Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hiện trạng ô nhiễm môi trường

Hiện trạng ô nhiễm môi trường

Tải bản đầy đủ - 0trang

nước ta đang bị suy thối nghiêm trọng do xói mòn, rửa trơi, bạc màu, nhiễm mặn,

nhiễm phèn và ơ nhiễm đất, biến đổi khí hậu. Theo số liệu thống kê, mỗi năm nước ta

có từ 10- 20 ha đất canh tác bị lấn bởi cát di động. Tại vùng Dun hải Nam Trung Bộ,

đất đai khơ cằn, xói mòn thối hóa diễn ra trên diện rộng, đặc biệt tại Ninh Thuận,

Bình Thuận là khu vực có diện tích đất cát hoang hóa lớn nhất cả nước.

-



Ơ nhiễm đất tại Thành phố Phủ Lý:



Tại những vùng đất canh tác gần các KCN, CCN - làng nghề khác nhau

đều chưa có dấu hiệu bị chua hóa, các giá trị pH đều nằm trong khoảng giá trị giới hạn.

Trong đó, đất tại khu vực ruộng xã Bối Cầu và đất rừng Ba Sao có độ đạm thấp nhất,

đất ruộng phía Đơng Bắc KCN Đồng Văn I có hàm lượng lân là thấp nhất, đất khu vực

phía tây CCN Tây Nam (Cơng ty Ban Mai) có sự dư thừa đạm và lân lớn nhất. Nhìn

chung chất lượng quan trắc mơi trường đất trên địa bàn thành phố tại tất cả các khu

vực đều chưa bị ơ nhiễm kim loại nặng, chỉ có khu vực Kim Bảng có hàm lượng As và

khu vực Duy Tiên có hàm lượng DDT cao hơn giới hạn cho phép. Theo quy hoạch

phát triển KT-XH đến năm 2020, Hà Nam vẫn là một tỉnh nông nghiệp và cơ cấu

phát kinh tế của Thành phố Phủ Lý vẫn phụ thuộc phần lớn và phát triển nông nghiệp .

Lượng phân tươi sử dụng trong canh tác nông nghiệp sẽ giảm hẳn và lượng phân vi

sinh và phân bón hóa học sử dụng sẽ thay thế gần như hoàn toàn cho phân

tươi. Để giải quyết sự kháng thuốc của các loại sâu bệnh, định mức liều lượng

phân, hóa chất bảo vệ thực vật trên một sào Bắc Bộ sẽ có xu hướng sử dụng cao hơn.

Do đó đất sẽ nhanh chóng bị suy thối, xói mòn.

b.

Mơi trường khơng khí:

- Tình hình chung:

Ở hầu hết các đô thị nước ta đều bị ô nhiễm bụi, nhiều nơi bị ô nhiễm bụi trầm

trọng, tới mức báo động. Các khu dân cư ở cạnh đường giao thơng lớn và ở gần các

nhà máy, xí nghiệp cũng bị ô nhiễm bụi rất lớn. Nồng độ bụi trong các khu dân cư ở xa

đường giao thông, xa các cơ sở sản xuất hay trong các khu công viên cũng đạt tới xấp

xỉ trị số tiêu chuẩn cho phép. Phần lớn các thông số ô nhiễm khác (NO 2, SO2, CO và

chì) vẫn nằm trong ngưỡng cho phép của QCVN 05:2013/BTNMT và ơ nhiễm thường

mang tính cục bộ. Về ô nhiễm tiếng ồn, giá trị đo tại các trục giao thông thường cao

hơn khu dân cư và tại một số trục đạt xấp xỉ ngưỡng QCVN 26:2010/BTNMT. Tại các

5



thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đã Nẵng, … nồng độ

bụi trong khơng khí rất lớn, đặc biệt là vào giờ cao điểm với sự tập trung của các loại

phương tiện.

