Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Tải bản đầy đủ - 0trang

I. MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

Ngày nay cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, lao động của con

người hiện đại càng nhẹ nhàng hơn, năng suất lao động cao hơn, sản phẩm hàng

hóa nhiều hơn phục vụ nhu cầu vật chất và tinh thần của con người ngày càng đa

dạng. Song trong công cuộc Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa, q trình sản xuất

của con người cũng làm đã cho môi trường bị ô nhiễm, tài nguyên bị tàn phá

nghiêm trọng, thời tiết khí hậu bất thường … Nhân loại đang đứng trước những

nguy cơ tiềm ẩn đe doạ cuộc sống như Bệnh tật hiểm nghèo, ảnh hưởng tới tuổi

thọ và chất lượng cuộc sống. Vì vậy, vấn đề ơ nhiễm mơi trường hiện nay khơng

chỉ đòi hỏi sự quan tâm của một quốc gia, vùng lãnh thổ nào mà là vấn đề quan

trọng, cấp thiết của toàn nhân loại. Điều này khẳng định tại Hội nghị của Liên

hiệp quốc về “Môi trường và phát triển” họp ở Riô- Đgia nêrô ngày 14/3/2002.

[1]

Theo báo cáo của Bộ tài nguyên và môi trường, thực trạng mơi trường

nước ta hiện nay là: Ơ nhiễm nước, khơng khí và đất xuất hiện ở nhiều nơi,

nhiều vấn đề vệ sinh môi trường đã phát sinh cả ở thành thị và nông thôn. Môi

trường bắt đầu ô nhiễm, trước hết là do khai thác dầu. Các sự cố môi trường như

bão lụt, hạn hán ngày càng tăng lên. Môi trường bị ô nhiễm là do ý thức bảo vệ

môi trường của con người còn kém. Tình trạng ơ nhiễm môi trường đang trực

tiếp ảnh hưởng xấu đến đời sống và sức khoẻ của con người. Những thành phố

lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh mỗi ngày có số lượng rác thải khoảng 500 tấn.

Các doanh nghiệp như Vedan xả nước thải công nghiệp chưa qua xử lý vào sông

Thị Vải, nước thải sinh hoạt ở các khu dân cư tại Hà Nội xả trực tiếp vào sông

Tô Lịch, sông Nhuệ làm ơ nhiễm nguồn nước…. Tất cả đang dóng lên hồi

chng cảnh báo cấp thiết tình trạng ơ nhiễm môi trường ở nước ta. Các căn

bệnh hiểm nghèo như: ung thư, dịch tiêu chảy cấp, bệnh ngoài da đều có ngun

nhân bắt nguồn từ mơi trường sống bị ơ nhiễm nặng nề. [2]



1



Họng cống xả nước thải từ nhà máy Vedan ra sông Thị Vải.



Nước dưới sông Tô Lịch đen kịt, rác thải trơi nổi kín mặt nước, bốc mùi khó

chịu.



2



Một lượng rác thải sinh hoạt như túi nilon, chai nhựa, thùng xốp... nổi lềnh

bềnh trên sông Tô Lịch.



Nước thải sinh hoạt từ hệ thống kênh rạch đổ thẳng ra sơng Sài Gòn, gây ơ

nhiễm nghiêm trọng.

Đối với Tiểu học, là cấp học nền tảng, là cơ sở ban đầu rất quan trọng

trong việc đào tạo các em trở thành các cơng dân tốt cho đất nước. Do đó, việc

3



giáo dục bảo vệ môi trường cho các em là rất khó vì nhận thức của học sinh tiểu

học về mơi trường và bảo vệ mơi trường còn nhiều sai lệch và phiến diện.

Nguyên nhân chủ yếu là do việc giáo dục môi trường vẫn chưa thực sự được chú

trọng, việc lồng ghép, tích hợp giảng dạy giáo dục bảo vệ môi trường tại các

trường tiểu học chưa tốt. Học sinh tiểu học mới chỉ nhận biết về môi trường và

bảo vệ nó thơng qua các vấn đề như rác thải, phải vứt rác đúng nơi qui định,

phải vệ sinh trường lớp… Còn rất nhiều nội dung cơ bản về mơi trường, ơ nhiễm

mơi trường và ảnh hưởng của nó đến đời sống, bảo vệ môi trường chưa được

truyền đạt một cách đầy đủ. Hình thành ý thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường

là nhiệm vụ và sự quan tâm chung của nhiều mơn học nói chung song giữ vị rrí

chủ đạo vẫn là Tự nhiên – Xã hội, xuất phát từ vị trí, tầm quan trọng và nhiệm

vụ của bộ môn và nhằm giáo dục cho học sinh ý thức bảo vệ môi trường tôi

chọn và nghiên cứu “ Một số giải pháp giáo dục học sinh nâng cao ý thức bảo

vệ mơi trường qua việc dạy tích hợp vào môn Tự nhiên – xã hội ở lớp 3

trường Tiểu học Nga Điền 1 – Nga Sơn – Thanh Hóa”.

2. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao nhận thức và

đưa ra các giải pháp giáo dục học sinh có ý thức bảo vệ môi trường. Giúp học

sinh hiểu và nắm được vấn đề mơi trường và có hành động thiết thực góp phần

vào việc bảo vệ mơi trường nơi cư trú và cộng đồng dân cư sinh sống, là tuyên

truyền viên tích cực để tuyên truyền, vận động nhân dân nơi cư trú cùng nhau

bảo vệ môi trường của địa phương mình.

Học sinh thấy được đây là một biểu hiện cụ thể của lòng nhân ái, tính

nhân văn, lòng u q hương đất nước, lòng vị tha, là góp phần làm cho môi

trường sống cộng đồng trong lành, sạch sẽ để bảo vệ sức khỏe chống lại các

nguy cơ bệnh tật xâm nhập vào cơ thể con người...

3. Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu tài liệu liên quan đến việc giáo dục môi trường cho học sinh

tiểu học.

- Nghiên cứu thực trạng việc giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh lớp

3 trường Tiểu học Nga Điền 1 – Nga Sơn.

- Nghiên cứu các giải pháp giáo dục học sinh nâng cao ý thức bảo vệ môi

trường qua việc dạy tích hợp vào mơn Tự nhiên – xã hội.

Trong q trình nghiên cứu, tơi đã áp dụng một số phương pháp sau:

4. Phương pháp nghiên cứu

4.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận.

- Đọc và nghiên cứu một số tài liệu liên quan môi trường.

4.2. Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn.

- Nghiên cứu, điều tra thực tiễn qua phiếu điều tra, qua phỏng vấn học sinh

và giáo viên.

4.3. Phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp.

- Phân tích lý luận và thực tiễn việc giáo dục bảo vệ môi trường. Tổng hợp

kết quả khảo sát, đánh giá kết quả trước và sau khi thực hiện đề tài

4



II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

1. Cơ sở lý luận

Chúng ta đều biết mơi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống

con người và sự phát triển kinh tế văn hoá của đất nước và của cá nhân. Mơi

trường hiện tại đang có những thay đổi bất lợi cho con người, đặc biệt là những

yếu tố mang tính chất tự nhiên như là đất, nước, khơng khí, hệ động, thực vật.

Tình trạng mơi trường thay đổi và bị ô nhiễm đang diễn ra trên phạm vi mỗi

quốc gia cũng như trên tồn cầu. Chưa bao giờ mơi trường bị ơ nhiễm nặng như

bây giờ. Chính vì vậy việc giáo dục bảo vệ mơi trường nói chung, bảo vệ thiên

nhiên, tài nguyên nói riêng, là vấn đề cần thiết, cấp bách và bắt buộc khi giảng

dạy trong trường Phổ thơng. Vì nó cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản có

liên quan đến mơi trường, sự ơ nhiễm môi trường, biện pháp giảm thiểu ô

nhiễm… tăng cường sự hiểu biết về mối quan hệ tác động qua lại giữa con

người với tự nhiên trong sinh hoạt và lao động sản xuất, góp phần hình thành ở

học sinh ý thức và đạo đức mới đối với mơi trường, có thái độ và hành động

đúng đắn để bảo vệ môi trường. Vì vậy, giáo dục bảo vệ mơi trường cho học

sinh là việc làm có tác dụng rộng lớn nhất, sâu sắc và bền vững nhất.

Bảo vệ môi trường không chỉ là của riêng một ai, khi làm việc gì đó hãy

nghĩ rằng mỗi việc làm của chúng ta đều tác động tới mơi trường. Nếu đó là tác

động tốt thì chúng ta nên tích cực và phấn đấu nhiều hơn nữa.Còn nếu tác động

xấu nhưng ta khơng thể tránh được thì hãy làm sao cho tác động đó là tối thiểu,

bởi mơi trường đó chưa hẳn đã tác động đến chúng ta mà nó có tác động rất lớn

đến con em chúng ta, thế hệ tương lai nói riêng và con người nói chung.

