Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp nghiên cứu:

Tải bản đầy đủ - 0trang

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Sơ lược về vấn đề nghiên cứu

1.1.1. Vài nét về nghiên cứu sự cô đơn

 Trên thế giới

Tất cả chúng ta đều nhận thấy sự cô đơn là một phần luôn tồn tại trong thế

giới cảm xúc của con người; tuy nhiên, lịch sử nghiên cứu về trạng thái cơ đơn lại

có lịch sử phát triển tương đối ngắn so với các chủ đề nghiên cứu tâm lý khác.

- Erik Erikson là một trong số những nhà tâm lý nghiên cứu về nỗi cô đơn

khá sớm. Theo Lý thuyết về các giai đoạn phát triển của Erik Erikson, giai đoạn

trưởng thành từ 19-20 đến 35-40 tuổi là giai đoạn mâu thuẫn giữa sự gần gũi và cơ

lập. Ở giai đoạn này, con người tìm kiếm các mối quan hệ có sự gắn bó lâu dài với

người nào đó ngồi gia đình. Những người trẻ tuổi có khả năng gần gũi thân tình sẽ

có xu hướng thiết lập các mối quan hệ thân thiết với bạn bè, mối quan hệ lãng mạn

với người khác giới và cuối cùng là hướng tới hôn nhân. Quan hệ gần gũi ở đây

không chỉ là sự gần gũi thể xác giữa hai người mà theo cách hiểu của Erikson, đó là

khả năng quan tâm, chia sẻ với người khác tồn bộ bản thân mình mà khơng đánh

mất mình [5], [7].

Ngược lại với quan hệ tình cảm gần gũi là sự cơ đơn. Những người khơng có

khả năng đạt đến sự hòa quyện với người khác thì thường cảm thấy cơ đơn. Họ cảm

thấy rất khó khăn để thiết lập mối quan hệ thân tình, khơng có khả năng hiểu suy

nghĩ và tình cảm của người khác. Nguyên nhân của sự cơ đơn có thể là do khơng

biết chấp nhận người khác, cũng có thể do bản sắc cá nhân q yếu nên dễ dàng

đánh mất chính mình trong mối quan hệ với mọi người xung quanh. Kết quả là phần

lớn thời gian họ chỉ ở một mình, khơng có hoặc có rất ít bạn bè. Trên thực tế, kết

quả của việc thiết lập các quan hệ gần gũi này phụ thuộc vào việc giải quyết các vấn

đề ở các giai đoạn trước. Những ai tin tưởng mọi người xung quanh, tự tin, sáng tạo,

yêu lao động, hình thành được cái Tơi thống nhất thì sẽ dễ dàng tạo lập các mối

quan hệ gắn bó thân tình [5].

- John Bowlby – nhà tâm lý học người Anh được xem là người đầu tiên đưa

khái niệm “sự gắn bó” vào tâm lý học. Lý thuyết về sự gắn bó (Attachment theory)



5



ra đời năm 1969 định nghĩa sự gắn bó như là “những liên kết tâm lý bền vững giữa

con người với con người”. Bowlby cho rằng vào thời thơ ấu chơi đùa đóng vai trò

quan trọng trong việc hình thành sự gắn bó và những trải nghiệm đầu đời có thể tác

động đến các mối quan hệ mà con người hình thành sau này trong cuộc sống.

Những sự gắn bó đầu đời mà chúng ta hình thành với cha mẹ và những người chăm

sóc khác, đó có lẽ là lý do tại sao Bowlby tin rằng sự gắn bó là một thành tố tiến

hóa mạnh mẽ. Những sự gắn bó đầu đời với những người chăm sóc giữ cho trẻ sơ

sinh được an tồn và an ninh, do đó bảo tồn sự sống còn cho trẻ. Nhu cầu gắn bó

khơng phải là nhu cầu thứ phát như quan điểm của phân tâm học mà mang tính chất

bản năng, có nghĩa là bẩm sinh con người đã ln có khuynh hướng tìm kiếm kết

nối với những người gần gũi xung quanh [11].

