Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cấu trúc luận văn

Cấu trúc luận văn

Tải bản đầy đủ - 0trang

Theo Tổ chức Y tế thế giới WHO, có khoảng 298 triệu người mắc trầm cảm

trong năm 2010 (chiếm 4,3% dân số toàn cầu). Theo một nghiên cứu khác ở Mỹ

năm 2014, có khoảng 17.6 nghìn người bị trầm cảm mỗi năm, nhưng có tới hơn 2/3

người bị trầm cảm khơng nhận ra mình có bệnh và khơng được điều trị. Điều đáng

báo động là có tới 48% những người trầm cảm có ý tưởng tự sát và 24% những

người có toan tự sát được báo cáo là khơng nhận được sự hỗ trợ điều trị trước đó.

Đó là thơng tin được đưa ra tại hội thảo truyền thông giáo dục sức khỏe với chủ đề

“Trầm cảm – Hãy cùng trò chuyện” tại Viện Sức khỏe Tâm thần Bạch Mai

(VSKTTBM) diễn ra chiều ngày 4/4/2017 [13].

Trầm cảm sau sinh đã được nghiên cứu từ lâu trên thế giới đặc biệt ở các

nước phát triển. Sau đây là một số công trình nghiên cứu về trầm cảm ở PNSS:

Theo O’ Hara và cộng sự (1984), những người mẹ có các triệu chứng liên

quan đến trầm cảm ước tính tỷ lệ 30 – 75% chưa đáp ứng đủ các tiêu chuẩn để

chẩn đoán TCSS được gọi là trầm buồn sau sinh (baby blue) thường vào ngày thứ 3

hoặc thứ 4 và kéo dài hàng giờ trong vài ngày với các biểu hiện như lo lắng, chán

ăn, mất ngủ … đa số tự thuyên giảm vào ngày thứ 10 sau sinh mà không cần sự can

thiệp nào. Bên cạnh đó cũng còn có những trường hợp khơng thể tự khỏi mà vẫn

duy trì các triệu chứng và phát triển thành bệnh lý – TCSS. TCSS dễ làm người phụ

nữ mất khả năng chăm sóc trẻ an tồn, và nếu khơng được điều trị, can thiệp kịp

thời các triệu chứng có thể ngày càng xấu hơn kéo dài. Hậu quả của TCSS có thể

gây ra những tác động xấu đến sức khỏe của người mẹ với các thành viên trong gia

đình và còn gây ra mâu thuẫn trong hơn nhân. Mặt khác, có thể còn làm giảm sự

gắn kết giữa người mẹ và đứa trẻ, ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển thể chất,

cảm xúc, tâm lý, hành vi cũng như trí tuệ của đứa trẻ sau này. Một số trường hợp

biểu hiện ở mức độ trầm trọng, thậm chí người mẹ có thể có hành vi tự hủy hoại bản

thân và đứa trẻ như có ý muốn tự sát hoặc những hành động nguy hiểm, hoặc làm

chết chính con mình. [20].



5



O'Hara, M.W và cộng sự (1996) đã tiến hành nghiên cứu phân tích tổng hợp

(78 cơng trình nghiên cứu bao gồm 59 nghiên cứu ban đầu, 19 đánh giá và tất cả

đều được đánh giá) trên 12.810 bệnh nhân TCSS tại một số quốc gia cho thấy tỷ lệ

phụ nữ mắc TCSS là 13%. Những nghiên cứu được chọn lọc vào phân tích tổng hợp

phải thỏa mãn một số điều kiện quan trọng. Thứ nhất: Đối tượng nghiên cứu là

những PNSS ít nhất hai tuần để tránh nhầm lẫn với hội chứng “baby blue” (trầm

cảm thoáng qua). Thứ hai: Phương pháp phải đảm bảo tính ngẫu nhiên. Thứ ba:

Việc đánh giá TCSS phải dựa vào những thang đo đã được chuẩn hóa. Cho nên có

thể nói tỷ lệ TCSS dựa trên phân tích của O’Hara và cộng sự cho chúng ta cái nhìn

tương đối tồn diện về tỷ lệ mắc rối loạn TCSS, đặc biệt là những quốc gia phát

triển vào những năm trước năm 2000 [dẫn theo Donna E. Stewart, 25].

