Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
c. Quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện

c. Quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chế độ hưu trí:

Điều kiện hưởng lương hưu (Quy định tại Điều 73 Luật Bảo hiểm xã hội,

2014):

(1)Người lao động hưởng lương hưu khi có đủ các điều kiện sau đây:

- Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi;

- Đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên.

(2)Người lao động đã đủ điều kiện về tuổi nhưng thời gian đóng bảo

hiểm xã hội chưa đủ 20 năm thì được đóng cho đến khi đủ 20 năm để hưởng

lương hưu.

Mức lương hưu hằng tháng (Quy định tại Điều 74 Luật Bảo hiểm xã hội,

2014):

(1)Từ ngày Luật Bảo hiểm xã hội (2014) có hiệu lực thi hành cho đến

trước ngày 01 tháng 01 năm 2018 mức lương hưu hằng tháng của người lao động

đủ điều kiện quy định tại Điều 73 của Luật Bảo hiểm xã hội (2014) được tính

bằng 45% mức bình qn thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều

79 của Luật Bảo hiểm xã hội (2014) tương ứng với 15 năm đóng bảo hiểm xã

hội; sau đó cứ thêm mỗi năm thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ;

mức tối đa bằng 75%.

(2)Từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, mức lương hưu hằng tháng của người

lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 73 của Luật Bảo hiểm xã hội 2014 được

tính bằng 45% mức bình qn thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội quy định tại

Điều 79 của Luật Bảo hiểm xã hội 2014 và tương ứng với số năm đóng bảo hiểm

xã hội như sau:

(a) Lao động nam nghỉ hưu vào năm 2018 là 16 năm, năm 2019 là 17

năm, năm 2020 là 18 năm, năm 2021 là 19 năm, từ năm 2022 trở đi là 20 năm;

(b) Lao động nữ nghỉ hưu từ năm 2018 trở đi là 15 năm.

Sau đó cứ thêm mỗi năm, người lao động quy định tại điểm a và điểm b

khoản này được tính thêm 2%; mức tối đa bằng 75%.

(3)Việc điều chỉnh lương hưu được thực hiện theo quy định tại Điều 57

của Luật Bảo hiểm xã hội 2014.



10



Bảo hiểm xã hội một lần:

(1)Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng bảo hiểm xã

hội một lần theo quy định tại Điều 77 của Luật Bảo hiểm xã hội và Nghị quyết số

93/2015/QH13 ngày 22 tháng 6 năm 2015 của Quốc hội về việc thực hiện chính

sách hưởng bảo hiểm xã hội mêt lần đối với người lao động.

(2)Hồ sơ hưởng bảo hiểm xã hội một lần thực hiện theo quy định tại Điều

109 của Luật Bảo hiểm xã hội.

(3)Giải quyết hưởng bảo hiểm xã hội một lần thực hiện theo quy định tại

Khoản 3 và Khoản 4 Điều 110 của Luật Bảo hiểm xã hội.

Chế độ tử tuất:

Chế độ tử tuất đối với thân nhân của người tham gia bảo hiểm xã hội tự

nguyện chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết mà trước đó có thời gian đóng

bảo hiểm xã hội bắt buộc theo Điều 71 của Luật Bảo hiểm xã hội được quy

định như sau:

(1)Thời gian tính hưởng chế độ tử tuất là tổng thời gian đã đóng bảo hiểm

xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện, không bao gồm thời gian đóng

bảo hiểm xã hội đã được tính hưởng bảo hiểm xã hội một lần.

(2)Người lo mai táng được nhận trợ cấp mai táng bằng 10 lần mức lương

cơ sở đối với người chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thuộc một trong các

trường hợp sau:

(a) Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện có thời gian đóng bảo hiểm

xã hội bắt buộc từ đủ 12 tháng trở lên;

(b) Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện có thời gian tính hưởng chế

độ tử tuất từ đủ 60 tháng trở lên;

(c) Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đang hưởng trợ cấp tai nạn

lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng đã nghỉ việc;

(d) Người đang hưởng lương hưu.