Lý thuyết gắn bó của John Bowlby có thể được xem là tiền thân cho các lý

thuyết đương đại về sự cô đơn. Bowlby cho rằng, trải qua giai đoạn tiến hóa, lồi

người đã phát triển nỗi sợ hãi cơ đơn một cách bản năng, đặc biệt là khi sống trong

những nơi lạ lẫm, tối tăm, nguy hiểm hay khi chúng ta mệt mỏi, bị thương hay đau

ốm. Nỗi sợ hãi này khiến chúng ta thèm khát sự bảo vệ và chăm sóc từ người khác,

nhất là những người quan tâm đến sự tồn tại và phát triển của chúng ta. Nỗi thèm

khát này đặc biệt được thể hiện rõ ràng ngay từ những năm tháng đầu đời của mỗi

người và khi khơng được đáp ứng thì xuất hiện cảm xúc cô đơn, cô độc là điều tất yếu

[11].

- Chủ đề về sự cô đơn lần đầu tiên được nghiên cứu chính thức bởi Sullivan

(1953) – một nhà tâm thần phân tâm học. Ơng cho rằng cơ đơn là một trải nghiệm khó

chịu và căng thẳng liên quan đến sự khơng thỏa mãn các nhu cầu về tình cảm. Tuy

nhiên, nghiên cứu của Sullivan không được coi trọng trong thời kỳ đó. Đến tận năm

1973, Robert S. Weiss - một học giả người Mỹ đi theo Thuyết gắn bỏ của Bowlby, đã

cơng bố một bài báo có tựa đề "Sự cơ đơn: kinh nghiệm về cơ lập tình cảm và xã hội".

Trong bài báo, Weiss đã lập luận rằng sự cô đơn là cảm giác tâm lý chủ quan hoặc kinh

nghiệm xảy ra khi một cá nhân cảm thấy thiếu một mối quan hệ thỏa đáng và cảm thấy

khoảng trống giữa việc kết nối với mọi người xung quanh [32].



6



- Năm 1984, nhóm nghiên cứu thực nghiệm gồm Russell, Cutrona, Rose và

Yurko đã dựa trên ý tưởng của Weiss (1973) để xây dựng và phát triển Thang đo Cô

đơn của Đại học California tại Los Angeles (UCLA) để kiểm tra sự khác biệt về trải

nghiệm chủ quan của cô đơn xã hội và cô đơn cảm xúc. Nghiên cứu cho thấy sự cô

đơn về cảm xúc và sự cô đơn xã hội là những trải nghiệm riêng biệt, mặc dù chúng

có cốt lõi chung là những trải nghiệm. Cô đơn cảm xúc được tìm thấy có mối tương

quan với sự thiếu quan tâm. Trong khi đó, thiếu thốn sự bền vững và cảm giác đáng

tin cậy lại là yếu tố dự báo về mức cô đơn xã hội so với sự thiếu hòa nhập xã hội.

Russell và các đồng nghiệp đã kết luận rằng sự cô đơn xã hội "liên quan đến một số

loại thiếu hụt, thiếu kết nối mạng lưới xã hội". Tuy nhiên, cũng có một số khác biệt

trong mơ hình lý thuyết của Weiss và Russell. Ban đầu, Weiss dự đốn cơ đơn cảm

liên quan tới cảm giác lo lắng, nhưng kết quả lại cho thấy cô đơn xã hội mới là yếu

tố gây ra sự lo lắng. Quan điểm của Russell và các đồng nghiệp thì cho rằng, cơ đơn

xã hội có liên quan đến sự lo lắng và trầm cảm, trong khi cô đơn về cảm xúc chỉ

liên quan đến trầm cảm [17].

- John Cacioppo là một nhà tiên phong trong lĩnh vực khoa học thần kinh xã

hội có 21 năm nghiên cứu về nguyên nhân, ảnh hưởng của sự cô đơn tới con người.

Trong cuốn Sự cô đơn: Con người và nhu cầu kết nối xã hội (2008) do ơng làm tác

giả đã trình bày nghiên cứu mang tính chất đột phá, lật đổ một trong những trụ cột

của y học hiện đại và tâm lý học: tập trung vào cá nhân như là đơn vị điều tra [22].

Một số nghiên cứu não bộ trong phòng thí nghiệm đã thực sự khẳng định

mong muốn kết nối được “lập trình” sẵn trong bản năng con người. Nhu cầu được

hợp tác và nhu cầu được thỏa mãn ăn uống đều kích hoạt cùng một vùng não bộ.