Một nghiên cứu khác cho thấy trên thế giới cho thấy, cứ 7 phụ nữ Mỹ thì có

khoảng 1 người mắc trầm cảm trước lúc có bầu, trong thời gian mang thai và sau

khi sinh em bé, kết quả còn phát hiện thêm rằng hơn một nửa số phụ nữ có TCSS

cũng từng trải qua cơn trầm cảm trước khi có bầu và trong suốt thời gian mang thai

và sau khi sinh em bé. Trầm cảm sau sinh ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe bà

mẹ, đặc biệt là sự phát triển trí tuệ, cảm xúc và thể chất của đứa trẻ [17].

Chandran và cộng sự (2002) nghiên cứu trên một nhóm phụ nữ từ vùng

nơng thơn Tamil Nadu Ấn Độ, cụ thể trên 359 phụ nữ trong 3 tháng cuối của thai kỳ

và 6 – 12 tuần sau sinh. Kết quả thu được là tỷ lệ TCSS chiếm 19,8%, các yếu tố

ảnh hưởng đến giới tính của đứa trẻ, mối quan hệ khơng được tốt trong gia đình, các

sự kiện trong cuộc sống gây căng thẳng lúc mang thai, thu nhập thấp, thiếu hụt sự

hỗ trợ sau sinh [23].

Tác giả Bener (2011) nghiên cứu về TCSS trên 1.379 bà mẹ người Ả Rập

sống tại Quatar (quốc gia đang phát triển). Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định

tỷ lệ mắc rối loạn TCSS và xác định các yếu tố nguy cơ của chứng TCSS bằng cách

sử dụng thang đo trầm cảm sau sinh của Endinburgh (EPDS). Đây là một nghiên



6



cứu cắt ngang tại trung tâm chăm sóc sức khỏe ban đầu được tiến hành trong thời

gian 6 tháng, từ tháng 1 năm 2010 đến tháng 5 năm 2011. Kết quả trong nhóm

nghiên cứu cho thấy tỷ lệ TCSS là 17,6%, các bà mẹ trên 35 tuổi là 49,9%. Xác

định các yếu tố nguy cơ chính cho việc phát triển TCSS là các yếu tố khó khăn như

về tài chính, sinh non, thiếu sự hỗ trợ của gia đình, mâu thuẫn trong mối quan hệ

hơn nhân [21].

Cơng trình của Reck và cộng sự (2004) được nghiên cứu trong một mẫu cộng

đồng gồm 853 phụ nữ ở Đức và đánh giá 2 tuần sau sinh sử dụng bằng một cuộc

phỏng vấn qua điện thoại và bảng câu hỏi về sức khỏe tâm thần và sử dụng thang đo

trầm cảm EPDS. Kết quả thu được tỷ lệ mắc “baby blue” ở phụ nữ sau sinh Đức là

52,2% có mối liên quan đáng kể giữa tình trạng trầm cảm thai sản thống qua và

TCSS, trầm cảm thoáng qua thai sản với rối loạn lo âu [28, pp 77 - 87].

Trong một nghiên cứu của Zubazan và cộng sự (2010), mục đích của nghiên

cứu này là tiến hành so sánh 4 công cụ sàng lọc sau sinh hay được sử dụng. Trong số

4 công cụ sàng lọc được xem xét và so sánh, thang TCSS của EPDS thể hiện độ hiệu

lực cao hơn cả. Tuy nhiên, qua kết quả nghiên cứu các tác giả cũng nhấn mạnh khơng

có cơng cụ nào được đánh giá hồn hảo khi áp dụng cho các bối cảnh ngơn ngữ; văn

hóa khác nhau. Và họ cũng bổ sung rằng ngồi thang đo TCSS của EPDS còn có thể

có thêm nhiều các công cụ khác mà cần các nghiên cứu để chứng minh tính hiệu quả

của nó trong việc sàng lọc, phát hiện TCSS trong phạm vi rộng hơn [29, pp 357 –

365].

