Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN VỀ HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TRONG CHƯƠNG TRÌNH XDNTM

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN VỀ HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TRONG CHƯƠNG TRÌNH XDNTM

Tải bản đầy đủ - 0trang

7



1.1.1.2. Phát triển nông thôn

Phát triển nông thôn là phát triển kinh tế xã hội cho người dân nông thôn

thông qua việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của địa phương bao gồm nhân

lực, vật lực và tài lực.”Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện các

điều kiện sống kinh tế và xã hội của một nhóm người cụ thể - người nghèo ở vùng

nơng thơn. Nó giúp những người nghèo nhất trong những người dân sống ở các

vùng nơng thơn được hưởng lợi ích từ sự phát triển (Dufhues và Halle, 2007).”

“Phát triển nông thơn là một q trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về

kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của

người dân nơng thơn. Q trình này, trước hết là do chính người dân nơng thơn và

có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác” (Mai Thanh Cúc và cộng

sự, 2005).

Theo Nguyễn Quế Hương (2013) thì “phát triển nơng thơn là một q trình cải

thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hóa và mơi trường, nhằm

nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nơng thơn và có sự hỗ trợ tích cực

của Nhà nước và các tổ chức khác.”

1.1.2. NTM và XDNTM

1.1.2.1. NTM

NTM là khu vực nông thơn có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội từng bước hiện

đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với

phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy

hoạch; xã hội nông thơn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường

sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần

của người dân được nâng cao.

NTM là tổng thể những đặc điểm,”cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nơng

thơn theo tiêu chí mới, đáp ứng u cầu đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện

nay, là kiểu nông thôn được xây dựng tiên tiến về mọi mặt so với mơ hình nơng

thơn cũ (Nguyễn Quế Hương, 2013). Xã NTM là xã đáp ứng đầy đủ các tiêu chí

trên các lĩnh vực là quy hoạch, hạ tầng kinh tế xã hội, kinh tế và tổ chức sản xuất,



8



văn hóa - xã hội - mơi trường, hệ thống chính trị được quy định tại các văn bản pháp

lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Huyện NTM là huyện có tỷ lệ số

xã trong huyện đạt chuẩn NTM và có các tiêu chí về quy hoạch, giao thơng, thủy

lợi, điện, y tế, văn hóa, giáo dục, sản xuất, môi trường, an ninh, trật tự xã hội và đạt

chuẩn theo quy định tại các văn bản pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền

ban hành (Chính phủ, 2009).”

Như vậy, có thể hiểu NTM là nơng thơn có hạ tầng kinh tế xã hội hiện đại, an

ninh, văn minh; Sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; Đời

sống vật chất, tinh thần của người dân ngày được nâng cao; Bản sắc văn hóa dân tộc

được giữ gìn và phát huy.

1.1.2.2. XDNTM

XDNTM”là q trình xây dựng kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường

nông thôn nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống người dân nơng thơn, phát triển hài

hòa, rút ngắn khoảng cách giữa thành thị với nơng thơn. Q trình xây dựng với vai

trò chủ thể là người dân nơng thơn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ

chức khác (Hoàng Vũ Quang, 2014).”

XDNTM”là một chính sách về một mơ hình phát triển cả về nông nghiệp và

nông thôn, bao quát nhiều lĩnh vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng

thời giải quyết các mối quan hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự

tính tốn, cân đối mang tính tổng thể (Đặng Kim Sơn, 2008).”

XDNTM là cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thơn đồng lòng

xây dựng ấp, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất tồn

diện (nơng nghiệp, cơng nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hố, môi trường và an

ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân

được nâng cao. XDNTM giúp cho nơng dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ,

đồn kết giúp đỡ nhau cùng phát triển, dân chủ, văn minh.

Chương trình XDNTM là một chương trình mục tiêu quốc gia được thực hiện

ở các vùng nông thôn nhằm xây dựng và phát triển nơng thơn theo hướng văn minh,

hiện đại.