Kết quả chụp cộng hưởng từ cho thấy, khi không được thỏa mãn nhu cầu kết nối,

não bộ phát sáng ở cùng khu vực thể hiện sự đau đớn về thể xác. Tỷ lệ chết sớm ở

những người chưa từng kết hôn cũng cao hơn 65.9% so với những người đã từng

kết hôn trong đời, và cao hơn 220% so với những người đang có vợ chồng [50].

Nghiên cứu của Cacioppo đã chỉ ra được sự tồn tại độc lập giữa cảm xúc cô

đơn với số tương tác liên lạc xã hội mà một người có thể có. Một người với 3.000

địa chỉ liên hệ trên Facebook có thể cảm thấy cô đơn hơn một người không sử dụng



7



các phương tiện truyền thơng xã hội. Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng cho thấy

rằng cơ đơn có thể là sự di truyền kết hợp với các yếu tố xã hội. Bằng cách sử dụng

quét não, theo dõi huyết áp và phân tích chức năng miễn dịch, ơng đã chứng minh

ảnh hưởng áp đảo của bối cảnh xã hội - một yếu tố mạnh mẽ đến mức nó có thể làm

thay đổi q trình sao chép ADN. Ơng định nghĩa hội chứng “cơ đơn mãn tính” là

cảm giác cơ độc về xã hội làm gián đoạn nhận thức, hành vi và sinh lý học của

chúng ta, trở thành “cái bẫy” không chỉ củng cố sự cơ lập mà còn dẫn đến nguy cơ

tử vong sớm. John đã chỉ ra sự hợp tác xã hội thực ra là đặc tính xác định của con

người [15], [22].

Như vậy, có thể thấy sự cơ đơn là một đề tài đã được nhiều nhà tâm lý học

trên thế giới nghiên cứu trên nhiều khía cạnh đa dạng. Những kết luận của các cơng

trình trên được sử dụng để tham khảo, làm nền tảng và định hướng phát triển nghiên

cứu cho đề tài “Sự cô đơn ở người trưởng thành trẻ tuổi hiện nay”.

 Ở Việt Nam

Tâm lý học ở Việt Nam là một ngành mới, khi nói đến mắc các vấn đề tâm

lý, mọi người có xu hướng nghĩ đến các vấn đề bệnh lý nặng như tâm thần, trầm

cảm, tự kỷ… các vấn đề về cảm xúc thông thường mà bất kỳ ai cũng trải qua rất ít

được quan tâm. Khái niệm “cơ đơn” chỉ được xem là một khía cạnh nhỏ trong

nghiên cứu tâm lý của các đối tượng trong xã hội. Một số nghiên cứu về xã hội

người già, trẻ em, trẻ vị thành niên hay người yếu thế cũng có đề cập đến sự cô đơn,

tuy nhiên chưa đi sâu vào chi tiết và đưa ra được các số liệu hay những kết luận cụ

thể về các khía cạnh của nỗi cơ đơn ở những nhóm khách thể này.

Bài viết “Cảm nhận cô đơn của sinh viên và mối liên hệ giữ cảm nhận cô

đơn với tự đánh giá bản thân, tiêu điểm kiểm sốt bên ngồi” của tác giả Cao Quốc

Thái là tài liệu Việt Nam duy nhất nghiên cứu tiếp cận được trong quá trình thực

hiện. Bài viết là kết quả nghiên cứu tìm hiểu mối liên hệ có ý nghĩa giữa những sinh

viên tự cảm nhận mình cơ đơn với xu hướng đánh giá thấp bản thân và đánh giá cao

sự chi phối của các yếu tế bên ngoài. Khảo sát thực hiện trên 310 sinh viên (24.6%

nam, 74.3% nữ) đang học tập tại các trường đại học khác nhau trên địa bàn Hà Nội

(gồm ĐH Quốc gia Hà Nội, ĐH Kiến trúc, ĐH Kinh tế quốc dân, Học viện Quản lý



8



giáo dục, Học viện Nông nghiệp). Nghiên cứu sử dụng ba thang đo gồm: thang đo

Cô đơn UCLA III (Russell D.W, 1996), thang đo Tự đánh giá của Rosenberg

(1979), thang đo Tiêu điểm kiểm soát của Hana Levenson (1981). Độ tin cậy

Alpha’s Cronbach của các thang đo trong nghiên cứu này lần lượt là 0.85, 0.72,

0.83. Sau khi sàng lọc phiếu điều tra, chỉ còn 265 sinh viên đáp ứng với mơ hình

phân bố chuẩn để thực hiện phân tích. Kết quả cho thấy mức độ cơ đơn của sinh

viên Việt Nam cao hơn mức điểm trung bình của một số nghiên cứu khác trên thế

giới (ĐTB = 45.77, ĐLC = 8.85). Tác giả nhận thấy có sự tương quan giữa mức độ

cô đơn với khả năng tự đánh giá bản thân (r = - 0.38, p < 0.01), và với niềm tin vào