Giáo dục bảo vệ mơi trường là tổng hợp các biện pháp nhằm duy trì sử

dụng hợp lý, phục hồi, nâng cao hiệu quả môi trường tự nhiên, giúp con người

và thiên nhiên có sự hài hòa. Hiện nay, cơng việc giáo dục mơi trường là rất

quan trọng, cần thiết. Trong việc xây dựng thời đại mới của cả thế giới, Việt

Nam cũng từng ngày, từng giờ tham gia vào công cuộc đổi mới nền kinh tế hiện

đại “Cơng nghiệp hóa – Hiện đại hóa”. Để đáp ứng cho cơng cuộc ấy thì con

người phải khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên môi trường rất

nhiều.

Bảo vệ mơi trường là một vấn đề sống còn của đất nước, của nhân loại.

Giáo dục bảo vệ môi trường là việc làm quan trọng đối với nền giáo dục hiện

nay. Bảo vệ mơi trường nói chung và giáo dục, đào tạo về bảo vệ mơi trường nói

riêng đã được Đảng, Nhà nước quan tâm từ nhiều năm nay. [2]

Do đó, để thực hiện được mục tiêu, nội dung giáo dục bảo vệ môi trường

trong trường tiểu học hiện nay, con đường tốt nhất là tích hợp lồng ghép nội

dung giáo dục bảo vệ môi trường qua các môn học, đặc biệt là đối với môn Tự

nhiên xã hội lớp 3.

5



2. Cơ sở thực tiễn

Một thực trạng ngày nay mà ta có thể thấy rõ, mơi trường và tài nguyên

thiên nhiên ngày càng bị suy thoái nghiêm trọng. Muốn bảo vệ môi trường phát

triển bền vững mỗi chúng ta cần có nhận thức đúng đắn và biết cách bảo vệ tài

nguyên thiên nhiên và môi trường.

Thực hiện Nghị quyết số 41-NĐ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về

bảo vệ mơi trường trong thời kỳ cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, sự chỉ đạo của

Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhiều nội dung bảo vệ môi trường đã được thực hiện.

Các nhà trường đã tổ chức nhiều hoạt động như: tuyên truyền thông tin về môi

trường, xây dựng môi trường giáo dục xanh - sạch - đẹp, tổ chức một số cuộc thi

viết, vẽ, thi văn nghệ về chủ đề bảo vệ môi trường.

Tuy nhiên, công tác giáo dục bảo vệ môi trường trong thời gian qua vẫn

chưa làm cho học sinh hiểu sâu sắc những kiến thức về bảo vệ môi trường cũng

như việc tự giác thực hiện [3].

Qua khảo sát học sinh về các hoạt động bảo vệ môi trường cho thấy tỉ lệ

học sinh nhận thức về việc bảo vệ mơi trường còn hạn chế, kĩ năng về bảo vệ

mơi trường chưa cao, chưa có tinh thần tự giác trong việc giữ gìn vệ sinh. Thậm

chí các em còn gây ơ nhiễm mơi trường. Các em chưa có ý thức giữ gìn và bảo

vệ mơi trường trong sạch, còn xé vở làm đồ chơi, ăn quà xong chưa có ý thức

vứt giấy, vỏ vào đúng nơi quy định. Chơi những trò chơi mất vệ sinh như là

dùng cát ném vào bạn, chân tay khi đến lớp còn bẩn, cây cối được thầy cơ trồng

làm bóng mát, cảnh quan quanh trường học thì còn tự ý rủ bạn bè tới chơi đùa

và bẻ ngọn....

Kết quả khảo khối lớp 3 về nhận thức, hành động bảo vệ môi trường đầu

năm học như sau:

Tổng số

HS



Nhận thức, hành vi tốt

SL



TL



Nhận thức, hành vi khơng tốt

SL



TL



58

19

32,7%

39

67,3%

Với tình hình thực tế của học sinh khối 3, giáo viên rất khó khăn trong

việc giáo dục các em ý thức bảo vệ môi trường. Song với việc dạy chữ, giáo

viên còn phải giáo dục đạo đức, ý thức bảo vệ môi trường, gắn liền cùng các

hoạt động thực hiện tốt mục tiêu của nhà trường đề ra. Vì thế, người giáo viên

cần phải nỗ lực hết sức, dù khó khăn đến đâu cũng phải vượt qua và tìm mọi

biện pháp giải quyết phù hợp để mang lại hiệu quả thiết thực cho sự nghiệp giáo

dục của mình.