9



“Chương trình XDNTM bao gồm các nội dung chính sau đây: (1) Xây dựng và

hoàn thiện quy hoạch phát triển KTXH tại các địa phương XDNTM; (2) Phát triển

kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở các địa phương để tạo điều kiện thuận lợi cho phát

triển kinh tế, xã hội, nâng cao thu nhập, giảm nghèo và an sinh xã hội; (3) Phát triển

giáo dục đào tạo, y tế, xây dựng đời sống văn hóa văn minh, lành mạnh và hiện đại

cho các vùng nông thôn; (4) Nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy chính

quyền, các tổ chức đồn thể chính trị - xã hội trên địa bàn, giữ vững an ninh, trật tự

xã hội nông thôn,...; (5) Trong XDNTM, người dân tham gia từ khâu quy hoạch,

đồng thời góp tiền, góp sức, tự chỉnh trang nhà cửa, cơng trình vệ sinh gia đinh,

giám sát quá trình thực hiện chương trình,... đồng thời, cũng là người hưởng lợi từ

thành quả của Chương trình và người dân là chủ thể XDNTM.”



1.2. Nguồn lực tài chính thực hiện chương trình XDNTM

1.2.1. Khái niệm về nguồn lực tài chính

Các nguồn lực cho phát triển kinh tế xã hội của địa phương gồm nguồn nhân

lực, vật lực và tài lực. Mỗi nguồn lực đều có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong

việc phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Trong các nguồn nêu trên, nguồn lực

tài chính là nguồn lực quan trọng và có tính quyết định cho việc thực hiện mục tiêu

phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

“Nguồn lực tài chính được hiểu là các nguồn tiền tệ (hoặc tài sản có thể nhanh

chóng chuyển thành tiền) trong nền kinh tế có thể huy động để hình thành nên các

quỹ tiền tệ phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội (Trần Thị Tố Linh, 2013).”

“Nguồn lực tài chính là tổng thể các loại như: nguồn lực từ NSNN, nguồn lực từ

các doanh nghiệp, nguồn lực từ các tổ chức tín dụng và nguồn lực từ người dân có

thể huy động cho sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia hay địa phương.”

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, nguồn lực tài chính được đề cập đến

ở đây bao gồm tiền, các nguồn vật lực và các tài sản khác được quy đổi thành tiền

để thực hiện chương trình XDNTM.

1.2.2. Phân loại nguồn lực tài chính

“Nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế xã hội rất đa dạng, có thể đến từ



10



nhiều chủ thể, nhiều nguồn với qui mô và phạm vi khác nhau như từ các cá nhân,

các doanh nghiệp, các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức

xã hội, nghề nghiệp, các tổ chức nước ngồi ở Việt Nam,…Tùy mục đích phân tích

mà có thể phân loại các nguồn lực tài chính thành các loại khác nhau.”

Có thể chia nguồn lực tài chính thành nguồn lực tài chính trong nước và nguồn

lực tài chính nước ngồi. Nguồn lực tài chính từ trong nước bao gồm nguồn hỗ trợ

từ ngân sách Trung ương, nguồn đối ứng trong nước, nguồn vốn lồng ghép trong

các chương trình phát triển kinh tế (như các chương trình xóa đói giảm nghèo, thủy

lợi nơng nghiệp, nước sạch nơng thơn, phát triển kinh tế vùng…), nguồn ngân sách

địa phương và nguồn đóng góp của các tổ chức kinh tế, nhân dân địa phương và cả

nước. Nguồn lực tài chính từ nước ngoài gồm:”đầu tư của các nhà tài trợ như Ngân

hàng thế giới, các nhà tài trợ song phương, các tổ chức cơ quan của Liên Hiệp Quốc

để thực hiện các chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng nơng thơn, các chương trình

giảm đói nghèo…”

Trên góc độ vĩ mơ, nguồn lực tài chính có thể được chia theo chủ thể tham gia

bao gồm: vốn nhà nước, vốn doanh nghiệp và vốn của dân cư.

