Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU GẠO VÀ VIỆC SỬ DỤNG HỢP ĐỒNG GIAO SAU ĐỂ PHÒNG NGỪA RỦI RO BIẾN ĐỘNG GIÁ GẠO XUẤT KHẨU CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU GẠO VÀ VIỆC SỬ DỤNG HỢP ĐỒNG GIAO SAU ĐỂ PHÒNG NGỪA RỦI RO BIẾN ĐỘNG GIÁ GẠO XUẤT KHẨU CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

30



đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng. Phải đảm bảo an toàn lương

thực, đủ lúa gạo dự trữ quốc gia và có số lượng cần thiết để xuất khẩu. Mức sản

lượng lúa ổn định khoảng 33 triệu tấn/năm, trong đó, lúa gạo để ăn và dự trữ

khoảng 25 triệu tấn/năm (chưa kể lượng bột mì được tiêu thụ ngày càng tăng, chủ

yếu dựa vào nhập khẩu), số còn lại để xuất khẩu và cho các nhu cầu khác. Sản xuất

lúa gạo chủ yếu dựa vào thâm canh, sử dụng giống có chất lượng cao, đáp ứng có

hiệu quả yêu cầu của thị trường tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Giữ ổn định

khoản 4 triệu ha đất có điều kiện tưới, tiêu chủ động để sản xuất lúa. Với các loại

đất sản xuất lúa kém hiệu quả thì chuyển sang sản xuất các loại sản phẩm khác có

hiệu quả cao hơn, như đất khơ hạn chuyển sang trồng màu, đất trũng và đất ven biển

chuyển sang nuôi trồng thủy sản, đất ven đô thị chuyển sang trồng rau, hoa, cây ăn

quả…ở vùng sâu, vùng xa vẫn đầu tư để phát triển sản xuất lúa ở nơi có điều kiện

(nhất là về thủy lợi nhỏ và xây dựng đồng ruộng) để đảm bảo đời sống nhân dân,

sớm chặn đứng được tệ nạn phá rừng làm rẫy và tình trạng du canh du cư.”(1)

Việc sản lượng gạo xuất khẩu trong thời gian qua luôn nằm ở mức cao và có

xu hướng tăng trong thời gian gần đây là rất tốt đối với Việt Nam. Thứ nhất nó đem

về nguồn ngoại tệ quan trọng cho quốc gia, thứ hai nó đem lại nguồn thu nhập cho

người sản xuất lúa gạo, giải quyết công ăn việc làm cho khu vực nông nghiệp, nông

thôn.



Bảng 2.1. Số liệu giá trị kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam

giai đoạn 1989-2005



Năm

Giá xuất khẩu

bình quân USD/ tấn

Sản lượng

xuất khẩu (tấn)

Giá trị xuất khẩu

(USD)



1989



1990



1991



1992



1993



226,06



186,30



226,50



207,34



203,17



1.422.560



1.478.206



1.016.843



1.960.378



1.646.124



230.314.940 406.464.775



334.443.013



321.583.914 275.389.778



1994

217,80

1.932.268

420.847.970



1995

266,28

2.023.222

538.743.554



2000

181,50

3.262.913



2001

154,00

3.350.722



1996

283,92

3.038.004

862.550.096

2002

187,00

3.194.290



1997

226,06

3.531.050

798.229.163



1998

265,00

3.722.416

986.440.240



1999

220,90

4.405.044

973.074.220



2003

172,00

3.630.280



2004

211,50

3.920.185



2005

247,00

5.061.247



31



592.218.710



516.011.188



597.332.230



624.408.160



829.119.128 1.250.128.009



“Nguồn: Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nơng thơn”

(1)



“Nguồn: Nghị quyết của Chính Phủ số 09/2000/NĐ-CP ngày 15 tháng 6 năm 2000”



Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, để cơng cuộc cơng nghiệp hóa,

hiện đại hóa, đặc biệt là cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa nơng nghiệp, nơng thơn

thành cơng, chúng ta rất cần ngoại tệ để mở rộng đầu tư, nhập khẩu máy móc, thiết

bị. Giá trị kim ngạch xuất khẩu từ mặt hàng gạo hàng năm giúp cho đất nước chúng

ta nguồn ngoại tệ khá lớn, nguồn ngoại tệ này rất quan trọng đối với những quốc gia

như Việt Nam.