Cho nên, để đảm bảo nhu cầu thực tế đối với thực trạng của khối lớp 3, tôi

nhận thấy việc tích hợp giáo dục mơi trường trong các mơn học đặc biệt là môn

6



Tự nhiên xã hội lớp 3 là rất cần thiết vì vậy tơi đã nghiên cứu và đưa ra “ Một số

giải pháp giáo dục học sinh nâng cao ý thức bảo vệ môi trường qua việc dạy

tích hợp vào mơn Tự nhiên – xã hội ở lớp 3 trường Tiểu học Nga Điền 1 –

Nga Sơn – Thanh Hóa”.

3. Các giải pháp đã thực hiện để giải quyết vấn đề

Giải pháp 1. Chọn nội dung bài giảng phù hợp để tích hợp có hiệu quả.

Trong chương trình Tự nhiên – Xã hội lớp 3 có nhiều bài có thể tích hợp

nội dung bảo vệ mơi trường. Mỗi bài có một chủ đề riêng cần phải lựa chọn cho

thích hợp bằng những mức độ tích hợp khác nhau. Vì vậy, giáo viên cần phải

nắm vững nội dung, chương trình và các bài có nội dung tích hợp.Về nội dung

chương trình: Mơn Tự nhiên và xã hội lớp 3 gồm ba chủ đề: [4]

- Chủ đề Con người và sức khỏe:

+ Cơ quan hô hấp và một số bệnh lây qua đường hô hấp.

+ Cơ quan tuần hoàn: bảo vệ cơ quan tuần hoàn.

+ Giữ vệ sinh cơ quan bài tiết nước tiểu.

+ Cơ quan thần kinh: Nghỉ ngơi và học tập điều độ.

- Chủ đề Chủ đề Xã hội:

+ Quan hệ trong gia đình và vấn đề giữ gìn mơi trường sống.

+ Giữ vệ sinh trường, lớp học.

+ Làng quê, đô thị; giữ vệ sinh nơi công cộng; liên hệ đến thực trạng môi

trường địa phương.

- Chủ đề Tự nhiên:

+ Thực vật, động vật, ích lợi và tác hại đối với cuộc sống con người; cách

bảo vệ chúng.

+ Mặt trời và trái đất, khí hậu ảnh hưởng đối với sự sống của con người.

Từ việc nắm vững nội dung, chương trình, giáo viên hệ thống và phân loại

các bài có nội dung tích hợp. Cụ thể như sau:

Tên bài

Bài 3:

Vệ sinh hô hấp

Bài 8:

Vệ sinh cơ quan tuần

hoàn

Bài 10:

Hoạt động bài tiết

nước tiểu

Bài 15:

Vệ sinh thần kinh

Bài 19:

Các thế hệ trong một

gia đình



Nội dung tích hợp giáo dục BVMT



Mức độ

tích hợp



Biết một số hoạt động của con người đã

gây ơi nhiễm bầu khơng khí, có hại đối

với cơ quan hơ hấp, tuần hồn, thần

- Bộ phân

kinh.

- HS biết một số việc làm có lợi có hại

cho sức khỏe.

Biết về các mối quan hệ trong gia đình. - Liên hệ

Gia đình là một phần của xã hội

- Có ý thức nhắc nhở các thành viên

7



Bài 24:

Một số hoạt động ở

trường

Bài 30:

Hoạt động nông

nghiệp

Bài 31:

Hoạt động công

nghiệp, thương mại

Bài 32:

Làng quê và đô thị

Bài 36:

Vệ sinh môi trường



Bài 46:

Khả năng kì diệu

của lá cây

Bài 49: Động vật

Bài 50: Côn trùng

Bài 51: Tôm

Bài 52: Cá

Bài 53: Chim

Bài 54: Thú

Bài 56, 57:

Đi thăm thiên nhiên



Bài 58:

Mặt trời



trong gia đình giữ gìn mơi trường sạch

đẹp.