quyền lực của các yếu tố bên ngồi (r = 0.17, p < 0.05). Nói cách khác, những sinh

viên có mức độ cơ đơn càng cao thì càng tự đánh giá bản thân thấp, và có xu hướng

lệ thuộc cao vào những người có quyền lực bên ngồi (bố mẹ, giáo viên, sếp…) [8].

Sự cơ đơn được biết đến là một cảm xúc để sáng tạo nghệ thuật. Trong các

cơ chế phòng vệ của con người, “thăng hoa” là quá trình những xung lực bản năng

không được thoả mãn trực tiếp được “đầu tư” vào những hoạt động được xã hội đề

cao như nghệ thuật, khoa học, sự nghiệp xã hội, tôn giáo… Cảm xúc cơ đơn cũng

xuất hiện khi nhu cầu được gắn bó, quan tâm bị thiếu hụt, và với những người nhạy

cảm về cảm xúc, họ tìm cách chuyển chúng sang một dạng khác để được giải tỏa và

tự thỏa mãn bản thân. Đó là lý do cơ chế thăng hoa có thể thấy ở nhiều nhà văn, nhà

thơ, họa sĩ, nhạc sĩ lớn trên thế giới, họ đem những vấn đề của bản thân khơng thể

giải tỏa trong cuộc sống bình thường vào văn thơ, tranh ảnh, âm nhạc, tạo nên các

tác phẩm nghệ thuật có giá trị. Đặc biệt, những nhà văn, nhà thơ là những người có

khả năng dùng ngôn ngữ miêu tả cảm xúc cô đơn đa dạng nhất.

Sự cô đơn cũng là một chủ đề được các quan điểm Phật giáo nhắc đến. Trong

cuốn Nói với tuổi 20 của Thích Nhất Hạnh, chương II Cơ đơn có lý giải sự cô đơn

xuất phát từ những xung đột khi người trẻ hiện nay bị mắc kẹt vào những thứ mình

khơng thích. Ghét trường học nhưng vẫn phải học, khơng thích bằng cấp vẫn phải

cố có bằng mọi giá, ghét cuộc sống công nhân viên chức tẻ nhạt nhưng “vẫn phải lê

mòn gót chân đi tìm cơng việc như bất cứ một người thất nghiệp nào”. Sự xung đột

văn hóa trong các gia đình hiện đại, áp lực cuộc sống cạnh tranh khiến con người



9



mất dần kết nối với đồng loại, lựa chọn tự chui vào “chiếc vỏ” cô đơn để bảo vệ bản

thân. Thích Nhất Hạnh đã nói về sự cô đơn thế này: “Cảm xúc cô đơn là do những

vụng dại, ngu dốt và kém cỏi của chúng ta tạo ra: đó là một chứng bệnh của con

người, hơn là một cái gì nằm trong bản chất của con người. Vì thiếu bản lĩnh, thiếu

khơn ngoan, ta đã tạo ra những đường nứt, những chiếc vỏ cứng, những bức tường

chia cách cao vút, ngay giữa những người thân yêu và có cảm tưởng rằng ta với

những người khác khơng được cùng làm bằng một chất, do đó, khơng thể nào có sự

cảm thơng”. Bên cạnh đó, thiền sư cũng về nói sự lây lan của cảm xúc cô đơn, bắt

đầu bằng những câu chuyện chán chường, dẫn tới cử chỉ chán chường, dần dần nếp

sống sẽ trở nên chán chường thật sự. Ông khẳng định: “Con người yếu đuối và dễ bị

nhiễm độc, dễ bị ảnh hưởng” [4].