Với bảng số liệu trên chúng ta thấy trong giai đoạn từ năm 1989 đến năm

2005 do sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam nhìn chung có xu hướng tăng. Vì

vậy, hàng năm số lượng ngoại tệ mà chúng ta thu về từ xuất khẩu gạo cũng có xu

hướng tăng, đặc biệt là năm 2005 giá trị kim ngạch xuất khẩu gạo đã đạt

1.250.128.009 đô la Mỹ.

2.1.2. Ảnh hưởng của sự biến động giá gạo xuất khẩu đến các doanh nghiệp và

người sản xuất lúa gạo tại Việt Nam

Trong thời gian vừa qua, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường thế

giới ln có sự biến động thất thường, đặc biệt là khi giá gạo xuất khẩu thấp, dẫn

đến ảnh hưởng trực tiếp giá trị kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam. Ảnh hưởng

trực tiếp đến thu nhập của các doanh nghiệp xuất khẩu gạo và ảnh hưởng lớn nhất là

đến người sản xuất lúa gạo của Việt Nam.



300,00

250,00

200,00

150,00

100,00

50,00

0,00



Giá gạo XK



19

89

19

90

19

91

19

92

19

93

19

94

19

95

19

96

19

97

19

98

19

99

20

00

20

01

20

02

20

03

20

04

20

05



GIÁ GẠO XUẤT KHẨU

(USD/TẤN)



BIỂU ĐỒ DIỄN BIẾN GIÁ GẠO XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1989-2005



NĂM



Đồ thị 2.2: Diễn biến giá gạo xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 1989-2005

“Nguồn: Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn”



32



Tại sao giá gạo xuất khẩu của Việt Nam lại ảnh hưởng lớn nhất đến người

sản xuất lúa gạo? Nó ảnh hưởng lớn nhất là bởi vì thông thường các doanh nghiệp

xuất khẩu gạo của Việt Nam thường không k ý hợp tiêu thụ đối với lúa gạo hoặc

có k ý thì chỉ mang tính chất hợp đồng nguyên tắc và mức giá mua là giá lúa gạo

theo thị trường tại thời điểm mua bán. Vì vậy, khi giá gạo xuất khẩu thấp thì các

doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việt Nam do xuất khẩu với giá thấp, do đó họ sẽ

mua lúa gạo của người sản xuất với giá thấp, có khi giá mua thấp hơn so với chi phí

mà người sản xuất bỏ ra để sản xuất số lúa gạo này. Thậm chí có doanh nghiệp đã

k ý hợp đồng tiêu thụ sản phẩm lúa gạo cho người sản xuất với một mức giá cố

định vào thời điểm thu hoạch trong tương lai, nhưng tại thời điểm thu hoạch nếu giá

gạo xuất khẩu trên thị trường thế giới giảm so với thời điểm k ý hợp đồng trước

đây thì doanh nghiệp nghiệp sẽ gặp rủi ro về giá. Vì vậy, nếu doanh nghiệp vẫn thực

hiện hợp đồng như đã thỏa thuận thì doanh nghiệp sẽ bị thua lỗ, do đó một số doanh

nghiệp để vừa thực hợp đồng nhưng lại vừa muốn hạn chế thua lỗ, doanh nghiệp

đưa ra các quy định về mặt quy cách, phẩm chất khi giao nhận hàng rất khắt khe đối

với sản phẩm lúa gạo của những người sản xuất mà đã k ý hợp đồng với doanh

nghiệp mình. Điều này đẩy những người sản xuất lúa gạo vào thế khó khăn, đơi khi

họ phải tự mình phá hợp đồng và bán sản phẩm của mình ra ngoải thị trường với giá

thấp, dẫn đến thu nhập giảm. Còn về phía các doanh nghiệp với cách làm này thì có

thể làm cho họ tự đánh mất nguồn cung ứng đầu vào của họ, vì những người sản

xuất lúa gạo sẽ khơng bao giờ giám k ý hợp đồng tiêu thụ với tư cách là nhà cung

cấp và thậm chí là với hình thức bán giao ngay sản phẩm của mình cho các doanh

nghiệp này.