Hiện nay, tỉ lệ PNSS có trầm cảm được báo cáo khác nhau giữa các nước và

giữa các nghiên cứu nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: mẫu nghiên cứu cũng như

đặc điểm về kinh tế và bối cảnh văn hóa đó như thế nào. Tổng hợp những tài liệu về

TCSS cho thấy, rối loạn này thường xuyên xuất hiện ở khoảng 10 – 15% PNSS

trong các xã hội phương Tây (Kumar và Robson, 1984, O’Hara và cộng sự 1996).

Theo Elizabeth và cộng sự (2011), tỷ lệ PNSS mắc trầm cảm tại các nước Mỹ, Anh,



7



Úc được nghiên cứu thấy là từ 7% - 20%, và với hầu hết các nghiên cứu cho thấy tỷ

lệ này thường dao động trong khoảng từ 10 – 15%. Tuy nhiên, Halbreich và Karkun

(2006) nhận định rằng một tỷ lệ trung bình từ 10 – 15% đối với TCSS khơng phải là

đại diện của sự phổ biến toàn cầu do sự thay đổi của các tiến trình và sự đa dạng của

triệu chứng. Ở các nước kém phát triển với sự hạn chế về nguồn lực kinh tế, an sinh

xã hội, tỉ lệ TCSS ở phụ nữ ở các nước này có thể vượt qua con số 25% (báo cáo

của Tổ chức y tế thế giới, (2009), thậm chí có thể lên tới 60% [2, tr44 - 45].

Nghiên cứu về TCSS ở nước ngồi ln gắn với những nghiên cứu dịch tễ

học và công cụ để đo mức độ TCSS ở phụ nữ. Các kết quả nghiên cứu dịch tễ học

về trầm cảm ở PNSS ở các nước cho thấy TCSS khá phổ biến với tỷ lệ khác nhau.

Sự khác nhau này được lý giải là do thiếu sự đồng thuận của các tác giả khi lựa

chọn thời gian đo mức độ trầm cảm kéo dài trong giai đoạn sau sinh, do sự khác

nhau trong việc đưa ra điểm ngưỡng của trầm cảm và khác nhau về phương pháp

đánh giá để xác định trầm cảm. Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra mức độ, nguyên

nhân, cơ chế bệnh, đặc điểm lâm sàng, các triệu chứng, biểu hiện bệnh, các yếu tố

văn hóa xã hội, sang chấn tâm lý có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của bệnh

TCSS. Kết quả nghiên cứu này cũng là một gợi ý quan trọng để làm cơ sở thực hiện

một quy trình đánh giá và can thiệp trường hợp phụ nữ mắc RLTCSS.

1.1.2. Nghiên cứu trầm cảm sau sinh ở Việt Nam

Ở Việt Nam, cũng đã có nhiều tác giả cũng tập trung nghiên cứu về TCSS

nhằm xác định tỷ lệ dịch tễ, các đặc điểm lâm sàng, mức độ, các yếu tố ảnh hưởng

và các biện pháp hỗ trợ. Dưới đây chúng tôi kể đến một số những nghiên cứu điển

hình đã được tiến hành.

Nghiên cứu cắt ngang của Lê Quốc Nam (2002) khảo sát trên 321 sản phụ

đến khám lại vào tuần thứ 4 sau sinh tại Bệnh Viên Từ Dũ. Mục tiêu của nghiên cứu

là tìm hiểu tỷ lệ bệnh TCSS và những yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh này để góp

phần phòng ngừa và bổ sung vào chương trình giáo dục cho PNSS lúc mang thai.



8



Nghiên cứu được tiến hành phỏng vấn bằng bảng câu hỏi và đưa cho họ tự đánh giá

bằng thang TCSS của Edinburgh (EPDS) (hỏi về các triệu chứng xảy ra trong một

tuần trước đó). Các phụ nữ có điểm số thang EPDS 13 sẽ được bác sĩ tâm thần đánh

giá tiếp qua thang trầm cảm Hamniton, đồng thời khám lâm sàng để chẩn đoán xác

định RLTC. Kết hợp cả việc sử dụng chẩn đoán bệnh trầm cảm dựa theo tiêu chí

chẩn đốn của DSM –IV. Tiêu chí để lựa chọn khách thể cũng dựa trên các yếu tố

về độ tuổi, trình độ học vấn, tính chất ổn định của nghề nghiệp, hồn cảnh kinh tế

của gia đình, tình trạng hơn nhân, số lần sinh. Kết quả cho thấy tỷ lệ sản phụ thật sự

bị TCSS là 5,3% trong số 12,5% sản phụ có tổng số điểm thang đo của EPDS 13.