Trong cuốn Hiểu về trái tim, tác giả Minh Niệm cũng dành 1 chương để bàn

về sự cơ đơn. Ơng đã nhận ra sự cơ đơn có thể xuất hiện kể cả khi con người sống

giữa người thân gia đình và có nhiều bạn bè xung quanh. Tự con người xây nên

những bức tường bằng tính cách, sở thích, kiến thức, quan điểm sống, địa vị, sự

nghiệp… gây ngăn cách mình với mọi người. Bên cạnh đó, Minh Niệm cũng đề cập

đến lối sống cá nhân, hưởng thụ trong xã hội hiện đại khiến con người trở nên ích

kỷ, cạnh tranh, càng lên tới đỉnh cao danh vọng thì càng tách biệt, cô lập với mọi

người; vậy nhưng con người lại than vãn không ai chịu thấu hiểu, quan tâm mình.

Ơng khẳng định “ngun nhân đưa tới sự cơ đơn chính là do thái độ sống của ta”, vì

vậy, nếu muốn thốt khỏi nỗi cơ đơn thì con người cần học cách mở lòng với mọi

người. [2]

Sự cơ đơn có ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của con người. Con người

tìm thấy sự đồng cảm trong các tác phẩm nghệ thuật văn học, nhạc họa… liên quan

đến cô đơn. Con người cũng có thể tìm được những lời khun về cuộc sống thơng

qua cách Phật giáo nói về sự cơ đơn. Nhưng nếu nhìn “cơ đơn” dưới góc nhìn khoa

học, con người sẽ có quan điểm thực tế hơn và chủ động tìm được các biện pháp cụ

thể đưa mình vượt khỏi cảm giác tiêu cực. Đó là lý do tại sao một nghiên cứu về sự

cô đơn trên nền bối cảnh văn hóa Việt Nam là cần thiết.



10



1.1.2. Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự cơ đơn

Có nhiều yếu tố góp phần ảnh hưởng tới sự trải nghiệm cảm xúc cô đơn của

từng người. Tác động của các yếu tố mang tính chủ quan khiến con người tổn

thương, gây ra cảm xúc cô đơn được phân biệt rõ với các yếu tố thuộc về môi

trường ngoại cảnh. Những yếu tố dự báo chủ quan có thể bao gồm các đặc điểm cá

nhân (VD: sự nhút nhát, thiếu kỹ năng xã hội), đặc điểm tình huống (VD: tương tác

cạnh tranh, cô lập xã hội) và các giá trị văn hoá chung (VD: chủ nghĩa cá nhân). Tác

động của ngoại cảnh có thể đánh giá thơng qua các sự kiện đặc biệt như việc chia

tay người yêu, chuyển đổi nơi làm việc, ra nhập một nhóm mới, v..v. Những sự kiện

này có ảnh hưởng đáng kể tới việc thay đổi cuộc sống của mỗi người. Các yếu tố đó

gây ra sự đấu tranh giữa hiện thực cuộc sống vời những nhu cầu, khao khát bên

trong. Có sự biến đổi trong các yếu tố trên mà cá nhân khơng kịp thích ứng thay đổi

cho phù hợp thì sẽ gây ra cảm xúc âm tính là sự cơ đơn. Q trình nhận thức của

con người được cho rằng có ảnh hưởng rất lớn đến trải nghiệm sự cô đơn của từng

người [21].

Nghiên cứu “Sự cô đơn ở người trưởng thành trẻ tuổi” sẽ chia các yếu tố

gây ra sự cô đơn thành 2 loại:

 Yếu tố chủ quan

 Yếu tố khách quan

Yếu tố chủ quan

Cô đơn là một cảm giác chủ quan, phản ánh các mơ hình khác nhau của mọi

người trong suy nghĩ, hành xử và phản ứng với các yếu tố tình huống. Nó bị chi

phối bởi các yếu tố mang tính cá nhân như di truyền, khí chất, tính cách, trình độ…

của mỗi người. Tùy từng đặc điểm cá nhân, con người sẽ có cách nhận thức, thích

nghi và ứng phó khác nhau với cảm xúc cô đơn.