“Nguồn vốn nhà nước: theo phân loại của thống kê nói chung, nguồn vốn này

bao gồm vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước (NSNN), các khoản vay, vốn của doanh

nghiệp nhà nước và các nguồn vốn khác.

Nguồn vốn của doanh nghiệp: bao gồm phần tích lũy, phần vốn vay của các

doanh nghiệp dân doanh và các tổ hợp tác ở trong và ngoài nước. Các doanh nghiệp

đầu tư trực tiếp nước ngồi thường ít tập trung vốn vào phát triển nông thôn.

Nguồn vốn của dân cư: chủ yếu là hình thành từ phần tiết kiệm và tích lũy của

dân cư. Đặc điểm của nguồn vốn này ở khu vực nơng thơn là có tính nhỏ lẻ, tỷ lệ

huy động thấp (Nguyễn Hoàng Hà, 2014).”

1.2.3. Nguồn lực tài chính cho thực hiện chương trình XDNTM

Nguồn lực huy động để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng

NTM được quy định tại Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng

Chính phủ bao gồm: (i) Ngân sách chiếm tỷ trọng lớn nhất (khoảng 40%); (ii) Vốn



11



tín dụng (khoảng 30%); (iii) Vốn từ các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác

(khoảng 20%); (iv) Huy động đóng góp của cộng đồng dân cư (khoảng 10%).

Nguồn lực tài chính cho XDNTM hình thành từ các nguồn chính sau đây:

Nguồn từ ngân sách (Trung ương và địa phương), bao gồm: Vốn ngân sách nhà

nước bố trí trực tiếp cho Chương trình XDNTM; Vốn lồng ghép từ các chương trình

mục tiêu quốc gia và các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn;

Nguồn vốn trái phiếu Chính phủ (nếu có). Nguồn vốn từ NSNN để thực hiện

chương trình XD NTM thường được sử dụng như là nguồn vốn mồi để thu hút

nguồn từ các nhà đầu tư khác.

Nguồn từ tín dụng, bao gồm: Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và

vốn tín dụng thương mại được sử dụng cho các hoạt động trong Chương trình

XDNTM. Mục đích là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ổn định vì vậy nguồn này

thường có nhiều ưu đãi cho người vay.

Nguồn từ doanh nghiệp: gồm các khoản hỗ trợ trực tiếp bằng tiền, bằng hiện

vật cho các địa phương để thực hiện các hoạt động XDNTM

Các khoản đóng góp tự nguyện của nhân dân địa phương: Người dân đóng góp

cho chương trình với tư cách là chủ thể của chương trình, vừa là người tổ chức thực

hiện vừa là người thụ hưởng kết quả của Chương trình. Họ có thể tự đầu tư bằng

cách nâng cấp nhà cửa,… hoặc tự nguyện đóng góp bằng nhiều hình thức cho

Chương trình XDNTM như: tiền, góp cơng, hiến đất,…”

Huy động nguồn lực thực hiện chương trình XDNTM phải tuân thủ các

nguyên tắc sau: Huy động tối đa nguồn lực tại địa phương (tại chỗ); Sử dụng nguồn

vốn ngân sách trung ương từ các chương trình, dự án hiện có thơng qua cơ chế lồng

ghép trên địa bàn; Dựa vào nội lực là chính, nhà nước chỉ hỗ trợ một phần; UBND

tỉnh có trách nhiệm xây dựng cơ chế huy động các nguồn vốn của cộng đồng, người

dân, tổ chức, doanh nghiệp (Chính phủ, 2010).



1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến huy”động nguồn lực thực hiện Chương

trình XDNTM



12



1.3.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội ở mỗi địa phương

Vị trí địa lý, địa hình, tài ngun thiên nhiên có ảnh hưởng lớn đến sự phát

triển của mỗi địa phương, đến việc thu hút vốn đầu tư và phát triển KTXH. Những

địa bàn có vị trí thuận lợi, gần các khu đô thị, khu công nghiệp, khu vực có nhiều

nguồn tài nguyên,... dễ thu hút vốn đầu tư hơn các khu vực khác.