Bên cạnh đó nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến TCSS như: Có mối

quan hệ vợ chồng khơng tốt chiếm 60% trường hợp, trầm cảm có tiền căn lo âu

hoặc mất ngủ là 30,4%, trầm cảm có rối loạn tâm thần trong thời kỳ thai kỳ là

13,9%, trầm cảm có tiền sử bệnh khác là 12,5%, trầm cảm có sử dụng rượu; thuốc

lá trong thời kỳ thai kỳ là 28,6%, TCSS thường là: khó sinh; sinh mổ 18,2%, trầm

cảm có vấn đề về sức khỏe của con là là 8%, trầm cảm gặp khó khăn cho con bú là

17%, trầm cảm khơng có sự giúp đỡ từ mơi trường xung quanh là 11,1%, trầm cảm

do khơng có ai để tâm sự là 22,2%, trầm cảm do không tin tưởng vào hạnh phúc là

28,6% [4].

Tác giả Nguyễn Linh Trang cùng cộng sự (2000) Trung tâm nghiên cứu về phụ

nữ - ĐHQG Hà nội, khảo sát thu thập ý kiến của 30 phụ nữ có độ tuổi dưới 35 trên

diễn đàn ww w.webtretho.com (mục bà mẹ sau sinh). Nghiên cứu đã khái quát các

vấn đề tâm lý của PNSS gồm 3 mức độ chính là: Mức độ nhẹ (cơn buồn thống qua

sau sinh) và được xem như là một phản ứng bình thường của PNSS chiếm tỉ lệ 60%

- có đến 18 bà mẹ; mức độ vừa có đến 5 bà mẹ - chiếm tỉ lệ 15,6%; mức độ nặng

(trầm cảm có loạn thần) có 1 bà mẹ - chiếm 3,3%. Bên cạnh đó nghiên cứu cũng chỉ

ra rằng có 4 loại biểu hiện rất rõ ở đa số PNSS con: Tâm trạng dễ xúc động, khóc;

lo sợ; hay cáu gắt; tủi thân; và một số biểu hiện khác như cảm thấy cô đơn, hồi

hộp… Biểu hiện rõ nhất của sự biến đổi tâm lý ở người phụ nữ sau sinh là rất dễ

khóc, nghiên cứu chỉ ra có 33,3% phụ nữ có biểu hiện này. Khơng có một ngun



9



nhân riêng biệt nào gây nên những biến đổi tâm lý của người PNSS, nó có thể là

mặt trái của cuộc sống sơi động với nhiều áp lực, sự thay đổi về mặt thể chất sinh lý

của người PNSS, là áp lực về mặt kinh tế, là tình cảm vợ chồng, mối quan hệ khác

và cả sự ra đời của đứa trẻ [9, tr48 – 52].

Tác giả Vũ Thị Chín và cộng sự (2001) đã thực hiện cơng trình nghiên cứu

về “Tâm lý PNSS và quan hệ mẹ con” trong 4 năm 1993 – 1996: 154 phiếu phỏng

vấn đã được ghi chép qua tiếp xúc hai năm 1993 và 1994 với các PNSS, đã cung

cấp cái nhìn tổng quát về diễn biến tâm lý của phụ nữ trong cuộc hành trình để trở

thành mẹ. 42 hồ sơ tâm lý đã được thu thập trong 2 năm, năm 1995 và 1996, khoanh

lại để theo dõi chi tiết những vấn đề cần quan tâm, trong đó có diễn biến tâm lý 11

