Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC ĐÓNG GÓP TỪ NGƯỜI DÂN TRONG XÂY DỰNG CÁC CÔNG TRÌNH NTM TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC ĐÓNG GÓP TỪ NGƯỜI DÂN TRONG XÂY DỰNG CÁC CÔNG TRÌNH NTM TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP

Tải bản đầy đủ - 0trang

20



làm ảnh hưởng đến sức khỏe, sinh hoạt của cộng đồng. Các Chương trình y tế Quốc

gia, tiêm chủng mở rộng, chăm sóc sức khỏe sinh sản, … đạt nhiều kết quả tích cực;

cơng tác truyền thơng giáo dục sức khỏe, nâng cao ý thức của người dân trong việc

phòng chống dịch bệnh sốt xuất huyết, không xảy ra các bệnh nguy hiểm khác như:

Zika, cúm A/H7N9, cúm A/H5N1, Ebola, sốt rét, tiêu chảy cấp. Cơng tác phòng,

chống suy dinh dưỡng đạt kết quả tốt, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em < 5 tuổi tính theo

cân nặng và tính theo chiều cao đều giảm, tỷ lệ BHYT toàn dân đạt 79%.

Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, THCS và THPT tiếp tục được duy trì,

chất lượng giáo dục các cấp học có nhiều tiến bộ. Cơng tác quản lý các cơ sở giáo

dục theo hướng tăng cường phân cấp quản lý, tăng quyền tự chủ, tự chịu trách

nhiệm của đơn vị trong thực hiện chương trình, kế hoạch giáo dục đi đôi với việc

nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý trong nhà trường. Đến nay, có 100%

trường đã hồn thành Đề án vị trí việc làm. Về năng lực cán bộ, giáo viên đảm bảo

100% đạt chuẩn, trong đó từng cấp có trên 80% đạt trình độ trên chuẩn. Cơng tác

xây dựng trường học đạt chuẩn Quốc gia luôn được chú trọng, hiện đã có 15/28

trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 53,57%/tổng số.

Hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao được tổ chức với nhiều nội

dung, hình thức phong phú, đa dạng. Cơng tác quảng bá, xây dựng hình ảnh địa

phương luôn được quan tâm chỉ đạo thực hiện; quản lý nhà nước về lĩnh vực văn

hóa - thơng tin được tăng cường nhằm bảo đảm môi trường lành mạnh trong hoạt

động kinh doanh dịch vụ văn hoá.



2.2. Thực trạng huy động nguồn lực đóng góp từ người dân trong xây

dựng các cơng trình nơng thơn mới trên địa bàn huyện Hồng Ngự giai

đoạn 2016 - 2018

2.2.1. Nguồn vốn ngân sách của huyện Hồng Ngự giai đoạn 2016 - 2018

Hồng Ngự là một huyện biên giới nghèo của tỉnh Đồng Tháp nên ngân sách

cấp cho huyện để thực hiện các chương trình phát triển tồn diện kinh tế, xã hội có

xu hướng tăng dần qua các năm (Bảng 2.1). Năm 2016, tổng nguồn vốn được cấp

cho huyện là 134.308 triệu đồng, trong đó: vốn chương trình dự án lồng ghép là



21



72.455 triệu đồng (chiếm 54%), vốn trực tiếp XDNTM là 54.853 triệu đồng (chiếm

40,8%) và vốn từ đấu giá quyền sử dụng đất là 7.000 triệu đồng (chiếm 5,2%).

Bảng 2.1: Nguồn vốn ngân sách của huyện Hồng Ngự giai đoạn 2016 - 2018

Năm 2016

Chỉ tiêu



1. Vốn chương trình,

dự án lồng ghép

2.



Vốn



trực



tiếp



XDNTM

3. Vốn từ đấu giá

quyền sử dụng đất

Tổng số



Năm 2017



Năm 2018



Số tiền



Tỷ



Số tiền



Tỷ



Số tiền



Tỷ



(triệu



trọng



(triệu



trọng



(triệu



trọng



đồng)



(%)



đồng)



(%)



đồng)



(%)



72.455



54,0 127.283



75,1 150.561



75,6



54.853



40,8



35.317



20,8



29.596



14,8



7.000



5,2



7.000



4,1



19.075



9,6



134.308 100,00 169.600 100,00 199.232 100,00



Nguồn: Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất huyện Hồng Ngự (2019)

Năm 2017, tổng nguồn vốn được cấp cho huyện là 169.600 triệu đồng, trong

đó: vốn chương trình dự án lồng ghép là 127.283 triệu đồng (chiếm 75,1%), vốn

trực tiếp XDNTM là 35.317 triệu đồng (chiếm 20,8%) và vốn từ đấu giá quyền sử

dụng đất là 7.000 triệu đồng (chiếm 4,1%).