Ngoài ra, các điều kiện về kinh tế xã hội như: cơ sở hạ tầng, thu nhập của

người dân, trình độ của lao động địa phương càng thuận lợi, phát triển cao thì càng

thuận lợi cho việc thu hút vốn đầu tư vào phát triển kinh tế xã hội.

1.3.2. Các chính sách hỗ trợ của Nhà nước phát triển kinh tế, thu hút đầu

tư vào nông nghiệp, nơng thơn

Các chính sách kinh tế bao gồm cả các chính sách của Trung ương và của địa

phương. Các chính sách kinh tế là nhóm nhân tố tác động lớn nhất đến kết quả huy

động vốn đầu tư. Các chính sách này nhằm thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước

đầu tư ở các địa phương. Nguồn vốn đầu tư này vừa tạo nguồn thu cho các nhà đầu

tư, tạo nguồn thu cho nhà nước thông qua thuế. Hơn nữa, là vấn đề tạo việc làm cho

lao động địa phương, hỗ trợ các hoạt động phát triển kinh tế ở các địa phương thông

qua việc đầu tư hạ tầng cơ sở,…

Cơ chế chính sách của nhà nước: Đây là nhân tố“thuộc về mơi trường pháp lý,

có ảnh hưởng trực tiếp đến việc huy động các nguồn lực cho XDNTM thơng qua tất

cả các kênh huy động, trong đó đặc biệt quan trọng là kênh đầu tư của các doanh

nghiệp và của cá nhân vào phát triển sản xuất kinh doanh trên địa bàn nơng thơn.

Hệ thống chính sách hợp lý sẽ có tác động thu hút mạnh mẽ sự đầu tư và đóng

góp các nguồn lực, trong đó có nguồn lực tài chính từ các”nhà đầu tư cho quá trình

thực hiện chương trình XDNTM.

1.3.3. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của địa phương

Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của các địa phương ảnh hưởng trực tiếp

đến kêt quả huy động các nguồn lực thực hiện chương trình. Ở những địa phương

có điều kiện phát triển mọi mặt nó làm giảm số lượng vốn cần hồn thành các tiêu

chí của chương trình vì các tiêu chí đánh giá gần như đã đạt. Những xã nghèo, kết



13



cấu hạ tầng nơng thơn yếu kém thì chính quyền địa phương có nhu cầu phát triển

kinh tế xã hội càng lớn, đòi hỏi sự đóng góp của người dân nông thôn nhiều hơn.

Các chiến lược phát triển được định hướng dài hạn, ổn định là điều kiện thuận lợi

cho các nhà đầu tư yên tâm bỏ vốn đầu tư.

Ngoài ra, cũng cần tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, có các

chính sách khuyến khích đầu tư,...mới nâng cao được huy động vốn để phát triển

kinh tế xã hội.

1.3.4. Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý địa phương

Lãnh đạo chương trình ở các cấp tại địa phương giữ vai trò quan trọng trong

định hướng mục tiêu, kế hoạch hành động và xây dựng lòng tin của cộng đồng về

sự thành cơng của chương trình cũng như đảm bảo sự hỗ trợ về kỹ thuật và tài chính

để thực hiện. Đối với người lãnh đạo có trách nhiệm, hiểu biết, có trình độ, tạo được

lòng tin với nhân dân thì sẽ vận động được người dân tham gia nhiệt tình trong quá

trình thực hiện chương trình.

Hơn nữa, cán bộ địa phương là những người gần dân nhất, hiểu được tâm tư

nguyện vọng của người dân sẽ đưa ra được những hướng đầu tư đúng đắn và hợp

lòng dân. Đội ngũ cán bộ phải được đào tạo sâu về chun mơn, phải nghiên cứu,

đầu tư sao cho có hiệu quả cao nhất, tránh thất thốt, lãng phí vốn đầu tư. Nếu năng

lực chuyên môn thấp, công tác quản lý kém thì sẽ dẫn đến đầu tư khơng hiệu quả.”