ca mổ đẻ, 6 trường hợp điển hình phản ánh khá chân thực mối quan hệ sớm mẹ con

chịu ảnh hưởng bởi tâm lý của bà mẹ, của các yếu tố văn hóa xã hội, của mơi

trường. Đây là một cơng trình hiếm hoi mô tả tâm lý của phụ nữ sau sinh trong thời

kỳ mang thai và sinh con. Trong đó, tâm lý của PNSS gắn liền với cuộc sinh đẻ

được mô tả là sự mất chủ động và lo hãi. Sự thay đổi về sinh lý (ở đây là sự co bóp

tử cung), trong môi trường xa lạnh và cô quạnh bởi có một mình, tiếng kêu rên của

những PNSS khác có thể khiến PNSS bị ngập tràn trong đau đớn. Từ đây tác giả

khẳng định việc chuẩn bị tâm lý cho sản phụ từ lúc mang thai, nhất là khi chuyển dạ

và đẻ là cần thiết. Sự nâng đỡ xã hội trong thời điểm phụ nữ sinh đẻ vô cùng quan

trọng đối với bản thân người PN. Trong thời gian sau sinh, PNSS sẽ trải qua một

trạng thái u buồn, chán nản, mệt mỏi, lờ đờ, ảm đạm. Tình trạng này có thể là hậu

quả của mệt mỏi sau sinh, mà PNSS mô tả một cách mơ hồ và mọi chuyện sẽ qua đi

rồi đầu sẽ vào đấy” [2, tr67 – 68].

Tác giả Lê Thị Thu Quỳnh (2015) với luận văn thạc sĩ chuyên ngành Tâm lý

học lâm sàng trẻ em và vị thành niên, nghiên cứu trên 134 bà mẹ mang thai từ 6 – 9

tháng và sau khi sinh (3 tháng) tại huyện Thường Tín nhằm tập trung tìm hiểu một

số yếu tố văn hóa và chấn thương tâm lý ảnh hưởng đến các bà mẹ trước sinh và sau

sinh cũng như mối quan hệ giữa chúng và nguy cơ TCSS của các bà mẹ. Trong



10



nghiên cứu của mình tác giả đã sử dụng các trắc nghiệm và thang đo như: Thang đo

TCSS của EPDS, thang đo hài lòng trong quan hệ hôn nhân ADAS, thang đánh giá

PDPI – R phiên bản trước sinh và sau sinh, thang đánh giá lo âu GAD – 7, thang

đánh giá trầm cảm PHQ -9 … Kết quả thu được, tỷ lệ 14,9% các bà mẹ có triệu

chứng trầm cảm ở mức nguy cơ, số lượng các bà mẹ trong nghiên cứu đáp ứng các

tiêu chuẩn của trầm cảm sau sinh ở mức cần can thiệp là 9,7%. Và các yếu tố như

văn hóa, chấn thương tâm lý đều liên quan đến tình trạng lo âu TC của các bà mẹ.

Điển hình như những mâu thuẫn trong cuộc sống chung với gia đình nhà chồng,

thiếu sự hỗ trợ từ chồng và gia đình, thiếu sự hỗ trợ từ các mối quan hệ bạn bè, sự

ký vọng về giới tính của trẻ [6].

Nghiên cứu của tác giả Trần Thị Minh Đức và cộng sự (2016) được thực hiện

trên 1.134 PNSS, sinh con trong vòng 12 tháng, sống tại Hà Nội, Đà Nẵng và thành

phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu được tiến hành trên lượng mẫu lớn và nhằm hướng

tới việc thử xây dựng một thang đánh giá trầm cảm riêng cho phụ nữ sau sinh Việt

Nam. Thang đánh giá trầm cảm sử dụng trong nghiên cứu này các tác giả xây dựng

từ việc tham khảo những biểu hiện, triệu chứng được mô tả trong các nghiên cứu

lâm sàng như: thang đánh giá trầm cảm của Beck, của Hamilton, Madrs, thang đánh

giá lo âu của Zung, và các biểu hiện được đối chiếu với các triệu chứng trầm cảm

mô tả trong DSM – V, phần: “Các rối nhiễu lưỡng cực và các rối nhiễu liên quan”.