-



Ơ nhiễm khơng khí tại Thành phố Phủ Lý:



Các thơng số được sử dụng để đánh giá ơ nhiễm mơi trường khơng khí/

chất lượng mơi trường khơng khí là bụi tổng số (TSP), bụi PM10, Pb, CO, SO, NOx

và ô nhiễm môi trường khơng khí/ tiếng ồn là mức ồn tương đương Leq. Mơi trường

khơng khí được đánh giá dựa trên chuỗi số liệu quan trắc từ năm 2011 đến quý

II năm 2015 (số liệu của Trung tâm quan trắc Phòng TNMT Hà Nam), số liệu

quan trắc được tính trung bình năm và so sánh với QCVN 05:2013/BTNMT-Quy

chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng môi trường xung quanh và QCVN

26:2010/BTNMT-Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn.Nhìn chung, chất lượng

mơi trường khơng khí xung quanh tại thành phố còn khá tốt, đặc biệt tại khu vực

nông thôn. Tuy nhiên, ô nhiễm khơng khí do bụi, tiếng ồn đã xuất hiện cục bộ tại

các nút giao thông, KCN, khu đô thị lớn trong thời gian dài. Kết quả quan trắc chất

lượng không khí trên địa bàn tỉnh Hà Nam giai đoạn 2011÷2015 cho thấy Thành phố

Phủ Lý đã có hiện tượng ơ nhiễm bụi TSP, bụi PM10 và ô nhiễm tiếng ồn ở một số

khu vực vào một số thời điểm. Ô nhiễm khơng khí do bụi TSP và tiếng ồn

chủ yếu ở khu vực các nút giao thông như quốc lộ 1A với lượng xe lưu thơng qua

lại trung bình là 1500 – 2000 lượt/ngày, khu vực khai thác và chế biến VLXD Kim

Bảng, cụm công nghiệp Đồng Văn – Duy Tiên, khu đơ thị lớn Châu Sơn,…

c.

Ơ nhiễm mơi trường nước

- Tình hình chung:

Nước bị ơ nhiễm là do sự phú dưỡng xảy ra chủ yếu ở các khu vực nước ngọt và

các vùng ven biển, vùng biển khép kín. Do lượng muối khoáng và hàm lượng các chất

hữu cơ quá dư thừa làm cho các quần thể sinh vật trong nước khơng thể đồng hố

được. Kết quả làm cho hàm lượng ơxy trong nước giảm đột ngột, các khí độc tăng lên,

tăng độ đục của nước, gây suy thoái thủy vực. Tình trạng quy hoạch các khu đơ thị

chưa gắn liền với vấn đề xử lý chất thải, xử lý nước thải,... vẫn còn tồn đọng nên tại

các thành phố lớn, các khu công nghiệp, khu đô thị,...ô nhiễm mơi trường đang ở mức

báo động. Theo ước tính, trong tổng số 183 khu cơng nghiệp trong cả nước thì có trên

6



60% khu cơng nghiệp chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung. Tại các đô thị, chỉ có

khoảng 60% - 70% chất thải rắn được thu gom, cơ sở hạ tầng thoát nước và xử lý nước

thải, chất thải nên chưa thể đáp ứng được các yêu cầu về bảo vệ môi trường. Hầu hết

lượng nước thải bị nhiễm dầu mỡ, hóa chất tẩy rửa, hóa phẩm nhuộm,... chưa được xử

lý đều đổ thẳng ra các sông, hồ tự nhiên. Một ví dụ đã từng được dư luận quan tâm thì

trường hợp sơng Thị Vải bị ơ nhiễm bởi hóa chất thải ra từ nhà máy của cơng ty bột

ngọt Vedan suốt 14 năm liền.

-



Ơ nhiễm mơi trường nước tại Thành phố Phủ Lý:



Kết quả quan trắc trong giai đoạn 2011÷2015 chất lượng nước sơng trên địa bàn

Thành phố Phủ Lý cho thấy tất cả các sông quan trắc đều bị ô nhiễm các chất hữu cơ

và amoni (NH +), trong đó, nghiêm trọng nhất là ơ nhiễm amoni. Trong các

sơng quan trắc, thì sơng Nhuệ và sơng Duy Tiên có mức độ ơ nhiễm cao hơn so với

các sông khác, do hai sông này thường phải tiếp nhận nước thải từ Hà Nội. Chất lượng

các sông còn lại về cơ bản có thể sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần

có biện pháp xử lý phù hợp. So với giai đoạn trước, đa số các sơng đều có sự gia tăng

mức ơ nhiễm các chất hữu cơ (COD và BOD ) và dinh dưỡng (N và P), trừ sông Nhuệ

và sông Duy Tiên mức ô nhiễm các chất dinh dưỡng giảm đi so với giai đoạn 5 năm

trước đó. Trong các hồ và vực được quan trắc trên địa bàn thành phố, bao gồm

hồ chùa Bầu, hồ Tam Chúc đều đã bị ô nhiễm amoni. Về cơ bản là các hồ vực quan

trắc gần như chưa có dấu hiệu bị ơ nhiễm chất hữu cơ theo quy chuẩn nước mặt dùng

cho tưới tiêu thủy lợi. Chất lượng nước dưới đất tại đa số các khu vực trên địa bàn tỉnh