Cũng giống như các sản phẩm nông nghiệp khác, đối với sản phẩm lúa gạo

thì sản lượng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, nhưng hai yếu tố có tác động mạnh

nhất đó là điều kiện tự nhiên (đất đai, thời tiết…) và giá gạo, đặc biệt là giá gạo xuất

khẩu.

Thông thường giá gạo xuất khẩu năm nay ảnh hưởng rất lớn đến sản lượng

gạo xuất khẩu của năm sau. Nếu năm nay giá gạo xuất khẩu đang nằm ở mức độ

cao thì sản lượng xuất khẩu gạo của năm sau thường tăng so với năm trước, điều



33



này có thể l ý giải như sau: Thứ nhất theo l ý thuyết kinh tế học khi giá bán sản

phẩm của một mặt hàng nào đó đang nằm ở mức độ cao hơn tương đối so với chi

phí bỏ ra để sản xuất sản phẩm đó thì người sản xuất sẽ tăng cung của sản phẩm đó.

Mà đối với sản phẩm lúa gạo cũng giống như các sản phẩm thuộc ngành trồng trọt

khác thì để cung ứng được sản phẩm ra thị trường phải mất một thời gian nhất định,

thời gian đó là chu kỳ sản xuất từ khi gieo hạt đến khi có lúa gạo thành phẩm có thể

bán. Thứ hai sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là từ những hộ nông

dân trồng lúa, mà các hộ nông dân của Việt Nam hiện nay việc tích lũy vốn chưa

cao, để có vốn sản xuất của năm nay họ chủ yếu dựa vào thu nhập từ việc bán lúa

gạo của năm trước. Chính vì vậy, sự biến động thất thường của giá gạo xuất khẩu

trong thời gian vừa qua dẫn đến sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam biến động

theo và chúng ta thường thấy tình trạng “được mùa mất giá, được giá mất mùa” đối

với người sản xuất lúa gạo. Vì vậy, khi được mùa thì các hộ nơng dân thường gặp

khó khăn trong q trình tiêu thụ sản phẩm của mình, còn khi mất mùa thì các

doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tìm nguồn cung ứng đầu vào do sản lượng

lúa gạo thấp.

Bảng 2.2. Số liệu sản lượng và giá gạo xuất khẩu của Việt Nam

giai đoạn 1989-2005

Năm

Bq: 1USD/tấn

Sản Lượng gạo

xuất khẩu (Tấn)



1989

226,06



1990

186,30



1991

226,50



1992

207,34



1993

203,17



1.422.560



1.478.206



1.016.843



1.960.378



1.646.124



1994



1995

266,28

2.023.222



1996

283,92

3.038.004



1997

226,06

3.531.050



1998

265,00

3.722.416



1999

220,90

4.405.044



2004

211,50

3.920.185



2005

247,00

5.061.247



217,80

1.932.268

2000

181,50

3.262.913



2001

154,00

3.350.722



2002

187,00

3.194.290



2003

172,00

3.630.280



“Nguồn: Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn”



Hiện nay người sản xuất lúa gạo rất muốn các doanh nghiệp, đặc biệt là các

doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việt Nam k ý hợp đồng tiêu thụ sản phẩm của

mình với mức giá cố định và các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việt Nam cũng



34



rất muốn ổn định nguyên liệu đầu vào bằng cách k ý hợp đồng tiêu thụ với người

sản xuất lúa gạo. Nhưng với giá gạo biến động trong thời gian qua như trên, họ

thường không giám k ý các hợp đồng tiêu thụ sản phẩm với người sản xuất lúa gạo

với mức giá cố định, mặc dù Chính Phủ và các Bộ, ngành đã có rất nhiều những

chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp có k ý hợp đồng tiêu thụ nơng sản

trong đó có sản phẩm lúa gạo đối với người sản xuất “Đổi mới mạnh mẽ hoạt động

của các hợp tác xã nơng nghiệp. Kiên trì vận động nông dân xây dựng hợp tác xã

kiểu mới. Tạo mọi điều kiện thuận lợi để hợp tác xã làm tốt nhiệm vụ tiêu thụ sản

phẩm nông nghiệp trên cơ sở k ý hợp đồng tiêu thụ sản phẩm hàng hóa đối với hộ

nơng dân.

Khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh về chế biến và thương mại thuộc

các thành phần kinh tế mở rộng diện k ý hợp đồng tiêu thụ với hợp tác xã hoặc ký

trực tiếp với nông dân, gắn kết cho được sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm

trong nước và xuất khẩu.

Theo hướng đó, trong những năm tới, mở rộng nhanh diện hộ nơng dân, kinh

tế trang trại sản xuất hàng hóa nơng sản được sản xuất theo hợp đồng”(2)

“Hỗ trợ lãi suất sau đầu tư: Doanh nghiệp k ý hợp đồng tiêu thụ nơng sản

với người sản xuất có dự án liên doanh hoặc trực tiếp sản xuất, chế biến, gia công

hàng nông sản để xuất khẩu vay vốn của các tổ chức tín dụng hợp pháp của Việt

Nam được hỗ trợ chênh lệch lãi suất sau đầu tư.

Trường hợp doanh nghiệp k ý hợp đồng tiêu thụ nơng sản hàng hóa với

người sản xuất để xuất khẩu, theo hình thức doanh nghiệp phải ứng trước vốn, vật

tư hoặc bán vật tư mua lại nông sản và trực tiếp tiêu thụ nông sản cho người sản

xuất, được vay vốn từ Quỹ hỗ trợ phát triển.

Doanh nghiệp k ý hợp đồng tiêu thụ nông sản với người sản xuất để xuất

khẩu nông sản ngồi các chính sách hỗ trợ tài chính hiện hành như: Thưởng kim

ngạch xuất khẩu, hỗ trợ lãi suất vay vốn tạm trữ, xúc tiến thương mại phát triển thị

trường, bù lỗ do nguyên nhân bất khả kháng được ưu tiên xem xét xuất khẩu nông



35



sản theo hợp đồng xuất khẩu thương mại của Chính Phủ Việt Nam k ý kết với

nước ngồi”.(3)

(2)”



Nguồn: Nghị quyết của Chính Phủ số 09/2000/NĐ-CP ngày 15 tháng 6 năm 2000”



(3)”



Nguồn: Thông tư của Bộ Tài Chính số 04/2003/TT-BTC ngày 10 tháng 1 năm 2003”



Qua điều tra, khảo sát 9 doanh nghiệp xuất khẩu gạo tại Thành Phố Hồ Chí

Minh và một số Tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, chúng tôi thấy trong số 9 doanh

nghiệp được điều tra, khảo sát có 2/9 doanh nghiệp không k ý hợp đồng tiêu thụ

lúa gạo với người sản xuất. 7/9 doanh nghiệp có k ý hợp đồng tiêu thụ lúa gạo với

người sản xuất và thông thường các hợp đồng tiêu thụ lúa gạo này không k ý trực

tiếp với những hộ nông dân trồng lúa mà ký với các hợp tác xã hoặc tổ hợp tác có

làm dịch vụ đầu ra cho sản phẩm lúa gạo của các hộ nơng dân. Đối với 7 doanh

nghiệp có k ý hợp đồng tiêu thụ đối với người sản xuất lúa gạo nhưng chỉ k ý

với một số lượng rất hạn chế và những hợp đồng tiêu thụ lúa gạo thường chỉ cố định

về mặt số lượng còn giá cả thì chỉ mang tính ngun tắc. Có nghĩa là có quy định

giá trong hợp đồng khi k ý kết nhưng giá thực sự của việc mua bán sẽ được điều

chỉnh theo giá thị trường tại thời điểm giao nhận lúa gạo.

Tại sao các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việt Nam khơng k ý hoặc có

ký hợp đồng tiêu thụ lúa gạo với người sản xuất thường không cố định giá mua bán.