Biết những hoạt động ở trường và có ý

thức tham gia các hoạt động ở trường

- Bộ phận

góp phần BVMT như: làm vệ sinh,

trồng cây, tưới cây…

- Biết các hoạt động nơng nghiệp, cơng

nghiệp, lợi ích và một số tác hại (nếu - Liên hệ

thực hiện sai) của các hoạt động đó.

- Nhân ra sự khác biệt giữa mội trường

sống ở làng quê và môi trường sống ở

đô thị.

- Biết rác, phân, nước thải là nơi chứa

các mầm bệnh là hại sức khỏe con

người và động vật.

- Biết phân, rác thải nếu không xử lý

hợp vệ sinh sẽ là nguyện nhânn gây ô

nhiễm môi trường.

- Biết một vài biện pháp xử lý phân, rác

thải, nước thải hợp vệ sinh.

- Có ý thức giữ gìn vệ sinh mơi trường.

- Biết cây xanh có ích đối với cuộc sống

của con người, khả năng kì diệu của lá

cây trong việc tạo ra ôxi và các chất

dinh dưỡng để nuôi cây.

- Nhận ra sự phong phú, đa dạng của

các con vật sống trong mơi trường tự

nhiên, ích lợi và tác hại của chúng đối

với con người.

- Nhận biết sự cần thiết phải bảo vệ các

con vật.

- Có ý thức bảo vệ sự đa dạng của loại

vật trong tự nhiên.

- Hình thành biểu tượng về mơi trường

tự nhiên.

- u thích thiên nhiên

- Hình thành kỹ năng quan sát, nhân xét

mơ tả mơi trường xung quanh.

- Biết mặt trời là nguồn năng lượng cơ

bản cho sự sống trên Trái Đất.



- Liên hệ



- Toàn phần



- Liên hệ



- Liên hệ



- Liên hệ

- Liên hệ



8



Bài 64:

Năm, tháng và mùa

Bài 66:

Bề mặt Trái Đất

Bài 67,68:

Bề mặt lục địa



- Biết sử dụng năng lượng ánh sáng Mặt

trời vào một số việc cụ thể trong cuộc

sống hàng ngày.

Bước đầu biết có các loại khí hậu khác

nhau và ảnh hưởng của chúng đối với - Liên hệ

sự phân bố của các sinh vật.

- Biết các loại địa hình trên Trái đất bao

gồm: Núi, sông, biển… là thành phần

tạo nên môi trường sống của con người

- Bộ phân

và các sinh vật.

- Có ý thức giữ gìn mơi trường sống của

con người.



Giải pháp 2. Lựa chọn phương pháp tích hợp phù hợp để bài giảng đạt

hiệu quả cao.

Sau khi xác định bài giảng và nội dung cần tích hợp, tùy vào từng bài với

nội dung và mức độ tích hợp để đưa ra các phương pháp dạy học phù hợp.

Tích hợp từng bộ phận: Trong mỗi bài chọn các mục để tích hợp có nội

dung sát với vấn đề bảo vệ mơi trường.

Tích hợp tồn phần: Trong bài giảng có thể tích hợp một vấn đề trọn vẹn.

Tích hợp liên hệ: Trong bài giảng có thể tích hợp liên hệ các phần nội

dung với nhau hoặc liên hệ với những bài khác có nội dung cần tích hợp. [5]

Để tích hợp đạt hiệu quả, giáo viên có thể áp dụng các phương pháp truyền

thụ như thuyết trình, trực quan, điều tra trắc nghiệm… giáo viên có thể sưu tầm

thêm tranh ảnh, các bài viết qua sách báo, internet để tích hợp cụ thể, phong

phú. Cụ thể như sau:

- Phương pháp thảo luận:

Đây là phương pháp dạy học tích cực, HS được bày tỏ quan điểm, ý kiến,

thái độ của mình và lắng nghe ý kiến của người khác về các vấn đề mơi trường

có liên quan đến nội dung của bài học. Qua đó giúp học sinh nhận thức, có hành

vi, thái độ đúng đắn đối với mơi trường. Có thể thảo luận cả lớp và thảo luận

nhóm.

Thảo luận cả lớp: căn cứ vào nội dung của bài học và nội dung giáo dục

bảo vệ môi trường, giáo viên chọn lựa vấn đề cần cho học sinh thảo luận cả lớp.

Ví dụ Khi dạy bài “Giữ gìn lớp học sạch, đẹp”, giáo viên có thể cho học sinh cả

lớp cùng thảo luận vần đề:

+ Giữ gìn lớp học sạch, đẹp có lợi gì?