* Yếu tố giới

Ảnh hưởng của yếu tố giới với sự cô đơn đã được nhiều nghiên cứu thực

hiện kiểm tra rộng rãi, tuy nhiên, những phát hiện về mối liên quan này vẫn còn rất

mơ hồ. Trong khi một số nghiên cứu khơng tìm thấy sự khác biệt giới tính đáng kể

(Archibald, Bartholomew, & Marx, 1995; Berg & Peplau, 1982), thì lại có nhiều



11



nhà khoa học chỉ ra nam giới là cô đơn hơn nữ (Avery, 1982; Booth, 1983; Russell

và cộng sự, 1980 ; Schultz & Moore, 1986; Solano, Batten & Parish, 1982; Stokes

& Levin, 1986). Nghiên cứu của Borys và Perlman (1985) đã tìm thấy một số kết

quả khác khi tìm hiểu về mối liên quan giữa giới và cảm xúc cô đơn. Khi cô đơn

được đo bằng cách sử dụng thang đo lường tự ghi nhãn trực tiếp (ví dụ: “Bạn có

thường cảm thấy cơ đơn khơng?”) thì kết quả cho thấy nữ giới có mức độ cô đơn

cao hơn; tuy nhiên khi sử dụng thang đo UCLA thì kết quả lại nghiêng về nam giới

thường thấy cô độc hơn. Điều này được lý giải bởi, nam giới có tự trọng cao hơn

nên khó thừa nhận cảm xúc cô đơn hơn nam giới [21].

Trong một nghiên cứu phân tích tổng hợp về các nghiên cứu liên quan tới sự

cô đơn ở độ tuổi vị thành niên, A. Yarcheski, T.J. Yarcheski, Cannella và Hanks

(2006) nhận thấy 19/31 nghiên cứu cho thấy khơng có sự khác biệt về giới tính đáng

kể. 9 nghiên cứu cho kết quả con trai cô đơn hơn con gái, 2 nghiên cứu cho thấy con

gái cô đơn hơn và 1 một nghiên cứu không đem lại kết quả báo cáo [21].

Một số nghiên cứu chỉ ra rằng đàn ơng có thể cảm thấy cơ đơn thường xun

hơn phụ nữ bởi vì họ khơng được xã hội hóa tốt trong khu vực cảm xúc xã hội

(Bloom, Asher, & White, 1978; Hill, Rubin, & Peplau, 1976) và có khả năng họ

chọn cách xa lánh tiếp xúc xã hội như một cách đối phó với sự cô đơn, và hành

động này gia tăng cảm xúc cô đơn của họ (Jones, Sansone, & Helm, 1983). Phụ nữ

có khả năng quản lý cảm xúc tốt hơn nam giới, đặc biệt các cảm xúc xã hội (Borys

& Perlman, 1985; Wheeler, Reis, & Nezlek, 1983) [21].

Trong nghiên cứu của Knox, Vail-Smith & Zusman (2007) về các sinh viên

năm nhất, năm hai cho thấy, những nam giới ít có khả năng tìm được một mối quan

hệ lãng mạn, hạn chế khả năng kết bạn có xu hướng uống rượu nhiều hơn và tự

đánh giá mình là "kẻ thua cuộc" trong việc kết nối với phụ nữ. Kiểu đối phó như

vậy khiến họ gặp nguy cơ cảm thấy cô đơn nhiều hơn [21].

DiTommaso và Spinner (1993) sử dụng thang đo cô đơn cảm xúc và xã hội

cho người trưởng thành SELSA (the Social and Emotional Loneliness Scale for

Adults) để phân biệt các khía cạnh khác biệt của sự cơ đơn. Kết quả báo cáo cho

thấy khơng có sự khác biệt giới tính về sự cơ đơn trong các tình cảm gia đình; tuy



12



nhiên, trong các mối quan hệ xã hội và tình cảm lãng mạn thì nam giới có xu hướng

cơ độc hơn nữ giới [21].

Vẫn còn rất nhiều “khoảng trống” trong các nghiên cứu hiện đại về mối liên

quan giữa sự cơ đơn và giới tính. Hầu hết các nghiên cứu có kiểm tra sự khác biệt

về giới tính và sự cô đơn đều đo bằng thang đo UCLA, coi sự cô đơn là đơn nhất,

thiếu sự phân biệt rõ loại cô đơn cảm xúc hay xã hội.

* Yếu tố gen

Một nghiên cứu theo chiều dọc trên một số cá nhân trong 25-30 năm sử dụng

thang đo UCLA đã nhận thấy, thang điểm UCLA của con cái có xu hướng lặp lại

giống cha mẹ. Và các nhà khoa học giả định rằng có thể có những người sinh ra đã

“thừa hưởng” sẵn đặc điểm cơ đơn [51].