Năm 2018, tổng nguồn vốn được cấp cho huyện là 199.232 triệu đồng, trong

đó: vốn chương trình dự án lồng ghép là 150.561 triệu đồng (chiếm 75,6%), vốn

trực tiếp XDNTM là 29.596 triệu đồng (chiếm 14,8%) và vốn từ đấu giá quyền sử

dụng đất là 19.075 triệu đồng (chiếm 9,6%).

2.2.2. Nguồn vốn XDNTM của huyện Hồng Ngự giai đoạn 2016 - 2018

Hàng năm huyện Hồng Ngự tiếp nhận nguồn vốn cho chương trình XDNTM

từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó trọng tâm vẫn là nguồn vốn từ NSNN, vốn tín

dụng và nguồn vốn đóng góp trong cộng đồng dân cư. Nhìn chung, trong giai đoạn

2016 - 2018, nguồn vốn đầu tư cho chương trình XDNTM mới tại huyện Hồng Ngự

có xu hướng giảm dần (Bảng 2.2).



22



Bảng 2.2: Cơ cấu nguồn vốn XDNTM huyện Hồng Ngự giai đoạn 2016 - 2018



Chỉ tiêu



Năm 2016

Năm 2017

Năm 2018

Số tiền

Tỷ

Số tiền

Tỷ

Số tiền

Tỷ

(triệu

trọng

(triệu

trọng

(triệu

trọng

đồng)

(%)

đồng)

(%)

đồng)

(%)

54.853

73,8 35.317

74,3 29.596

66,4

32.648

44,0 24.903

52,4 21.806

48,9

22.205

29,9 10.414

21,9

7.790

17,5

1.850

2,5



1. Vốn NSNN

Ngân sách Trung ương

Ngân sách địa phương

2. Vốn tín dụng

3. Vốn của cộng đồng

17.574

23,7 12.197

25,7 14.985

dân cư

Tổng số

74.277 100,00 47.514 100,00 44.581

Nguồn: Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất huyện Hồng Ngự (2019)



33,6

100,00



Năm 2016, nguồn vốn NSNN cấp cho toàn huyện là 54.853 triệu đồng (chiếm

73,8% tổng nguồn vốn), đây được xem là nguồn vốn chính để thực hiện các chương

trình XDNTM. Trong đó: ngân sách từ Trung ương là 32.648 triệu đồng và ngân

sách từ địa phương là 22.205 triệu đồng. Nguồn vốn tín dụng là 1.850 triệu đồng

(chiếm tỷ trọng rất nhỏ là 2,5%) và nguồn vốn huy động trong cộng đồng dân cư là

17.574 triệu đồng (chiếm 23,7%).

Năm 2017, nguồn vốn NSNN giảm đi đáng kể chỉ còn 35.317 triệu đồng

(chiếm 74,3% tổng nguồn vốn), trong đó: ngân sách Trung ương là 24.903 triệu

đồng và ngân sách địa phương là 10.414 triệu đồng. Nguồn vốn huy động trong

cộng đồng dân cư là 12.197 triệu đồng (chiếm 25,7% tổng nguồn vốn).

Năm 2018, nguồn vốn NSNN tiếp tục giảm chỉ còn 29.596 triệu đồng (chiếm

66,4% tổng nguồn vốn), trong đó: ngân sách Trung ương là 21.806 triệu đồng và

ngân sách địa phương là 7.790 triệu đồng. Nguồn vốn huy động trong cộng đồng

dân cư tăng hơn so với năm trước là 14.985 triệu đồng (chiếm 33,6% tổng nguồn

vốn).

Căn cứ theo nhu cầu vốn dành cho xây dựng NTM tại huyện Thanh Bình thì

năm 2016 nhu cầu vốn là 94.821 triệu đồng (tỷ lệ đáp ứng là 78,33%); năm 2017

nhu cầu vốn là 78.315 triệu đồng (tỷ lệ đáp ứng là 60,67%); năm 2018 nhu cầu vốn



23



là 71.520 triệu đồng (tỷ lệ đáp ứng là 62,33%). Như vậy nhìn chung nguồn vốn

ngân sách cấp cho hoạt động xây dựng NTM hàng năm tuy chiếm tỷ trọng cao

nhưng vẫn chưa để đáp ứng nhu cầu thực tế. Chính vì thế, để đẩy nhanh tốc độ xây

dựng và phát triển các công trình NTM tại địa phương thì việc tích cực huy động

nguồn lực đóng góp của người dân là vơ cùng cần thiết.