1.3.5. Nhận thức về chương trình XDNTM

Đây là nhân tố”ảnh hưởng lớn đến kết quả huy động nguồn lực tài chính cho

chương trình XD NTM ở các địa phương. Việc nhận thức đúng và đủ về nội dung

của chương trình sẽ làm cho quá trình xây dựng được thực hiện bài bản, chủ động

trong quá trình thực hiện các nội dung đặc biệt là công tác huy động và sử dụng

nguồn lực phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương.

Công tác tuyên truyền về XDNTM là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong

việc tổ chức thực hiện chương trình, là nhiệm vụ của các cấp, các ngành từ Trung

ương đến cơ sở. Chất lượng của công tác tuyên truyền quyết định đến nhận thức của

người dân về chương trình và mức độ sẵn lòng tham gia đóng góp. Khi người dân



14



hiểu về vai trò của Chương trình XDNTM, hiểu rõ nội dung, phương pháp, cách

làm, nghĩa vụ và trách nhiệm trong việc XDNTM người dân sẽ chủ động trong việc

tham gia thực hiện chương trình, từng bước xóa bỏ tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào

Nhà nước trong quá trình thực hiện.”

Sự tham gia của người dân: XDNTM dựa vào việc huy động cộng đồng để tận

dụng các nguồn lực địa phương được coi là một hình thức quan trọng để phát triển

các địa phương vì cộng đồng hiểu rõ nhất về những khó khăn mà họ phải đối mặt để

tìm ra những giải pháp cần thiết để giải quyết những khó khăn này.

Sự sẵn lòng tham gia đóng góp của người dân cho chương trình XD NTM chịu

ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: khả năng tài chính, kết quả cơng tác tun truyền

vận động, tính cơng khai, minh bạch trong q trình huy động...”

1.3.6. Lợi ích mà người đóng góp cho chương trình XDNTM nhận được

Khi tham gia“đóng góp cho chương trình thì sẽ có lợi ích gì? Là câu hỏi mà

các đối tượng tham gia đóng góp sẽ đặt ra. Vì vậy, khi thực hiện các chính sách huy

động nguồn lực để thực hiện chương trình, các địa phương cũng cần xác định các

lợi ích mà các đối tượng tham gia đóng góp được nhận. Chẳng hạn, để huy động

nguồn từ các doanh nghiệp thì địa phương cần có các chính sách ưu đãi cho doanh

nghiệp về thuế, về các thủ tục,”về mở rộng sản xuất,...

“Đối với nguồn huy động từ người dân, thì người dân là chủ thể của chương

trình, là người hưởng thụ thành quả chương trình XDNTM. Tuy nhiên, để người

dân tham gia một cách tự nguyện thì cần phải làm tốt cơng tác tun truyền để

người dân hiểu những lợi ích mà họ sẽ được hưởng khi thực hiện chương trình này,

vì trình dộ dân trí ở mỗi địa phương khác nhau nên cần có các hình thức tun

truyền phù hợp.”



1.4. Tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài

Đến nay đã có nhiều cơng trình nghiên cứu về huy động nguồn lực tài chính

cho phát triển nơng thơn. Có thể kể tên một số nghiên cứu tiêu biểu sau:

“Dakley và cộng sự (1991) nghiên cứu thực tiễn trong phát triển nông thôn, đã

khẳng định rằng phát triển nông thôn phải theo hướng bền vững trên cơ sở kết hợp



15



hài hoà giữa sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên với nguồn lực con người,

phải tạo cơ chế để người dân nơng thơn tham gia vào q trình triển khai, kiểm tra,

giám sát các chương trình, dự án xây dựng và phát triển nông thôn.

Nguyễn Sinh Cúc (2013), cho rằng chương trình XDNTM đã huy động được

nguồn lực tài chính rất lớn cho xây dựng, hồn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng nông

thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa... Tuy nhiên, các những trở ngại chủ

yếu mà chương trình XDNTM gặp phải là nguồn lực từ Nhà nước có hạn, nhiều địa

phương có tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào NSNN nên tiến độ triển khai các dự án phát

triển nông thôn rất chậm.