Điều này qua điều tra, khảo sát tại một số doanh nghiệp chúng tôi rút ra một số

nguyên nhân. Thứ nhất, giá gạo xuất khẩu gạo của Việt Nam ra thị trường thế giới

thường biến động. Do đó, nếu k ý hợp đồng tiêu thụ với nhà sản xuất với mức giá

cố định thì khi giá gạo xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường thế giới giảm thì các

doanh nghiệp sẽ bị lỗ, thậm chí có doanh nghiệp sẽ phải phá sản nếu giá gạo xuất

khẩu giảm mạnh. Thứ hai, việc dự báo cung-cầu về sản phẩm gạo trên thế giới của

các doanh nghiệp Việt Nam còn yếu và thiếu chính xác. Ví dụ như về cung thì

ngồi Việt Nam còn nhiều quốc gia xuất khẩu gạo với số lượng lớn như Thái Lan,

Mỹ và một số quốc gia xuất khẩu gạo khác. Như vậy để dự báo được lượng gạo

xuất khẩu sẽ được cung ứng ra thị trường gạo thế giới chúng ta không những phải

dự báo tương đối chính xác sản lượng gạo có thể cung ứng cho xuất khẩu của Việt

Nam mà còn phải dự báo tương đối chính xác sản lượng gạo có thể cung ứng cho



36



xuất khẩu của Thái Lan, Mỹ và một số quốc gia có sản lượng gạo xuất khẩu lớn

khác. Còn về cầu của sản phẩm gạo, chúng ta không chỉ dự báo cầu đối với các

quốc gia mà chúng ta đang và sẽ xuất khẩu gạo mà chúng ta phải dự báo cả cầu về

gạo đối với những quốc gia mà Thái Lan, Mỹ và các quốc gia khác đang và sẽ xuất

khẩu gạo. Bởi vì nếu cầu về gạo của các quốc gia này giảm thì Thái lan, Mỹ và các

quốc gia xuất khẩu gạo sẽ tìm cách tăng sản lượng xuất khẩu gạo ở thị trường khác

và có khi đó là thị trường mà chúng ta đang xuất khẩu. Mà chúng ta biết cung-cầu

của một sản phẩm nào đó sẽ tác động rất lớn đến giá bán của sản phẩm đó. Thứ ba,

việc thu thập thông tin và xử l ý thông tin để dự báo giá gạo xuất khẩu của các

doanh nghiệp Việt Nam hiện nay thường thiếu chính xác. Do đó dẫn đến các doanh

nghiệp không biết chắc chắn là trong tương lai tại thời điểm họ sẽ xuất khẩu gạo

mỗi tấn gạo xuất khẩu sẽ có khoản thu nhập là bao nhiêu, nếu k ý hợp đồng tiêu

thụ lúa gạo với người sản xuất với mức giá cố định, chi phí mà họ phải chi ra để có

một tấn gạo xuất khẩu như vậy sẽ cố định dẫn đến doanh nghiệp sẽ gặp rủi ro khi

giá gạo xuất khẩu giảm.

Như vậy, mặc dù cả Chính Phủ, người sản xuất lúa gạo và các doanh nghiệp

xuất khẩu gạo của Việt Nam đều mong muốn thực hiện hợp đồng tiêu thụ sản phẩm

lúa gạo. Nhưng các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việt Nam lo ngại sẽ gặp rủi ro

về giá do giá gạo xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường thế giới luôn biến động,

do vậy số lượng gạo xuất khẩu được k ý hợp đồng tiêu thụ còn rất hạn chế. Vậy

chúng ta có cánh nào để giải quyết được tình trạng này hay khơng? Theo chúng tơi

là có, đó là các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việt Nam sẽ k ý hợp đồng tiêu thụ

sản phẩm lúa gạo cho người sản xuất với mức giá cố định, sau đó các doanh nghiệp

này để cân bằng vị thế của mình sẽ sử dụng hợp đồng giao sau ở vị thế bán giao

sau.

2.2. Sử dụng hợp đồng giao sau để phòng ngừa rủi ro giá gạo xuất khẩu cho

các doanh nghiệp Việt Nam

2.2.1. Sự cần thiết phải phòng ngừa rủi ro giá gạo xuất khẩu của các doanh

nghiệp Việt Nam



37



Qua điều tra, khảo sát 9 doanh nghiệp xuất khẩu gạo tại Thành Phố Hồ Chí

Minh và một số Tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, chúng tôi thấy hiện nay các doanh

nghiệp Việt Nam ngoài việc thực hiện các hợp đồng giao ngay để xuất khẩu gạo cho

các doanh nghiệp nhập khẩu gạo của nước ngồi thì có k ý hợp đồng trước với các

doanh nghiệp nhập khẩu gạo của nước ngoài để cung cấp gạo theo đơn đặt hàng.