2.2.3. Nguồn vốn đóng góp của cộng đồng dân cư giai đoạn 2016 - 2018

Nguồn vốn trong cộng đồng dân cư của huyện Hồng Ngự rất đa dạng nhưng

chủ yếu từ ba nguồn đó là vốn góp của người dân địa phương, vốn góp từ các tổ

chức nước ngồi và vốn góp từ các tổ chức từ thiện/tổ chức phi chính phủ.

Bảng 2.3: Cơ cấu nguồn vốn góp của cộng đồng dân cư giai đoạn 2016 - 2018

Năm 2016

Chỉ tiêu

1. Vốn góp của người

dân địa phương

2. Vốn góp từ các tổ

chức nước ngồi

3. Vốn góp từ các tổ

chức từ thiện, tổ chức

phi chính phủ

Tổng số



Số tiền

(triệu

đồng)



Năm 2017



Tỷ

trọng

(%)



Số tiền

(triệu

đồng)



Năm 2018



Tỷ

trọng

(%)



Số tiền

(triệu

đồng)



Tỷ

trọng

(%)



14.262



81,2



9.383



76,9



11.875



79,2



2.578



14,7



1.966



16,1



2.245



15,0



734



4,2



848



7,0



865



5,8



17.574



100,0



12.197



100,0



14.985



100,0



Nguồn: Ban quản lý Dự án và phát triển quỹ đất huyện Hồng Ngự (2019)

Năm 2016, nguồn vốn góp của người dân địa phương là 14.262 triệu đồng

(chiếm 81,2%), vốn góp từ các tổ chức nước ngồi là 2.578 triệu đồng (chiếm

14,7%) và vốn góp từ các tổ chức từ thiện/tổ chức phi chính phủ là 734 triệu đồng

(chiếm 4,2%).

Năm 2017, nguồn vốn góp của người dân địa phương là 9.383 triệu đồng

(chiếm 76,9%), vốn góp từ các tổ chức nước ngồi là 1.966 triệu đồng (chiếm

16,1%) và vốn góp từ các tổ chức từ thiện/tổ chức phi chính phủ là 848 triệu đồng

(chiếm 7,0%).



24



Năm 2018, nguồn vốn góp của người dân địa phương là 11.875 triệu đồng

(chiếm 79,2%), vốn góp từ các tổ chức nước ngồi là 2.245 triệu đồng (chiếm

15,0%) và vốn góp từ các tổ chức từ thiện/tổ chức phi chính phủ là 865 triệu đồng

(chiếm 5,8%).

2.2.4. Nội dung đóng góp của người dân xây dựng các cơng trình cơng

cộng của huyện Hồng Ngự giai đoạn 2016 - 2018

Trong thời gian qua, huyện Hồng Ngự ln tích cực vận động, tuyên truyền để

nâng cao ý thức của người dân, truyền đạt cho người dân hiểu được những lợi ích

của việc đầu tư xây dựng các cơng trình cơng ích, hạ tầng nơng thơn để phục vụ đời

sống của bà con tại địa phương. Thơng qua đó, chính quyền địa phương kêu gọi sự

quyên góp, ủng hộ của người dân để tồn huyện nhanh chóng đẩy mạnh tốc độ thực

hiện chương trình XDNTM. Bảng 3.4 thể hiện chi tiết những nội dung đóng góp của

người dân huyện Hồng Ngự trong thời gian qua như sau:

Bảng 2.4: Nội dung đóng góp của người dân XDNTM tại huyện Hồng Ngự giai

đoạn 2016 - 2018

Năm 2016

Chỉ tiêu



Số tiền

(triệu

đồng)



Năm 2017



Tỷ

trọng

(%)



Số tiền

(triệu

đồng)



Năm 2018



Tỷ

trọng

(%)



Số tiền

(triệu

đồng)



Tỷ

trọng

(%)



1. Cơng lao động



3.233



18,4



1.195



9,8



2.796



18,7



3. Máy móc, thiết bị



1.395



7,9



896



7,3



1.194



8,0



3. Hiến đất,…



12.946



73,7



10.106



82,9



10.995



73,4



Tổng số



17.574



100,0



12.197



100,0



14.985



100,0



Nguồn: Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất huyện Hồng Ngự (2019)