Nguyễn Tiến Định (2010), khi nghiên cứu về cơ chế chính sách huy động nội

lực từ người dân vùng núi phía Bắc tham gia XDNTM đã chỉ ra các khía cạnh của

việc người dân tham gia vào XDNTM bao gồm: Được tham gia vào các cuộc họp

dự án, được tham gia vào q trình ra quyết định, tham gia thi cơng thực hiện (tham

gia bằng ngày công lao động trực tiếp hoặc gián tiếp), được tham gia vào giám sát

dự án, được tham gia quản lý bảo dưỡng cơng trình. Sự tham gia của người dân có

tác động tích cực đến chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn lực xây dựng cơng

trình hạ tầng trên các khía cạnh: giảm chi phí đầu tư xây dựng cơng trình, giảm chi

phí đầu tư ngân sách, góp phần đảm bảo chất lượng cơng trình và phù hợp với nhu

cầu sử dụng của người dân.

Đoàn Thị Hân (2012), cho rằng các địa phương có nhiều điều kiện thuận lợi

cho phát triển kinh tế xã hội thì việc huy động sự đóng góp của các đơn vị, cá nhân

trên địa bàn đạt kết quả khá tốt; ngược lại, ở những địa phương kinh tế kém phát

triển thì vấn đề huy động sự đóng góp các nguồn lực cho XDNTM là hết sức khó

khăn, vấn đề đầu tư cho chương trình XD NTM chủ yếu phải trơng chờ vào nguồn

đầu tư từ NSNN.

Nguyễn Quế Hương (2013) cho rằng XDNTM là chương trình tiếp cận có sự

tham gia, lấy người dân làm trung tâm, người dân là chủ thể. Do vậy, nâng cao vai

trò của người dân, thu hút sự tham gia đóng góp của người dân vào chương trình có

ý nghĩa quyết định sự thành cơng của chương trình. Theo Nguyễn Quế Hương



16



(2013), sự sẵn lòng tham gia đóng góp của người dân chịu ảnh hưởng của hai nhóm

nhân tố chính là: (1) Mức độ người dân được tham gia ra quyết định, trực tiếp tham

gia vào các hoạt động cụ thể của chương trình và (2) Chất lượng của công tác tuyên

truyền, thuyết phục, vận động người dân.

Nguyễn Thành Lợi (2012) nghiên cứu về XDTNM ở Nhật Bản đã chỉ ra rằng

Nhật Bản đã rất sáng tạo trong q trình phát triển nơng thơn khi xác định nhiệm vụ

trọng tâm theo từng giai đoạn: Trong giai đoạn đầu Nhà nước tăng cường nguồn

vốn đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng, tăng cường các khoản cho vay từ các quỹ

tín dụng nơng nghiệp của Chính phủ và các phương thức hỗ trợ đặc biệt; Sang giai

đoạn hai, chính sách tập trung vào đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và nâng cao đời

sống của người dân, thu hẹp khoảng cách thành thị và nông thôn; Giai đoạn ba,

hướng tới việc lựa chọn ra những sản phẩm độc đáo, mang đậm nét đặc trưng của

địa phương để phát triển. Yếu tố thành công chủ yếu của chương trình phát triển

nơng thơn là nhận biết những nguồn lực chưa được sử dụng tại địa phương, sau đó

vận động nguồn lực một cách sáng tạo để tham gia vào xây dựng nông thôn.

Vũ Nhữ Thăng (2015) cho rằng cơ chế, chính sách có ảnh hưởng rất lớn đến

kết quả huy động và quản lý các nguồn lực tài chính phục vụ XDNTM ở Việt

Nam.”Vấn đề mẫu chốt để tăng cường huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực

cho XDNTM chính là hồn thiện các chính sách chính sách về huy động, quản lý và

sử dụng các nguồn lực tài chính.