Hà Nam đều chưa đảm bảo quy chuẩn cho phép. Đáng lưu ý một số khu vực như Bồ

Đề, Hòa Hậu, Vĩnh Trụ có nồng độ As, khá cao. As là chất gây ảnh hưởng nguy hại

cấp tính cũng như mãn tính cho sức khỏe người dân. Bên cạnh đó, một số khu vực

như Bồ Đề, Bối Cầu, Vĩnh Trụ, Đồng Văn còn có nồng độ NH + trong nước

dưới đất cũng rất cao. Ô nhiễm nước ngầm bởi NH + có khả năng gây ảnh hưởng

lâu dài cho sưc khỏe của người dân nếu như bị ơ xy hóa.

d.

Đa dạng sinh học

- Tình hình chung:

Báo cáo quốc gia về ĐDSH năm 2011 (Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã chỉ ra

xu hướng suy thoái của hầu hết các HST tự nhiên, quan trọng do các hoạt động chặt

7



phá rừng, xây dựng các công trình thủy điện, khai thác quá mức tài nguyên và ni

trồng khơng đúng cách. Hệ quả của q trình suy thoái các HST tự nhiên này cũng kéo

theo sự mất sinh cảnh của loài, đặc biệt là các loài thú lớn như voi, hổ…, dẫn đến suy

giảm cả các loài. Hiện nay, phần lớn các HST nằm trong các khu bảo tồn được bảo vệ

theo quy định của pháp luật. Phần còn lại nằm ngồi khu bảo tồn, đã được chỉ ra trong

Quy hoạch tổng thể, chiếm diện tích khơng nhỏ và cũng đóng vai trò quan trọng trong

bảo tồn ĐDSH trên cả nước. Thực tế cho thấy, việc suy thối HST xảy ra cả trong khu

bảo tồn và ngồi khu bảo tồn.

-



Đa dạng sinh học tại Thành phố Phủ Lý:



Các HST bao gồm rừng tự nhiên, các hệ động thực vật đang bị khai thác quá

mức cho mục đích phát triển kinh tế-xã hội, nuôi trồng thủy sản; nhiều nơi còn

là khu vực chứa đựng nước thải kể cả sản xuất và sinh hoạt, thậm chí còn bị lấp đi

cho mục đích xây dựng đơ thị. Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp các giống

bản địa đang bị mất đi do sự du nhập các giống mới, cao sản. Sự du nhập các giống

cây trồng mới, đặc biệt là các giống lai năng suất cao đã làm suy giảm cả về diện tích

lẫn nguồn gen của các giống cây trồng bản địa và gây nên tổn thất đáng tiếc trong

nông nghiệp. Một số động thực vật đặc trưng của thành phố:

Chuối ngự Đại Hoàng (Lý Nhân):

đây là giống chuối quý. Giống này

trước đây được cung tiến lên vua nên có

tên là chuối ngự Đại Hồng.

+



Hồng khơng hạt Nhân Hậu (Lý Nhân):

hồng không hạt là đặc sản của Hà Nam

hiện đang được bảo tồn và phát triển



8



Quýt hương Văn Lý (Lý Nhân): quýt

Lý Nhân đã được xuất khẩu. Khác với

giống quýt của địa phương khác, quýt

Lý Nhân quả dẹt, vỏ giòn, mỏng vừa

phải, khi chín màu vàng ươm

Gà móng Tiên Phong (Duy Tiên): Gà móng

có thân hình chắc khoẻ, nổi tiếng về

năng suất cũng như chất lượng thịt. Khi

chế biến, thịt gà móng rất thơm ngon, dù gà

béo nhưng khơng có mỡ, da rất giòn.