Năm 2016, công lao động được quy ra tiền là 3.233 triệu đồng (chiếm 18,4%),

máy móc, thiết bị quy ra tiền là 1.395 triệu đồng (chiếm 7,9%) và hiến đất là 12.946

triệu đồng (chiếm 73,7%). Năm 2017, công lao động là 1.195 triệu đồng (chiếm

9,8%), máy móc, thiết bị là 896 triệu đồng (chiếm 7,3%) và hiến đất là 10.106 triệu

đồng (chiếm 82,9%). Năm 2018, công lao động là 2.796 triệu đồng (chiếm 18,7%),

máy móc, thiết bị là 1.194 triệu đồng (chiếm 8,0%) và hiến đất là 10.995 triệu đồng



25



(chiếm 73,4%).

Được sự vận động tuyên truyền của địa phương nên một số hộ dân cũng rất

sẵn lòng hiến đất để xây dựng các cơng trình cơng cộng cho địa phương như hiến

đất xây trường học, trạm xá y tế, xây chợ, các bến tàu, xe hay hiến đất để mở rộng

các tuyến đường giao thông nông thơn liên xã. Hình 2.1 cho thấy trong năm 2016

người dân huyện Hồng Ngự hiến được 64.730 m2 đất, năm 2017 hiến được 41.027

m2 và năm 2018 hiến được 41.537 m2.



Hình 2.1: Diện tích đất người dân huyện Hồng Ngự hiến tặng XDNTM

Nguồn: Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất huyện Hồng Ngự (2019)

2.2.5. Bài học kinh nghiệm rút ra trong q trình huy động đóng góp của

người dân XDNTM tại huyện Hồng Ngự giai đoạn 2016 - 2018

Thứ nhất, phải coi việc xây dựng NTM là nhiệm vụ của chính quyền địa

phương và của tồn dân, trong đó cấp ủy, chính quyền đóng vai trò lãnh đạo, chỉ

đạo, điều hành quá trình thực hiện. Chú trọng đổi mới công tác lãnh đạo của cấp

ủy, quản lý điều hành của chính quyền, phương pháp vận động quần chúng và các

đồn thể; trong đó phát huy vai trò tập thể, đề cao trách nhiệm của cá nhân trong

quản lý, điều hành.

Thứ hai, tổ chức tốt phương châm phát huy vai trò chủ động của cộng đồng

dân cư, Nhà nước đóng vai trò hướng dẫn và hỗ trợ, các hoạt động do chính người

dân ở thơn, xã dân chủ bàn bạc, quyết định.



26



Thứ ba, xây dựng NTM phải trên cơ sở lồng ghép các chương trình MTQG,

chương trình hỗ trợ có mục tiêu; các chương trình, dự án đang triển khai ở nơng

thơn và huy động đóng góp cơng sức của nhân dân.

Thứ tư, xây dựng NTM được gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng

năm, gắn với q trình cơng nghiệp hố, hiện đại hố trên cơ sở đảm bảo quốc

phòng và an ninh của địa phương.

Thứ năm, để thực hiện thành công xây dựng NTM, công tác tuyên truyền, vận

động, nâng cao nhận thức cho người dân phải được đặt lên hàng đầu. Cùng với đó,

cần phát huy vai trò tập thể, đề cao trách nhiệm của cá nhân trong quản lý, điều

hành.

Thứ sáu, khi thực hiện, các xã phải sắp xếp, lựa chọn thực hiện các tiêu chí

phù hợp với tình hình địa phương, chọn những tiêu chí đáp ứng nguyện vọng của

người dân để thực hiện trước; phát huy quyền làm chủ của nhân dân theo phương

châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân hưởng lợi. Đội ngũ cán bộ,

Đảng viên phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, kịp thời giải quyết những khó khăn,

vướng mắc cho người dân…



2.3. Kết quả khảo sát về huy động nguồn lực đóng góp của người dân

huyện Hồng Ngự trong xây dựng cơng trình NTM

Để nắm rõ được tình hình huy động nguồn lực đóng góp của người dân tại

huyện Hồng Ngự, nghiên cứu tiến hành khảo sát ý kiến của người dân bằng phương

pháp chọn mẫu thuận tiện. Người dân được chọn khảo sát phải có thời gian sinh

sống, làm việc từ 10 năm trở lên, am hiểu về quá trình XDNTM tại nơi sinh sống là

các xã thuộc huyện Hồng Ngự.

