điểm cao cho thấy nhiều triệu chứng rối loạn gắn

bó.



Kết quả nghiên cứu này dựa trên kết quả phỏng vấn rối loạn gắn bó



(Disturbances of Attachment Interview – DAI). Kết quả thu được giữa RPQ đều có

thể chấp nhận được tính nhất quán bên trong tốt và tương quan mong đợi với các

thông tin của DAI. Nhìn chung RPQ là một công cụ đa thông tin có thể thu thập

nhiều thơng tin, triệu chứng cho rối loạn phản ứng gắn bó ở trẻ em có vấn đề

nghiêm trọng về cảm xúc và hành vi (John Wiley& Sons, 2013).

1.1.3.2. Một số nghiên cứu về can thiệp hành vi liên quan đến gắn bó mẹ con

Có nhiều tác giả nghiên cứu về các phương thức can thiệp liên quan đến

gắn bó. Đầu tiên phải kể đến các biện pháp can thiệp nuôi dạy con dựa trên bằng

chứng để thúc đẩy gắn bó an tồn. Các nghiên cứu đã chia nhỏ các biện pháp

hướng vào trẻ em có gắn bó vơ tở chức (D) hoặc với những trẻ được chẩn đốn là

rối loạn phản ứng gắn bó (RAD). Các biện pháp can thiệp được tổ chức theo độ

tuổi của trẻ tại thời điểm bắt đầu can thiệp, với các kết quả nghiên cứu có ý nghĩa

được liệt kê đầu tiên (chỉ đánh giá sau can thiệp). Dười đây là một số hình thức

14



can thiệp cho trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ và trẻ em có sự gắn bó vơ tở chức hoặc rối loạn

phản ứng gắn bó (RAD):

-



Đối với nhóm trẻ sinh non:

Các can thiệp cho thấy sự cải thiện đáng kể về mặt thống kê trong gắn bó an



toàn “Chương trình thăm nhà” (The Home visiting program) được sử dụng nhằm

mục đích hỗ trợ các bà mẹ phát triển sự nhạy cảm bằng cách nhận biết các tín hiệu

của con họ, tập trung vào các tương tác và hiểu rõ về sự ảnh hưởng của chúng đối

với sự phát triển của trẻ. Sự gắn bó được đánh giá trong thời gian cho ăn lúc 3

tháng, 6 tháng và 12 tháng thông qua các thang đo quan sát cho ăn: đối với trẻ 3

tháng quan sát sự tương tác giữa mẹ và trẻ trong khi bú; đối với trẻ 6 tháng sử dụng

mô hình mặt đối mặt; với trẻ 12 tháng sử dụng tình huống lạ. Hiệu quả được đánh

giá bằng cách sử dụng hệ thống quan sát dựa trên sự gắn bó, hệ thống tương tác

giữa mẹ và trẻ, sử dụng 5 thang đo với 9 điểm khác nhau: độ nhạy cảm, sự can

thiệp, trạng thái tình cảm của ngời mẹ, sự hợp tác và hành vi tự điều chỉnh.

Chương trình can thiệp trị liệu tâm lý dự phòng (The Preventive

Psychotherapeutic Program) được thực hiện với đối tượng cha mẹ da trắng sinh

non, có độ t̉i trung bình là 30,9 t̉i và trẻ sơ sinh có độ t̉i trung bình là 27 tuần

. Kế hoạch đưa ra 2 tuần/1 buổi, diễn ra các buổi trị liệu tâm lý cá nhân trước khi

nhập viện, nhóm phụ huynh được trị liệu tâm lý cá nhân với tần suất diễn ra là 2

tuần một b̉i, một ngày sẽ có những video phản hồi lại những cảm xúc, độ nhạy

cảm khi thăm nhà so với sự chăm sóc của điều dưỡng ở bệnh viện. Cha mẹ được

tham gia từ 1 đến 8 b̉i trị liệu nhóm, cũng như 1 đến 10 b̉i trị liệu tâm lý cá

nhân theo lịch 2 tuần/1 lần cho cả bố và mẹ.

Nghiên cứu và sử dụng tình huống lạ, Brish và cộng sự nhận thấy rằng có

một mối tương quan đáng kể giữa phát triển thần kinh và phát triển gắn bó mẹ con

trong nhóm kiểm sốt, những trẻ sơ sinh có gắn bó an tồn cho thấy sự phát triển

thần kinh khỏa mạnh, 75% trẻ sơ sinh có gắn bó khơng an tồn cho thấy sự phát

triển thần kinh bị suy giảm và khơng có mối tương quan đáng kể giữa chất lượng

gắn bó và sự phát triển thần kinh trong nóm can thiệp. Các tác giả kết luận rằng sự

15



can thiệp đã bảo vệ những đứa trẻ không khỏe mạnh về thần kinh khỏi hình thành

những gắn bó khơng an tồn.

Các kế hoạch về huấn luyện cho quá trình Chu sinh , được thực hiện bởi

Jacobson và Frye (1991) áp dụng cho với các bà mẹ sinh con lần đầu (21.5 tuổi).

Với hình thức can thiệp này, sử dụng một tình nguyện viên được đào tạo cụ thể cho

từng người tham gia để cung cấp về mang thai, chăm sóc và phát triển trẻ em, cũng

như những hiểu biết và sự đồng cảm tương tự như bạn bè hoặc các thành viên trong

gia đình. Các chuyến thăm định kỳ bắt đầu trong 3 tháng của thai kỳ, tăng tần suất

tính đến ngày sinh, tiếp tục hàng tuần trong 2 đến 3 tháng sau khi sinh, và sau đó

tiếp tục hành tháng cho đến khi trẻ được 12 tháng tuổi.