+ Bạn đã làm gì để lớp mình sạch, đẹp?

Đây là phương pháp giáo dục có nhiều ưu điểm. Khi tổ chức thảo luận

nhóm, giáo viên cần chuẩn bị nội dung câu hỏi thảo luận, phiếu học tập và các

đồ dùng cần thiết. Khi tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm, giáo viên cần vận

dụng phương pháp hoạt động nhóm (Chia nhóm, giao nhiệm vụ cho các nhóm



9



qua hệ thống câu hỏi, bài tập trong phiếu học tập; các nhóm thảo luận; báo cáo

kết quả thảo luận nhóm; tổng kết của giáo viên).

Ví dụ: Khi dạy bài “Vệ sinh môi trường” môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3,

giáo viên có thể tổ chức cho học sinh thảo luận 3 nhóm qua các câu hỏi sau:

+ Hãy nêu cảm giác của em khi đi qua bãi rác.

+ Những sinh vật nào thường sống ở bãi rác?

+ Rác có hại như thế nào đối với sức khỏe con người?

Sau khi tổ chức cho học sinh thảo luận, giáo viên tổ chức cho đại diện của

các nhóm báo cáo, các nhóm khác bổ sung. Cuối cùng, giáo viên kết luận: Rác

thải vứt không đúng nơi làm mất vẻ đẹp của làng xóm, phố phường. Trong các

loại rác do con người thải ra, có những loại dễ thối rữa, chứa nhiều vi khuẩn gây

bệnh, chuột, ruồi, muỗi thường sống ở nơi có rác. Chúng là những sinh vật trung

gian truyền bệnh cho con người.



Học sinh đang thảo luận nhóm trong tiết học TN- XH

- Phương pháp quan sát:

Đây là phương pháp dạy học đặc trưng của môn Tự nhiên và Xã hội và

cũng là phương pháp quan trọng trong giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh

tiểu học. Qua quan sát tranh ảnh, thực tế môi trường xung quanh và sự hướng

dẫn của giáo viên, học sinh sẽ lĩnh hội những tri thức cần thiết về môi trường.

Khi hướng dẫn cho học sinh quan sát, giáo viên lưu ý thực hiện theo quy trình

(xác định mục tiêu quan sát; lựa chọn đối tượng quan sát; tổ chức và hướng dẫn

học sinh quan sát; trình bày kết quả quan sát).

10



Ví dụ: Khi dạy bài “Vệ sinh môi trường” môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3,

giáo viên có thể lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường qua việc giáo dục học

sinh biết được việc làm nào đúng, việc làm nào sai trong việc xử lí rác thải. Giáo

viên cho học sinh quan sát các hình 3,4,5,6,7 trong SGK và nêu ý kiến của mình

về các việc làm đúng, các việc làm sai trong từng hình. Sau khi giáo viên tổ

chức và hướng dẫn học sinh quan sát, học sinh có nhận thức và hành vi đúng

đắn là không nên vứt rác bừa bãi ở những nơi cơng cộng; cách xử lí rác thải:

chôn, đốt, ủ, tái chế.



Học sinh đang quan sát cây trong bài Các bộ phận của cây

Học sinh đang quan sát cây trong bài Các bộ phận của cây

- Phương pháp thực hành qua các trò chơi.

Đối với học sinh tiểu học, sử dụng các trò chơi trong dạy học môn Tự

nhiên và Xã hội và giáo dục bảo vệ mơi trường có ý nghĩa quan trọng. Trò chơi

gây hứng thú học tập cho học sinh, giúp các em lĩnh hội kiến thức về tự nhiên,

xã hội và môi trường nhẹ nhàng, tự nhiên và hiệu quả. Khi sử dụng phương pháp

trò chơi, giáo viên lưu ý (chuẩn bị trò chơi; giới thiệu tên trò chơi, hướng dẫn

cách chơi, thời gian chơi và luật chơi; cho học sinh chơi; nhận xét kết quả của

trò chơi; rút ra bài học qua trò chơi). Tuỳ nội dung của từng bài, giáo viên có thể

tổ chức trò chơi phù hợp. Giáo viên có thể tổ chức trò chơi đóng vai để giáo dục

bảo vệ mơi trường. Trò chơi đóng vai giúp học sinh thể hiện nhận thức, thái độ

của mình trong các tình huống cụ thể và thể hiện cách ứng xử phù hợp với tình

huống.

11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×