(3) Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện chết hoặc bị Tòa án tuyên

bố là đã chết thuộc một trong các trường hợp sau thì thân nhấn theo quy định tại

Khoản 2 Điều 67 của Luật Bảo hiểm xã hội được hưởng trợ cấp tuất hằng tháng

theo quy định tại Điều 68 của Luật Bảo hiểm xã hội:



11



(a) Đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 15 năm trở lên nhưng chưa

hưởng bảo hiểm xã hội một lần;

(b) Đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng với

mức suy giảm khả năng lao đóng từ 61% trở lên;

(c) Đang hưởng lương hưu mà trước đó có thời gian đóng bảo hiểm xã hội

bắt buộc đủ 15 năm trở lên.

(4) Trường hợp thân nhân thuộc diện hưởng trợ cấp tuất hằng tháng theo

quy định tại Khoản 3 Điều này mà có nguyện vọng hưởng trợ cấp tuất một lần thì

được hưởng trợ cấp tuất một lần theo quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều 81

của Luật Bảo hiểm xã hội, trừ trường hợp con dưới 06 tuổi, con hoặc vợ hoặc

chồng mà bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên.

(5) Trường hợp người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện chết hoặc bị

Tòa án tuyên bố là đã chết mà không có thân nhân quy định tại Khoản 6 Điều 3

của Luật Bảo hiểm xã hội thì việc xác định người nhận trợ cấp tuất một lần được

thực hiện theo quy định của pháp luật về thừa kế.

2.1.2.2. Vai trò của bảo hiểm xã hội tự nguyện

a. Vai trò của bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với người lao động và gia đình

- Thứ nhất, ổn định thu nhập cho người lao động và gia đình. Khi tham gia

BHXH, BHXH TN, NLĐ phải trích một khoản phí nộp vào quỹ BHXH, khi gặp

rủi ro, bất hạnh như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động làm cho chi phí gia đình

tăng lên, khi về già hết tuổi lao động hoặc phải ngừng làm việc tạm thời. Do vậy

thu nhập của gia đình bị giảm, đời sống kinh tế lâm vào tình cảnh khó khăn, túng

q̃n.

- Thứ hai, tạo được tâm lý yên tâm, tin tưởng. Khi đã tham gia BHXH tự

nguyện góp phần nâng cao đời sống tinh thần đem lại cuộc sống bình yên, hạnh

phúc cho người lao động, đặc biệt khi về già (Viet Nam Foundation, 2013).

b. Vai trò của bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với xã hội

- Thứ nhất, tăng cường mối quan hệ giữa các bên. Nhà nước, người sử

dụng lao động và NLĐ có mối quan hệ ràng buộc, chặt chẽ, chia sẻ trách nhiệm,

chia sẻ rủi ro chỉ có được trong quan hệ của BHXH. Tuy nhiên mối quan hệ này

thể hiện trên giác độ khác nhau. Người lao động tham gia BHXH, BHXH tự

nguyện với vai trò bảo vệ quyền lợi cho chính mình đồng thời phải có trách



12



nhiệm đối với cộng đồng và xã hội. Người sử dụng lao động tham gia BHXH là

để tăng cường tình đồn kết và cùng chia sẻ rủi ro cho NLĐ nhưng đồng thời

cũng bảo vệ, ổn định cuộc sống cho các thành viên trong xã hội. Mối quan hệ này

thể hiện tính nhân sinh, nhân văn sâu sắc của BHXH.

- Thứ hai, tạo điều kiện cho những người bất hạnh có thêm những điều

kiện, động lực cần thiết để khắc phục những biến cố trong cuộc sống, hòa nhập

vào cộng đồng, kích thích tính tích cực của xã hội trong mỗi con người giúp họ

hướng tới những chuẩn mực của chân – thiện – mỹ, nhờ đó có thể chống lại tư

tưởng “đèn nhà ai nhà ấy rạng”. BHXH là yếu tố tạo nên sự hòa đồng mọi người,

khơng phân biệt chính kiến, tôn giáo, chủng tộc, vị thế xã hội đồng thời giúp mọi

người hướng tới một xã hội công bằng, văn minh.

- Thứ ba, thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần

tương thân tương ái. Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng là nhân tố

quan trọng giúp đỡ những người bị bất hạnh là nhằm hoàn thiện những giá trị

nhân bản của con người, tạo điều kiện cho xã hội phát triển lành mạnh và bền

vững.