Sử dụng phương pháp phân tích các nhân tố (Q-sort procedure), Jacobson và

Frye nhận thấy rằng trẻ sơ sinh của các bà mẹ được can thiệp được đánh giá là gắn

bó an tồn hơn so với các biện pháp kiểm soát trên.

Hình thức liệu pháp nghề nghiệp (Occupational Therapy) cũng được sử dụng

trong một nghiên cứu của Sajaniemi và đồng nghiệp với trẻ sơ sinh có cân nặng cực

thấp (dưới 1kg), bắt đầu từ 6 tháng tuổi. Can thiệp cụ thể 1 giờ/1 tuần liệu pháp

nghề nghiệp được sử dụng tại nhà trong 6 tháng (tuổi trung bình của nhóm đối

tượng là 20 t̉i). Điều này, được thực hiện bởi nhà trị liệu có kinh nghiệm trong

điều trị trẻ sơ sinh, bao gồm cuộc thảo luận với cha mẹ, dạy học cách thích nghi với

môi trường gia đình, với em bé, hướng dẫn họ cách xử lý em bé để thúc đẩy sự phát

triển bình thường của trẻ (Sajaniemin,N, 2001).

Các can thiệp không cho thấy sự cải thiện đáng kể về mặt thống kê đối với

gắn bó an tồn khi sử dụng dịch vũ hỡ trợ khách hàng tại nhà, được sử dụng trong

nghiên cứu bởi Beckwith. Hướng tới nhóm cha mẹ có thu nhập thấp, với trẻ sơ sinh

bị ốm, sinh non, có cân nặng khi sinh dưới 2kg, sinh lúc 35 tuần. Kế hoạch được

thực hiện trong 13 tháng, bao gồm một can thiệp cá nhân, hướng đến cha mẹ, tập

trung vào việc cung cấp trợ giúp quần áo, đồ chơi, phương tiện giao thông, phát

triển kỹ năng quan sát của cha mẹ giúp họ hiểu bối cảnh phát triển của trẻ. Chương

trình được thực hiện bởi y tá nhi khoa, nhà giáo dục mầm non trong bệnh viện hoặc

ở nhà (Beckwith, 1988).

16



Trẻ dưới 1 tuổi

Các can thiệp cho thấy sự cải thiện đáng kể về mặt thống kê đối với gắn bó

an tồn, trẻ sơ sinh được sử dụng trong nghiên cứu của Anifeld và cộng sự. Sự can

thiệp liên quan đến việc sử dụng những chất mềm hàng ngày cho bé với mục đích

thúc đẩy sự tiếp xúc vật lý tăng lên, khuyến khích khả năng đáp ứng của mẹ lớn hơn

so với việc kiểm sốt chỡ ngồi của trẻ. Thời gian sử dụng trung bình là 8,5 tháng

(trong khoảng 4 đến 13 tháng). Nghiên cứu thu được trẻ sơ sinh có gắn bó an tồn

đáng kể hơn so với nhóm đối chứng (Anissfeld,1990).

Một hình thức tiếp theo liên quan đến tiếp xúc vật lý đó là phương pháp xoa

bóp (Massage Procedure) của Hansen và Ulrey sử dụng trong nghiên cứu với cha

mẹ người da trắng ở trẻ từ 3 đến 19 tháng t̉i bắt đầu can thiệp khi được chẩn đốn

có dấu hiện chậm phát triển vận động hoặc suy giảm thần kinh. Can thiệp bao gồm

hai lần mooit tuần với chương trình kích thích cảm biến trong vòng 3 giờ, liên quan

đến các kỹ thuật xử lý và xoa bóp đặc biệt để tạo điều kiện thư giãn và tương tác dễ

chịu giữa trẻ sơ sinh và người chăm sóc. Điều này đã thêm vào tiêu chuẩn của một

chương trình cho tất cả các chương trình can thiệp sớm. Kết quả Hansen và Urley

đánh giá cảm giác, tiếp xúc với mọi người, kiểm sốt hành vi và sự khác biệt/ tởng

thể giữa cha mẹ và con cái, được đưa ra bằng cách so sánh hành vi của trẻ và cha

mẹ trong 3 lĩnh vực này. Cả hai nhóm kiểm sốt và can thiệp đều cải thiện các hành

vi gợi ý, tiếp xúc và tở chức, trong khi nhóm can thiệp được báo cáo là thể hiện sự

tiến bộ hơn đáng kể về hành vi phối hợp. (Hansen R, Ulrey G, 1988)

Các chương trình can thiệp sớm tại nhà cũng được sử dụng trong nghiên cứu

của Roggmen và cộng sự với các gia đình sống trong một khu vực. Độ tuổi chính

xác khi bắt đầu can thiệp không được báo cáo tuy nhiên dữ liệu thu thập khi trẻ 14

tháng, 18 tháng đến 24 tháng và 36 tháng tuổi. Can thiệp được dựa trên 3 năm, hàng

tuần với các cuộc thăm nhà bởi một nhà giáo dục gia đình và các nhóm nhân viên

xã hội. Nhằm mục đích thúc đẩy sự tương tác tích cực giữa cha mẹ và con cái, sự

hiểu biết về sự phát triển của trẻ em, tham gia vào các hoạt động của trẻ em và hỗ

trợ cha mẹ trong việc tiếp cận các dịch vụ cộng đồng. Sự can thiệp này đã tạo nên

sự khác biệt tích cực có ý nghĩa thống kê đối với gắn bó an tồn sau 18 tháng t̉i

(Roggman L, 2009).

17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

VÀ CÁC VẤN ĐỀ HÀNH VI Ở TRẺ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×