1.5. Kinh nghiệm thực hiện xây dựng NTM ở một số địa phương

1.5.1. Kinh nghiệm xây dựng NTM ở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam

Sau 8 năm triển khai thực hiện chương trình xây dựng NTM, huyện Kim Bảng

đã thực sự làm thay đổi toàn diện bộ mặt nông thôn, kinh tế xã hội trên địa bàn,

nhận thức của người dân được nâng lên, cơ sở hạ tầng nơng thơn được hồn thiện;

người dân có ý thức hơn trong việc nâng cao đời sống vật chất tinh thần, nâng cao

thu nhập; tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn huyện giảm; an ninh chính trị và trật tự an tồn

xã hội được giữ vững... Trong q trình thực hiện chương trình xây dựng NTM

huyện đã rút ra một số kinh nghiệm như sau: Cần đẩy mạnh thông tin tuyên truyền



17



về mục đích, ý nghĩa, chủ thể xây dựng NTM bằng nhiều hình thức khác nhau như

tổ chức hội họp, phát thanh, cổ động và tuyên truyền trực quan, tạo khơng khí sơi

nổi, đồng thuận trong xây dựng NTM. Phát huy sức mạnh tồn dân, tạo sức lan tỏa

nhanh, góp phần đẩy nhanh tiến trình xây dựng NTM. Thành lập, kiện tồn bộ máy

chỉ đạo thực hiện chương trình xây dựng từ huyện đến xã, đây là yếu tố rất quan

trọng quyết định tiến trình xây dựng NTM trên địa bàn huyện. Hệ thống chỉ đạo

đồng bộ, hiệu quả, có bộ máy giúp việc đủ năng lực, chuyên môn, sát thực tế, phối

hợp chặt chẽ trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện từ huyện đến cơ sở. Phải lựa chọn

nội dung, nhiệm vụ ưu tiên, vận dụng sáng tạo cơ chế chính sách. Với phương thức

huy động các nguồn lực phù hợp. Đồng thời, củng cố và nâng cao chất lượng hệ

thống chính trị cơ sở, giữ vững an ninh chính trị, trât tự an tồn xã hội.

1.5.2. Kinh nghiệm xây dựng NTM của xã Hòa An thuộc thành phố Cao

Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

Xã Hòa An có xuất phát điểm thấp chỉ đạt 6/19 tiêu chí. Sau 3 năm xây dựng,

Hòa An đã được cơng nhận đạt chuẩn xã NTM. Trong quá trình thực hiện Chương

trình xây dựng NTM xã Hòa An đã đúc kết được một số kinh nghiệm như sau:

Trước hết, cấp ủy và chính quyền địa phương phải nghiên cứu nắm vững mục tiêu,

yêu cầu, ý nghĩa của CTMTQG xây dựng NTM để xây dựng kế hoạch thực hiện

tuyên truyền, tổ chức triển khai có hiệu quả. Thứ hai, tập trung cao sự lãnh đạo, chỉ

đạo của các cấp ủy, chính quyền, sự phối hợp của các ngành; nêu cao vai trò của các

chi bộ, tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên, sự tham gia tích cực của các

đồn thể, các tổ chức xã hội làm đơn vị hạt nhân để vận động xây dựng NTM. Thứ

ba, triển khai lồng ghép các phong trào ở địa phương, hình thành những mơ hình

phát triển kinh tế - xã hội điển hình để phát huy được các nguồn lực và sự đồng

thuận của nhân dân. Thứ tư, lãnh đạo Đảng và chính quyền phải gắn bó, sâu sát với

dân nhằm kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng của họ. Thứ năm, trong

thực hiện Chương trình cần chi tiết cơng tác xây dựng kế hoạch, có lộ trình thích

hợp và sắp xếp việc nào làm trước việc nào làm sau đối với từng tiêu chí, có phân

cơng trách nhiệm rõ ràng sẽ thực hiện các tiêu chí đạt vững chắc. Cơng tác tham



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN VỀ HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TRONG CHƯƠNG TRÌNH XDNTM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×