Nhưng các hợp đồng này chỉ ấn định về mặt số lượng, chất lượng, quy cách và thời

gian giao hàng của sản phẩm gạo còn mức giá mặc dù có ghi trong hợp đồng nhưng

đây là mức giá chỉ mang tính nguyên tắc. Bởi vì, trong hợp đồng cũng quy định giá

này sẽ được điều chỉnh theo giá thị trường tại thời điểm giao nhận hàng. Như vậy,

đây chỉ là hợp đồng để các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việt Nam cố định về

mặt số lượng sẽ xuất khẩu cho thị trường nước ngồi chứ chưa được xem là một

chiến lược phòng ngừa rủi ro về biến động giá. Vì giá gạo hoàn toàn phụ thuộc vào

biến động của giá gạo giao ngay trên thị trường thế giới tại thời điểm doanh nghiệp

xuất khẩu gạo của Việt Nam và doanh nghiệp nhập khẩu gạo của nước ngoài giao

nhận hàng. Bên cạnh các hợp đồng mà các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việt

Nam k ý với các doanh nghiệp nhập khẩu gạo của nước ngồi với hình thức trên

thì các doanh nghiệp Việt Nam cũng k ý các hợp đồng kỳ hạn với một số lượng

không lớn. Tuy nhiên khi ký các hợp đồng kỳ hạn với vị thế bán nhưng các hợp

đồng kỳ hạn này không phải để cân bằng vị thế mua của doanh nghiệp mình mà chỉ

đơn thuần là tìm đầu ra của sản phẩm gạo. Dẫn đến là có trường hợp giá sản phẩm

gạo trên thị trường giao ngay tăng khi các hợp đồng kỳ hạn này đến hạn và các

doanh nghiệp xuất khẩu gạo Việt Nam bị thua lỗ. Như chúng ta đã phân tích ở phần

trên thì việc thu thập, xử l ý thơng tin để dự báo giá gạo xuất khẩu của Việt Nam

còn yếu do vậy các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việt Nam k ý các hợp đồng kỳ

hạn với vị thế bán với mục đích khơng phải để cân bằng vị thế mua, để phòng

chống rủi ro biến động giá mà chỉ đơn thuần là tìm thị trường xuất khẩu thường rơi

vào tình huống bất lợi. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến lợi nhuận và ảnh hưởng rất

lớn đến tình hình tài chính của doanh nghiệp.

Việt Nam chuẩn bị gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), khi Việt

Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới thì theo như



38



cam kết của Việt Nam khi gia nhập tổ chức này, chúng ta sẽ phải bãi bỏ một số rào

cản trong thương mại cũng như bãi bỏ một số quy định không phù hợp với thông lệ

quốc tế đối với thị trường. Riêng trong lĩnh vực nơng nghiệp chúng ta đã có hiệp

định về nơng nghiệp. cụ thể như: Thâm nhập thị trường, chúng ta cam kết là mở

rộng thị trường các sản phẩm nông nghiệp cho các quốc gia khác muốn thâm nhập

vào thị trường Việt Nam, cam kết cắt giảm thuế, cắt giảm các hỗ trợ trong nước và

cam kết cắt giảm trợ cấp xuất khẩu.

Vậy khi các rào cản trong thương mại cũng như các quy định không phù hợp

với thông lệ quốc tế đối với thị trường bị bãi bỏ thì thị trường Việt Nam, trong đó

có thị trường gạo sẽ trở nên hiệu quả hơn, khi thị trường hiệu quả hơn thì giá gạo sẽ

thay đổi ngẫu nhiên hơn. Khơng chỉ giá gạo xuất khẩu của Việt Nam thay đổi ngẫu

nhiên hơn mà cả giá gạo tại thị trường nội địa cũng thay đổi ngẫu nhiên, khi đó đối

với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm gạo, đặc biệt là các doanh

nghiệp xuất khẩu gạo của Việt Nam sẽ gặp phải rủi về biến động giá cao hơn do giá

gạo thay đổi ngẫu nhiên.