Cơng trình nghiên cứu chỉ ra mức độ và biểu hiện của TCSS, những yếu tố

ảnh hưởng đến trầm cảm ở PNSS, các cách ứng phó, cũng như sự hỗ trợ, can thiệp

cần thiết cho những phụ nữ có rối loạn TCSS. Kết quả thu được là 17,3% phụ nữ

sau sinh có xác suất mắc TCSS. Kết quả là 17,3% PNSS có xác suất mắc TCSS.

Trong đó, tỉ lệ PNSS có TCSS mức nhẹ là 3,5%, mức vừa là 3,5%, mức nặng là

1,4%. Cụ thể nghiên cứu chỉ ra các yếu tố làm tăng điểm số trầm cảm ở PNSS như:

Điều kiện sống, đó là sự sa sút kinh tế trong gia đình, việc người phụ nữ hoặc chồng

mất việc làm, khơng có người giúp đỡ sau sinh và gia đình có người thân đau ốm

nặng. Về đặc điểm của trẻ, đó là sự ra đời của trẻ khơng nằm trong kế hoạch sinh



11



con của cha mẹ và trẻ mới sinh được đánh giá là khó ni. Về điều kiện hơn nhân,

đó là việc phụ nữ sống trong hồn cảnh ly thân hoặc ly hôn, luôn trải nghiệm sự

căng thẳng trong mối quan hệ với chồng và chất lượng mối quan hệ hơn nhân khơng

tốt. Về trình độ nhận thức, đó là sự hiểu biết về mang thai và ni con của PNSS

còn hạn chế. Đối với sức khỏe của PNSS, đó là những nhìn nhận về sức khỏe của

bản thân khơng tích cực, việc mắc bệnh huyết áp và trầm cảm trước sinh. Xét về đặc

điểm tính cách, đó là việc phụ nữ tự đánh giá bản thân là người hướng nội. Độ tuổi

có nguy cơ mắc trầm cảm ở PNSS theo 3 độ tuổi (từ 18 – 22, từ 26 – 30 và trên 30

tuổi) và kết quả của nghiên cứu cho thấy độ tuổi có nguy cơ mắc trầm cảm tập trung

đơng nhất ở những PNSS có tuổi từ 26 – 30 tuổi (tỷ lệ PNSS mắc trầm cảm dao

động từ 8, 9% - 12,2% cho từng độ tuổi cụ thể). Theo kết quả nghiên cứu thời điểm

xuất hiện và thời gian kéo dài của các biểu hiện trầm cảm ở PNSS được xác định rối

loạn nhiều nhất ở tuần đầu sau sinh (41,5%). Tiếp đó là sự xuất hiện các biểu hiện

của trầm cảm từ tuần thứ hai đến dưới 3 tháng sau sinh (35,2%). Thời gian sau sinh

càng kéo dài thì tỉ lệ PNSS thơng báo sự xuất hiện của trầm cảm càng giảm. Cụ thể,

ở thời điểm từ 3 đến dưới 6 tháng sau sinh, chỉ có 13,1% PNSS thơng báo về các

biểu hiện của trầm cảm và thời điểm từ 6 tháng đến một năm sau sinh, tỉ lệ này

giảm xuống còn 10,2% [2].

Chính vì thế mà hiện tượng RLTC ở PNSS nếu không được hỗ trợ tâm lý và

y tế kịp thời (trường hợp ở trầm cảm ở mức nặng) có thể gây tác hại lâu dài, trở

thành tiền thân của bệnh trầm cảm tái phát mạn tính sau đó. Đối với trẻ nhỏ, RLTC

liên tục ở người mẹ có thể góp phần tạo nên các vấn đề rối nhiễu về cảm xúc, hành

vi, nhận thức và giao tiếp trong cuộc đời sau này của trẻ. Vì vậy, vấn đề chăm sóc

sức khỏe cho những bà mẹ sau sinh cần được đặt lên hàng đầu [21, pp 101].

Tóm lại, các nghiên cứu được tiến hành về TCSS của phụ nữ Việt Nam cũng

có nhiều điểm tương đồng với các bằng chứng nghiên cứu thu được từ nước ngoài.