Đây là giống gà thuộc loại quý hiếm, được

ghi vào sách đỏ Việt Nam



Cá trối là một lồi cá q hiếm, đặc hữu có

tại đầm Tam Chúc, nằm ở vị trí giáp

ranh giữa thị trấn Ba Sao và xã Khả

Phong, huyện Kim Bảng, TP. Phủ Lý



3.Nguyên nhân ơ nhiễm mơi trường

a. Ơ nhiễm mơi trường đất:



- Nguyên nhân chung:

Hoạt động phát triển của con người là ngun nhân chính gây nên ơ nhiễm mơi

trường đất trên phạm vi tồn cầu. Ơ nhiễm đất phát sinh trong q trình sản xuất nơng

nghiệp, khi người nơng dân sử dụng phân bón hóa học, phân hữu cơ hay thuốc trừ

sâu,..Q trình sản xuất cơng nghiệp thải ra các chất thải: chất thải xây dựng, chất thải

khí và chất thải hóa học, hữu cơ khi khơng được xử lý sẽ ngấm và tồn lưu trong đất.

Chất tải rắn tại các đô thị cũng là một nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường đất nếu

không được quản lý thu gom và kiểm sốt theo quy trình. Ơ nhiễm mơi trường đất tại

các bãi chơn lấp có thể do lượng nước rỉ rác có tải lượng chất hữu cơ cao ngấm vào

lòng đất, làm thay đổi thành phần và cấu trúc của đất.

9



- Tại Thành phố Phủ Lý: Các nguồn gây ô nhiễm, suy thối mơi trường đât bao

gồm

Ơ nhiễm từ nước thải sinh hoạt: Các chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt

ở Hà Nam là khá cao, bao gồm các hợp chất hữu cơ, các chất dinh dưỡng,

phân, rác và vi sinh cao. Hiện nay hầu hết các hộ gia đình đã có hố xí tự hoại và

bán tự hoại nhưng q trình xử lý chỉ mang tính chất sơ bộ, nên nước sau xử

lý vẫn còn chứa các chất gây ô nhiễm môi trường. Các hộ sử dụng bể tự hoại ở các

khu vực chưa có hệ thống thốt nước, nước sau bể tự hoại sẽ được cho ngấm

vào trong đất. Rác thải đô thị của Thành phố Phủ Lý chiếm khoảng trên 22.190

tấn/năm (Nguồn: Sở TNMT Hà Nam). Việc thu gom, vận chuyển xử lý rác thải sinh

hoạt hiện nay đang dần đi vào nề nếp. Tuy vậy, rác thải sau đó lại được xử lý ở một

cách sơ sài, chủ yếu được đốt hoặc chôn lấp chưa đảm bảo vệ sinh mơi trường.

Ơ nhiễm do hoạt động nông nghiệp: Trong những năm qua, lượng chất thải

phát sinh từ các hoạt động chăn nuôi đã tạo ra những vấn đề môi trường đáng

báo động, lượng chất thải chăn ni hàng năm ước tính từ 12000÷12500 tấn,

chủ yếu dùng làm phân bón, thức ăn chăn ni thủy sản... Hiện nay, hầu hết hệ

thống chuồng trại chăn nuôi trên địa bàn đều khơng có hệ thống xử lý nước thải

và đổ thải trực tiếp ra môi trường. Một số hộ chăn ni có sử dụng bể biogas

để xử lý nước thải và chất thải chăn ni nhưng q trình xử lý chưa triệt để vẫn

gây ơ nhiễm mơi trường.

Ơ nhiễm do hoạt động của các KCN, CCN, làng nghề: việc xả các khí độc SO

, NOx… từ các ống khói nhà máy, xí nghiệp dần dần sẽ lắng đọng trên đất hoặc sẽ

theo nước mưa thấm vào đất làm thay đổi pH và thành phần của đất. Nước thải từ

hoạt động của các cụm CN, làng nghề hầu như không qua hệ thống xử lý nước

thải. Một số làng nghề đã được đầu tư xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung,

nhưng hoạt động không hiệu quả do hệ thống thu gom nước thải không được đầu

tư xây dựng đồng bộ và một phần do thiếu kinh phí để vận hành thường xuyên hệ

thống xử lý nước thải.



10



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hiện trạng ô nhiễm môi trường

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×