Tổng số phiếu khảo sát phát ra là 400, thu về 378 phiếu. Sau khi sàng lọc, loại

bỏ các phiếu khơng hợp lệ do thiếu thơng tin, còn lại 367 phiếu đủ thông tin.

2.3.1. Mức độ hiểu biết của người dân về chương trình XDNTM

Khi được hỏi về mức độ hiểu biết đối với chương trình vận động XDNTM thì

đa số người dân chỉ hiểu biết ở mức cơ bản (chiếm 69,5%) nghĩa là chỉ dừng lại ở

mức biết được địa phương sắp thực hiện xây dựng mới, sửa chữa nâng cấp một số



27



cơng trình hạ tầng nơng thơn trọng điểm nhưng chưa nắm rõ được chi tiết kế hoạch

đầu tư các cơng trình, hạng mục xây dựng trong năm, tình hình nguồn vốn được

phân bổ như thế nào hay thời điểm nào sẽ khởi cơng thì hồn tồn khơng biết rõ

được.



Hình 2.2: Mức độ hiểu biết của người dân huyện Hồng Ngự về XDNTM

Nguồn: Kết quả khảo sát (2019)

Tỷ lệ người dân chưa từng biết về chương trình này là 21,3%. Số người hiểu

biết sâu sắc là 9,3% chiếm tỷ lệ rất nhỏ và hầu hết là những hộ sinh sống ở các xã,

khu vực trung tâm có điều kiện tiếp cận nguồn thơng tin nhanh chóng hơn. Mặt

khác, đây là những hộ có trình độ kiến thức, có tham gia các tổ chức đoàn thể tại địa

phương nên dễ dàng nắm bắt được thơng tin chính xác (UBND huyện Hồng Ngự,

2018). Điều này cho thấy, khả năng tuyên truyền vận động người dân của huyện

Hồng Ngự vẫn còn nhiều hạn chế, mức độ hiểu biết của người dân về chương trình

mục tiêu quốc gia XDNTM chưa cao.

2.3.2. Mức độ sẵn sàng đóng góp của người dân đối với chương trình

XDNTM

Cũng chính vì mức độ am hiểu về chương trình XDNTM của người dân chưa

nhiều và chưa thật sự sâu sắc nên người dân vẫn chưa tin tưởng, chưa thấy được lợi

ích lớn lao mà chương trình này mang đến nên tâm lý vẫn còn dè dặt khi được vận

động đóng góp để thực hiện XDNTM.



28



Hình 2.3 cho thấy số người sẵn sàng đóng góp chỉ có 30,5% trong khi số

người khơng sẵn sàng đóng góp là 69,5%.



Hình 2.3: Mức độ sẵn sàng đóng góp XDNMT của người dân huyện Hồng Ngự

Nguồn: Kết quả khảo sát (2019)

2.3.3. Các lĩnh vực người dân sẵn lòng đóng góp để XDNTM

Khi hỏi người dân về lĩnh vực nào mà họ sẵn lòng đóng góp để thực hiện

chương trình XDNTM thì có 137 người chọn lĩnh vực giao thông (chiếm 37,3%),

lĩnh vực y tế có 84 người lựa chọn đóng góp (chiếm 22,9%), lĩnh vực kinh tế có 73

người lựa chọn đóng góp (chiếm 19,9%), có 47 người chọn lĩnh vực giáo dục để

đóng góp (chiếm 12,8%) và lĩnh vực khác có 26 người lựa chọn (chiếm 7,1%).

Bảng 2.5: Các lĩnh vực mà người dân sẵn lòng đóng góp để thực hiện chương

trình XDNTM tại huyện Hồng Ngự

Lĩnh vực



STT

1



Giao thông



2



Số người



Tỷ lệ (%)



137



37,3



Y tế



84



22,9



3



Giáo dục



47



12,8



4



Kinh tế



73



19,9



5



Khác



26



7,1



367



100,0



Tổng cộng

Nguồn: Kết quả khảo sát (2019)



Theo ý kiến của người dân thì hạ tầng nơng thơn vẫn còn nhiều hạn chế, các

tuyến đường giao thơng nơng thơn vẫn chưa được đầu tư mở rộng hay nâng cấp nên

việc đi lại rất khó khăn, đặc biệt là mùa mưa lũ thì tình trạng ngập lụt thường xuyên



29



xảy ra. Nhiều khu vực vùng ven của huyện vẫn chưa có điện thắp sáng hay chưa có

nước máy để sử dụng nên chất lượng cuộc sống của người dân còn thấp.