Các nghiên cứu đã được tiến hành thường sử dụng công cụ sàng lọc Edinburgh với



12



điểm cắt biến thiên trong khoảng từ 9 – 13 điểm đồng thời cũng chỉ ra độ tuổi, tỷ lệ,

mức độ, thời gian và các yếu tố nguy cơ làm tăng tỷ lệ TCSS.

Ở Việt Nam các cơng trình nghiên cứu về trầm cảm ở PNSS chủ yếu của các

bác sĩ tâm thần nhằm xác định tỷ lệ dịch tễ của RLTC, các đặc điểm lâm sàng, mức

độ RLTC, các yếu tố ảnh hưởng Với nghiên cứu trên diện rộng về rối nhiễu tâm lý ở

PNSS từ góc độ Tâm lý học chưa có nhiều. Ít cơng trình đi vào nghiên cứu một quy

trình đánh giá và can thiệp trường hợp phụ nữ có RLTCSS.

1.2. Lý luận về trầm cảm ở phụ nữ sau sinh

1.2.1 Khái niệm

Trầm cảm sau sinh ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe bà mẹ, đặc biệt là

sự phát triển trí tuệ, cảm xúc và thể chất của đứa trẻ.TCSS là những cảm xúc mạnh

mẽ hòa quyện vào nhau như phấn khích, vui sướng cho đến lo lắng và sợ hãi từ việc

ra đời của một đứa trẻ. Nhưng TCSS cũng có thể dẫn đến trầm cảm nặng đòi hỏi

cần được điều trị lâu dài và đây là điều không ai mong đợi [19].

Trầm cảm ở PNSS là một tình trạng rối loạn khí sắc nặng nề (buồn rầu và

chản nản), gặp tương đối phổ biến ở thời kỳ sau sinh, được đặc trưng bởi các triệu

chứng của trầm cảm nhưng chỉ xảy ra sau khi sinh con.

Trước đây các nhà tâm thần học mô tả trầm cảm như là một giai đoạn bệnh điển

hình, trong các trạng thái u sầu (melancholia), biểu hiện ức chế nặng nề các mặt hoạt

động tâm thần. Chủ yếu là các quá trình: 1. Cảm xúc ức chế biểu hiện bằng khí sắc

giảm, buồn rầu (hypothimie); 2. Các q trình tư duy bị ức chế và chậm lại

(bradypsychie); 3. Sự ức chế tâm thần, vận động (thể hiện tình trạng chậm chạp cả về

lời nói, hành vi, nhiều khi nặng đến mức sững sờ, bất động) [30, tr 307 – 323].



Trầm cảm điển hình là một quá trình ức chế toàn bộ các hoạt động tâm thần

thể hiện cảm xúc, tư duy và hành vi [1].

Theo tiêu chuẩn chẩn đoán các rối loạn tâm thần DSM – 5 (Sổ tay chẩn đoán

và phân loại bệnh tâm thần của Hội tâm thần học, tâm lý Hoa kỳ DSM – 5 (2013).



13



Trầm cảm là dạng rối loạn tâm thần biểu hiện đặc trưng bởi ít nhất 5 trong số các

dấu hiệu cơ bản và kéo dài trong thời gian khoảng 2 tuần là:1) Khí sắc trầm; 2) Mất

quan tâm thích thú; 3) Có biểu hiện sụt cân khi khơng ăn kiêng hoặc tăng cân; 4)

Mất ngủ hoặc ngủ quá nhiều; 5) Sự kích động tâm vận động hoặc chậm vận động;

6) Mệt mỏi hoặc mất năng lượng; 7) Cảm thấy không xứng đáng hoặc tội lỗi q

mức hoặc khơng thích hợp; 8) Giảm khả năng suy nghĩ, tập trung chú ý hoặc khả

năng ra quyết định; 9) Ý nghĩ tiếp tục về cái chết (khơng chỉ là sợ chết) hoặc có ý

định tự sát tái diễn khơng có một kế hoạch trước, một hành vi tự sát hoặc một kế

hoạch cụ thể để tự sát thành công [10, tr 25 – 27].