Hiện nay, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việt Nam, đặc biệt là các

doanh nghiệp xuất khẩu gạo có k ý hợp đồng tiêu thụ với người sản xuất lúa gạo

thường được chính phủ có những hỗ trợ cũng như có các chính sách rất ưu đãi như

thưởng kim ngạch xuất khẩu, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư, hỗ trợ vay vốn tạm trữ, bù

lỗ do nguyên nhân bất khả kháng...Nhưng khi Việt Nam trở thành thành viên chính

thức của Tổ chức thương mại thế giới thì theo cam kết của chúng ta khi ra nhập tổ

chức này. Chúng ta phải cắt giảm và tiến tới bãi bỏ các khoản trợ cấp, ưu đãi, trợ

cấp xuất khẩu, thuế nhập khẩu và một khi các chính sách hỗ trợ này khơng còn thì

rủi ro trong kinh doanh mà các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt sẽ cao hơn.

Thứ nhất, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ mất một khoản thu nhập từ các hỗ trợ của

Chính Phủ khi xuất khẩu gạo. Thứ hai, do chúng ta phải cắt giảm thuế nhập khẩu

theo như Việt Nam cam kết khi trở thành viên chính thức của Tổ chức thương mại

thế giới, trong đó có giảm thuế nhập khẩu đối với mặt hàng gạo. Do vậy, các doanh

nghiệp và người sản xuất lúa gạo của Việt Nam sẽ phải chia sẻ thị phần nội địa với

các doanh nghiệp và người sản xuất của Thái Lan và một số quốc gia có sản xuất



39



lúa gạo, do lượng gạo nhập khẩu vào Việt Nam từ các quốc gia như Thái Lan và

một số quốc gia có sản xuất lúa gạo sẽ tăng. Thứ ba, khi Việt Nam trở thành viên

chính thức của Tổ chức thương mại thế giới, các chính sách ưu đãi của Chính Phủ

đối với các doanh nghiệp trong nước sẽ khơng còn, các doanh nghiệp nước ngồi sẽ

cạnh tranh cơng bằng hơn trong kinh doanh với các doanh nghiệp Việt Nam, dẫn

đến các doanh nghiệp nước ngoài sẽ đầu tư vào Việt Nam nhiều hơn. Trong đó có

các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm gạo, khi đó các doanh nghiệp kinh doanh

sản phẩm gạo của Việt Nam không những bị cạnh tranh cao về thị phần đầu ra mà

còn bị cạnh tranh cả việc mua nguyên liệu đầu vào và đối với người sản xuất lúa

gạo thì họ khơng cần phân biệt là doanh nghiệp trong nước hay nước ngoài. Doanh

nghiệp nào mua sản phẩm của họ với giá cao hơn hoặc k ý hợp đồng tiêu thụ sản

phẩm của họ với các điều khoản hợp đồng có lợi hơn thì họ sẽ cung cấp lúa gạo cho

doanh nghiệp đó. Mà một trong những điều khoản hợp đồng hiện nay những người

sản xuất lúa gạo của Việt Nam rất muốn các doanh nghiệp thực hiện là k ý hợp

đồng tiêu thụ sản phẩm lúa gạo với giá cố định. Nhưng nếu k ý hợp đồng tiêu thụ

lúa gạo với người sản xuất với giá cố định mà doanh nghiệp lại khơng có thể dự báo

chính xác hoặc cố định giá gạo xuất khẩu thì các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của

Việt Nam có thể gặp rủi ro khi giá gạo xuất khẩu của Việt Nam trên thế giới biến

động theo chiều hướng bất lợi.

Vì vậy, để hạn chế rủi ro về biến động giá gạo xuất khẩu các doanh nghiệp

Việt Nam cần phải có những chiến lược phòng ngừa rủi ro biến động giá, mà một

trong những cơng cụ có thể sử dụng trong chiến lược phòng ngừa rủi ro biến động

giá là sử dụng hợp đồng giao sau đối với sản phẩm gạo. Đó là các doanh nghiệp

xuất khẩu gạo của Việt Nam sẽ k ý các hợp đồng tiêu thụ với người sản xuất lúa

gạo với mức giá cố định sau đó để cân bằng vị thế các doanh nghiệp xuất khẩu gạo

của Việt Nam sẽ sử dụng các hợp đồng giao sau với vị thế bán giao sau.