Nam tính và nữ tính có thể ảnh hưởng tới mức độ cơ đơn. Theo nghiên cứu

của Wittenberg & Reis (1986), xu hướng tính nam liên quan tới sự quyết đốn và kỹ

năng hẹn hò. Trong khi đó, xu hướng tính nữ liên quan tới khả năng tư vấn, hướng

dẫn, giải quyết xung đột và nhận thức tích cực hơn về người khác, đây đều là những

yếu tố quan trọng trong việc giảm bớt sự cơ đơn (Wittenberg & Reis, 1986). So

sánh biến nam tính/nữ tính và định nghĩa về sự cơ đơn xã hội/cơ đơn cảm xúc cho

thấy sự nam tính liên quan sự cơ đơn xã hội, còn sự nữ tính liên quan đến cô đơn

cảm xúc hơn. Một số nghiên cứu khác thì chỉ ra những người ái nam ái nữ ít có khả

năng cơ đơn hơn những người khác [16, tr39].

* Yếu tố tuổi tác

Những thay đổi liên quan đến tuổi tác con người và các nhu cầu mối quan hệ

xã hội cũng là một nguyên nhân dẫn tới cảm xúc sự cơ đơn. Sullivan (1953) cơng

nhận có một trình tự phát triển con người. Theo quan điểm của mình, Sullivan nhận

thấy sự cô đơn rõ rệt đầu tiên là ở thời kỳ đầu vị thành niên. Đó là thời điểm "nhu

cầu thân mật" của con người tăng cao cùng với nhu cầu được đối xử tôn trọng, và

được thừa nhận giá trị. Hay như giai đoạn về già, sự xa cách con cái, rời bỏ vị trí

cơng việc, đối diện với sự ra đi của người bạn đời cũng khiến người cao tuổi gặp

nhiều vấn đề về sự cô đơn hơn so với các giai đoạn khác [16, tr39].

* Đặc điểm tính cách



13



Trắc nghiệm 5 yếu tố (Big five factors – FFM) hay phiên bản rút gọn (NEO

PI-R) là một cơng cụ đo đặc điểm tính cách con người dựa trên các yếu tố: nhiễu tâm,

hướng ngoại, sự cởi mở, dễ chịu, tính chu đáo và sự tận tâm (Costa & McCrae, 1992).

Trong số đó, tính nhiễu tâm (bất ổn cảm xúc và đau khổ) và sự tận tâm (sự tin cậy và

trật tự) được đánh giá là có mối quan hệ chặt chẽ với tỷ lệ tử vong và bệnh tật (Chang

& Dong, 2014). Hai đặc điểm tính cách này cũng ảnh hưởng tới trải nghiệm sự cô

đơn. Trong một nghiên cứu trên 137 người 100 tuổi trở lên của Viện nghiên cứu

Centenarian Georgia, sự nhiễu tâm có liên quan với mức độ cô đơn cao hơn (Hensley

và cộng sự, 2012). Một nghiên cứu khác trên 197 người lớn tuổi cũng phát hiện ra

rằng, mức độ cô đơn cao hơn có liên quan đến sự nhiễu tâm và sự tận tâm thấp

(Cacioppo và cộng sự, 2006). Nhiều những nghiên cứu lớn về dân số vẫn đang tiếp

tục kiểm tra mối tương quan giữa các đặc điểm tính cách và sự cô đơn [48].

- Bei Wang và XinQi Dong đã thực hiện nghiên cứu “Liên hệ giữa các đặc

điểm cá nhân và sự cô đơn” trên 3.157 người cao tuổi gốc Trung Quốc sinh sống ở

Chicago (Mỹ). Các nhà khoa học đã đi tìm cách kiểm chứng mối quan hệ của hai

yếu tố tính nhiễu tâm và sự tận tâm đối với cảm xúc cô đơn. Kết quả nghiên cứu

cho thấy những người có mức độ tâm lý bất ổn cao thường cảm thấy cô đơn gấp

3.59 lần thông thường. Bên cạnh đó, những người có mức độ tận tâm cao thì giảm

24% nguy cơ bị tác động bởi mỗi cô đơn. Đây là một nghiên cứu đã cung cấp bằng

chứng rõ ràng về mối liên hệ giữa tính cách và sự cô đơn ở những người Mỹ gốc

Hoa cao tuổi. Nghiên cứu được thực hiện theo chiều dọc được thiết kế chặt chẽ nên

đã làm rõ được sự biến đổi của sự cô đơn và các yếu tố liên quan theo thời gian (từ

năm 2011 đến năm 2013) [48].