Hiện nay, theo mô tả trong bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD –

10F (1992)) của Tổ chức Y tế Thế giới: Trầm cảm là một hội chứng bệnh lý, tồn tại

kéo dài trong một khoảng thời gian tối thiểu liên tục trong hai tuần, giảm khí sắc

khơng tương ứng với hoàn cảnh, hay lạm dụng rượu, ám ảnh sợ, lo âu và nghi

bệnh, ăn không ngon miệng, sút cân trên 5% một tháng. Có kèm theo 2 trong số 3

triệu chứng chủ yếu là đặc trưng bởi khí sắc trầm đến một mức độ hồn tồn khơng

bình thường đối với một cá nhân, mất mọi quan tâm thích thú mà cá nhân vẫn hứng

thú, giảm năng lượng dễ mệt mỏi, phổ biến là tăng mệt mỏi rõ rệt nhiều sau khi chỉ

sau một cố gắng nhỏ. Có ít nhất 2 trên 7 triệu chứng phổ biến khác như: giảm sút

sự tập trung chú ý, giảm sút lòng tự trọng và lòng tự tin; có cảm giác bị tội quá

mức tự trách bản thân và không xứng đáng; bi quan về tương lai; có ý tưởng và

hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát, rối loạn giấc ngủ; giảm cảm giác ngon miệng;

ngồi ra còn có các triệu chứng loạn thần [12].

1.2.2. Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán trầm cảm ở phụ nữ sau sinh

1.2.2.1. Đặc điểm lâm sàng trầm cảm ở phụ nữ sau sinh

Trầm cảm sau sinh là một dạng trong các rối loạn tâm thần xảy ra vào thời kỳ

sinh đẻ, ngồi TCSS nhóm bệnh này còn bao gồm: Trạng thái buồn chán sau sinh

(postpartum blues), loạn thần sau sinh [18].



14



Bảng 1.1: Phân loại rối loạn tâm thần sau sinh



Rối loạn



Tần suất



Khởi phát



Triệu chứng



Buồn sau sinh



30 – 85%



Trong tuần

đầu tiên



Cảm xúc xao động, dễ



Thường mơ hồ,



Khí sắc trầm buồn, lo



TCSS



10 – 15%



trong 2 – 3

tháng đầu

Loạn thần sau

sinh



0,1 – 0,2%



Thường trong

2 – 4 tuần đầu



mất ngủ, lo âu.



âu qúa mức, mất ngủ.

Kích động, gây hấn,

khí sắc trầm hay hưng

phấn, hoang tưởng, giải

thể nhân cách, hành vi

vơ tổ chức.



Các triệu chứng có thể xuất hiện bao gồm các triệu chứng thường gặp: cảm

thấy mình khơng xứng đáng chăm sóc em bé; sao nhãng trong việc chăm sóc con: dễ

lo âu và hoảng sợ; cáu gắt với người khác; buồn bã; cảm thấy có tội; khơng còn thích

thú với những thứ, hoạt động mình ưa thích trước kia; Giảm giao tiếp với người khác;

rối loạn giấc ngủ (thường là mất ngủ); ăn uống thất thường; an ủi không đem lại hiệu

quả; cảm thấy trống rỗng; cảm thấy yếu ớt hoặc khơng còn sức lực; khơng cảm thấy

thoải mái trong quan hệ tình dục; giảm khả năng diễn đạt chính xác khi nói hoặc viết;

tuyệt vọng, bi quan; lòng tự trọng thấp. Những ý nghĩ ám ảnh có thể xuất hiện và

thường liên quan đến bạo lực với đứa trẻ. Trong trường hợp bị nặng ý nghĩ và hành vi

giết đứa trẻ ngay sau khi sinh có thể xảy ra với những hoang tưởng hoặc ảo giác [18].

Theo tác giả Ronnie Lichman cho rằng: Nếu PNSS có 3 hoặc nhiều hơn các

triệu chứng dưới đây thì có thể họ bị mắc TC:

1. Buồn, lo lắng, hoặc “trống rỗng” tâm trạng một cách rõ ràng.

2. Cảm giác tuyệt vọng, bi quan.

3. Cảm giác tội lỗi, vô dụng, bất lực.



15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cấu trúc luận văn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×