- Thứ tư, thực hiện bình đẳng xã hội. Trên giác độ xã hội, BHXH TN là

một công cụ để nâng cao điều kiện sống cho người lao động. Trên giác độ kinh

tế, BHXH TN là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong

cộng đồng. Nhờ sự điều tiết này người lao động được thực hiện bình đẳng khơng

phân biệt các tầng lớp xã hội (Viet Nam Foundation, 2013).

2.1.3. Tính chất của bảo hiểm xã hội tự nguyện

Bảo hiểm xã hội tự nguyện có những tính chất cơ bản sau đây:

+ Tính tất yếu khách quan: là những đặc điểm bị tác động bởi những yếu tố

bên ngồi và khơng phụ thuộc vào suy nghĩ của con người. Sở dĩ bảo hiểm xã hội

tự nguyện mang tính tất yếu khách quan vì khi nền sản xuất càng phát triển thì

những rủi ro trong lao động càng nhiều và trở nên phức tạp, lúc này người lao

động cần được bảo vệ, tìm kiếm một sự an toàn. Nhu cầu an toàn là một trong

những nhu cầu thiết yếu của người lao động. Nhu cầu này được thể hiện thông

qua nhu cầu tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.

+ Tính ngẫu nhiên, phát sinh khơng đồng đều theo thời gian và khơng

gian: Tính chất này xuất phát từ những rủi ro mang tính ngẫu nhiên khơng lường

trước được, vì khơng phải tất cả những người lao động đều gặp rủi ro vào cùng



13



một thời điểm và khó có thể xác định khi nào thì người lao động gặp rủi ro trong

lao động. Tính chất này thể hiện bản chất của BHXH tự nguyện là lấy số đơng bù

số ít.

+ Tinh kinh tế: Đối với người lao động định kỳ họ chỉ đóng một khoản

phí nhỏ, xem đó như những khoản tiết kiệm nhưng khi bị mất hoặc giảm thu

nhập họ nhận được các khoản trợ cấp từ bảo hiểm xã hội tự nguyện và không

phải bỏ ra một khoản tiền lớn để trang trải cuộc sống. Đối với nhà nước, bảo

hiểm xã hội tự nguyện góp phần làm giảm gánh nặng cho ngân sách, đồng thời

quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện còn là kênh tài chính quan trọng để phát triển

nền kinh tế quốc dân.

+ Tính xã hội: Các khoản trợ cấp về bảo hiểm xã hội tự nguyện là một

khoản tiền thay thế cho thu nhập bị mất hoặc giảm khi người lao động gặp những

rủi ro như ốm đau, tai nạn lao động, chết,... hoặc thai sản, nghỉ hưu. Các khoản

trợ cấp này sẽ giúp cho bản thân người lao động và gia đình của họ giảm bớt

gánh nặng, ổn định đời sống. Khi mỗi người lao động, mỗi gia đình có cuộc sống

ổn định thì cũng có nghĩa là vấn đề an sinh xã hội được thiết lập.

Mặt khác, tính xã hội của bảo hiểm xã hội tự nguyện còn thể hiện ở sự tương

trợ, san sẻ lẫn nhau những rủi ro khơng mong đợi. Một người có thể đóng góp rất

nhiều vào quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện mà khơng được hưởng trợ cấp hoặc hưởng

rất ít nhưng khơng hề gì, bởi số tiền đó sẽ được chia sẻ cho những người khác.

+ Tính dịch vụ: Đây là tính chất trung gian của BHXH tự nguyện, thể hiện

bằng hình thức phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia.

2.1.4. Nội dung phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện

2.1.4.1. Phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện

Để ngày càng nhiều người tham gia BHXH tự nguyện, mở rộng các nhóm

đối tượng tham gia thì cơ quan BHXH cần chú trọng thực hiện các nội dung sau:

- Để việc phát triển đối tượng tham gia BHXH đạt hiệu quả cần phải linh

hoạt hơn nữa trong việc hoạch định chính sách BHXH. Theo đó, phải đưa ra

nhiều gói BHXH linh hoạt hơn, tạo thuận lợi để NLĐ có nhiều lựa chọn phù hợp

để tham gia. Trong việc hoạch định chính sách phải có những bài tốn cụ thể để

bảo đảm ngun tắc đóng - hưởng, đảm bảo sự bền vững của quỹ BHXH

(Nguyễn Trọng, 2017).

- Tổ chức tuyên truyền: bất cứ loại dịch vụ nào để thu hút nhiều người



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

c. Quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×