- Nhút nhát được định nghĩa là "xu hướng tránh tương tác và khơng tham gia

được vào các tình huống xã hội" (Pilkonis, 1977). Nó có thể là nguyên nhân ảnh

hưởng lớn tới sự cô đơn. Mối tương quan giữa sự nhút nhát và cơ đơn đã được tìm

thấy bởi Zimbardo (1977). Còn cơng trình của Pilkonis thì đi sâu chứng minh hành

vi qua lời nói và các hành động phi ngơn ngữ của người nhút nhát có thể cản trở

tương tác xã hội. Ví dụ như việc họ khơng thể chủ động nói chuyện với mọi người

xung quanh. Trong nghiên cứu của Cutrona lại chỉ ra rằng sự cô đơn liên quan đến

lối sống nội tâm và tính thiếu quyết đốn. Vì vậy, một cụm các yếu tố nhút nhát - rủi



14



ro xã hội - thiếu quyết đoán - khả năng tự ý thức trong các tình huống xã hội đều

góp phần vào sự cơ đơn [16, tr41-43].

- Rất nhiều người đánh đồng sự hướng nội với tính cách nhút nhát. Tuy

nhiên, nhiều nghiên cứu hiện nay đã chứng minh được rất nhiều người hướng nội

không hề nhút nhát. Người hướng nội có thể hồn tồn hạnh phúc khi ở một mình,

cũng có thể cảm thấy vơ cùng cơ độc khi ở giữa đám đơng. Những người hướng nội

có xu hướng coi trọng mối quan hệ chất lượng hơn việc có nhiều mối quan hệ xã

hội, chính vì sự đề cao chất lượng, kỳ vọng kết nối sâu sắc về mặt tình cảm này có

thể là nguy cơ khiến họ trở nên cô đơn hơn khi nhu cầu không được thỏa mãn.

- Các nhà khoa học ở California đã phát hiện biểu hiện qua gương mặt có thể

thể hiện mức độ dễ gần, thoải mái của một người, và người hướng ngoại thể hiện

điều này tốt hơn người hướng nội. Não bộ của người hướng nội không phân biệt

được biểu hiện gương mặt và những vật vô tri giác. Nghiên cứu này ủng hộ quan

điểm cho rằng người hướng nội khá thờ ơ với mọi người. Đó là lý do khiến người

hướng nội hành xử cô độc hơn là cởi mở [53].

- Một nghiên cứu về lo âu trầm cảm được công bố trên Trung tâm Thông tin

Công nghệ sinh học Quốc gia (Hoa Kỳ) đã chỉ ra, các đặc điểm cá nhân như hệ

thống thần kinh, sự hướng nội có liên quan tới các triệu chứng trầm cảm và lo lắng.

Khi đo trên các bệnh nhân trầm cảm, họ nhận thấy mức độ tâm lý bất ổn ở người

hướng nội mạnh mẽ hơn [52]. Đặc điểm này cũng có thể là yếu tố khiến người

hướng nội có cảm nhận sâu sắc hơn về sự cô đơn.

* Tiêu điểm kiểm soát

Julian Rotter (1916-2014), là một nhà tâm lý học người Mỹ nổi tiếng về

thuyết học tập xã hội đã đề xuất một khái niệm mới gọi là “tiêu điểm kiểm soát”.

Tiêu điểm kiểm soát (locus of control - xuất phát từ chữ Latin, ‘locus’ nghĩa là

điểm) để chỉ một “điểm” tâm lý, nơi một người đổ trách nhiệm cho những kết cục

của các tình huống cuộc sống vào đó. Người có tiêu điểm kiểm sốt nội giới

(internal locus of control) nhận thức rằng họ có thể đích thân “kiểm sốt” kết cục

của tình huống, trong khi người có tiêu điểm kiểm soát ngoại giới (external locus of



15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phương pháp nghiên cứu:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×