Khi sử dụng hợp đồng giao sau để phòng ngừa rủi ro biến động giá gạo xuất

khẩu các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việt Nam sẽ có những cái lợi sau đây:

Ổn định được nguồn cung cấp nguyên liệu đầu vào của sản phẩm lúa gạo

thông qua việc k ý các hợp đồng tiêu thụ với người sản xuất lúa gạo. Điều này thực



40



chất là các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việt Nam đã k ý một hợp đồng kỳ hạn

với vị thế mua đối với sản phẩm lúa gạo của người sản xuất. Chính việc k ý hợp

đồng tiêu thụ sản phẩm lúa gạo với người sản xuất mà doanh nghiệp có thể chủ

động được nguồn ngun liệu đầu vào. Còn về phía người sản xuất lúa gạo do có

doanh nghiệp đã k ý hợp đồng tiêu thụ sản phẩm lúa gạo của mình họ khơng phải

lo tình trạng mà gần đây vẫn thường xuyên xẩy ra với các sản phẩm nông nghiệp

của Việt Nam “được mùa mất giá, được giá mất mùa”. Do đã biết chắc chắn mức

giá sản phẩm lúa gạo của mình khi thu hoạch sẽ giúp người sản xuất lúa gạo chủ

động đầu tư các chi phí và chính từ việc ổn định được mức giá sẽ giúp người sản

xuất lúa gạo của Việt Nam có vốn để đầu tư những vụ lúa gạo tiếp theo, từ đó thị

trường sản phẩm lúa gạo đầu vào sẽ càng ổn định.

Với việc sử dụng các hợp đồng giao sau với vị thế bán giao sau các doanh

nghiệp xuất khẩu Việt Nam sẽ có những lợi ích đó là: Phòng ngừa được rủi ro nếu

giá gạo xuất khẩu biến động theo chiều hướng bất lợi. Ngoài ra, đây cũng là một

hướng để mở rộng thị trường xuất khẩu gạo, bởi vì khi chúng ta đã k ý các hợp

đồng giao sau với vị thế bán thì khi hợp đồng giao sau đến hạn với vị thế là người

bán giao sau chúng ta có quyền yêu cầu người mua giao sau phải nhận hàng và

thanh tốn tiền. Việc tìm kiếm và mở rộng thị trường xuất khẩu gạo cho các doanh

nghiệp là điều mà hiện nay không chỉ các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việt

Nam quan tâm mà cả Chính Phủ và các bộ, ngành cũng quan tâm để tìm mọi cách

mở rộng thị trường xuất khẩu của Việt Nam “Đẩy mạnh quan hệ hợp tác thương

mại với các nước, gắn quan hệ đối ngoại với xuất khẩu nông sản. Tiếp tục mở rộng

cam kết song phương và đa phương cấp Chính Phủ về xuất khẩu nông sản. Mở rộng

diện mặt hàng nơng sản trong danh mục trả nợ hàng nước ngồi. Tăng cường quyền

hạn, trách nhiệm và tạo điều kiện để các cơ quan đại diện ngoại giao và thương mại

Việt Nam ở nước ngồi tham gia tìm kiếm thị trường xuất khẩu nơng sản”.(4)

2.2.2. Các trường hợp có thể sử dụng hợp đồng giao sau để phòng ngừa rủi ro

biến động giá gạo xuất khẩu

Chiến lược phòng ngừa rủi ro biến động giá gạo xuất khẩu bằng việc sử dụng

các hợp đồng giao sau có thể áp dụng trong trường hợp vào thời điểm thu hoạch của



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU GẠO VÀ VIỆC SỬ DỤNG HỢP ĐỒNG GIAO SAU ĐỂ PHÒNG NGỪA RỦI RO BIẾN ĐỘNG GIÁ GẠO XUẤT KHẨU CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×