Nhìn chung, vấn đề cấp bách là cần đầu tư xây dựng các cơng trình hạ tầng

nơng thơn để đáp ứng nhu cầu cuộc sống của người dân, tạo điều kiện thuận lợi cho

lưu thơng từ đó mới có thể dần dần thay đổi bộ mặt của huyện.

2.3.4. Những cơng trình mà người dân mong muốn được xây dựng, nâng

cấp tại địa phương

Căn cứ vào tình hình trước mắt thì các cơng trình đường giao thơng nơng thơn

được người dân đặc biệt quan tâm mong muốn được xây dựng, mở rộng và nâng

cấp các tuyến đường liên xã, huyện để việc đi lại được dễ dàng. Từ đó, cũng giúp

cho việc giao thương buôn bán, học tập, làm việc cũng được dễ dàng hơn.

Bảng 2.6: Các cơng trình mà người dân mong muốn được xây dựng, nâng cấp

tại địa phương

STT



Lĩnh vực



1

2

3

4

5

6

7

8



Đường giao thơng nơng thơn

Hệ thống điện

Cơng trình đê bao phục vụ nông nghiệp

Bệnh viện, trường học, các điểm giao dịch ngân hàng

Khu vui chơi giải trí

Chợ, trung tâm thương mại

Bến tàu, bến xe

Khác



Tổng cộng

Nguồn: Kết quả khảo sát (2019)



Số

người

95

54

71

46

24

39

27

11



Tỷ lệ

(%)

25,9

14,7

19,3

12,5

6,5

10,6

7,4

3,0



367



100,0



Bảng 2.6 cho thấy, có 95 người chọn đóng góp cho lĩnh vực xây dựng đường

giao thông nông thôn (chiếm 25,9%); 71 người mong muốn xây dựng cơng trình đê

bao phục vụ nông nghiệp (chiếm 19,3%); 54 người mong muốn xây dựng hệ thống

điện (chiếm 14,7%); 46 người chọn xây dựng bệnh viện, trường học, các điểm giao

dịch ngân hàng (chiếm 12,5%); 39 người mong muốn xây dựng chợ, trung tâm

thương mại (chiếm 10,6%); 27 người mong muốn xây dựng bến tàu, bến xe (chiếm



30



7,4%); 24 người mong muốn xây dựng khu vui chơi giải trí (chiếm 6,5%) và 11 ý

kiến xây dựng các cơng trình khác (chiếm 3,0%).

2.3.5. Đánh giá của người dân về lợi ích của các cơng trình XDNTM

Kết quả khảo sát người dân về lợi ích của các cơng trình XDNTM thì hầu hết

người dân cho là chương trình XDNTM đem lại nhiều lợi ích chiếm 63,2% và có

36,8% số người cho là khơng có lợi ích. Như vậy, vẫn còn một tỷ lệ khá lớn người

dân chưa thấy được lợi ích của các cơng trình XDNMT.



Hình. 2.4: Đánh giá của người dân về lợi ích của chương trình XDNTM

Nguồn: Kết quả khảo sát (2019)

Từ kết quả này cho thấy hạn chế của công tác truyền thông về lợi ích mà

chương trình XDNTM mang lại cho người dân. Muốn người dân thấy được lợi ích

của chương trình XDNTM thì đòi hỏi cơng tác tun truyền và vận động của các

cán bộ quản lý chuyên trách tại địa phương phải tích cực và sâu sát hơn nữa. Các xã

phải thường xuyên tổ chức các buổi giao lưu tiếp xúc với người dân để nắm được

tâm tư, nguyện vọng của người dân đồng thời truyền đạt chi tiết, cụ thể những nội

dung của chương trình XDNTM để người dân hiểu rõ thì mới thấy được lợi ích từ

chương trình.

2.3.6. Sự tham gia của người dân trong việc lập kế hoạch xây dựng các

cơng trình NTM

Hình 2.5 thể hiện sự tham gia của người dân trong việc lập kế hoạch xây dựng

các cơng trình XDNTM tại huyện Hồng Ngự. Yếu tố xác định hạng mục thi công



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC ĐÓNG GÓP TỪ NGƯỜI DÂN TRONG XÂY DỰNG CÁC CÔNG TRÌNH NTM TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×