Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ L Ý LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG GIAO SAU

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ L Ý LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG GIAO SAU

Tải bản đầy đủ - 0trang

6



- Có rủi ro đối tác



1.3. Mục đích của người kinh doanh khi tham gia vào thị trường giao sau

1.3.1. Phòng ngừa rủi ro biến động giá:

Những người tham gia vào thị trường giao sau với mục đích phòng ngừa rủi

ro biến động giá có mong muốn mua hoặc bán hàng hoá thực, nhưng lo lắng về việc

giá hàng hoá sẽ thay đổi trước khi mua hoặc bán hàng hoá đó trên thị trường.

Như vậy tham gia thị trường giao sau để đạt được sự bảo vệ đối với thay đổi

giá cả thông qua mua hoặc bán các hợp đồng giao sau của cùng loại và cùng số

lượng hàng hoá để triệt tiêu rủi ro giá cả.

1.3.2. Đầu cơ để kiếm lời

Những người tham gia vào thị trường giao sau với mục đích đầu cơ để kiếm

lời cố gắng kiếm lợi nhuận từ việc mua hoặc bán các hợp đồng giao sau bằng việc

dự đoán biến động giá cả trong tương lai.

Khi tham gia thị trường giao sau với tư cách là nhà đầu cơ, nhà đầu cơ chấp

nhận rủi ro giá cả và làm tăng thanh khoản của thị trường giao sau.

1.4. Mối quan hệ giữa thị trường giao sau và giao ngay

1.4.1. Đặc tính của hợp đồng giao sau

Giá thị trường hình thành cơng khai và minh bạch: Khi các thông tin về

nguồn cung cầu xuất hiện, người mua và bán sẽ đưa các thông tin này vào trong thị

trường. Khi người mua và người bán đạt đến thỏa thuận thì một giao dịch được thực

hiện và giá thị trường được cơng bố. Giá cả được hình thành thơng qua hệ thống

đấu giá cơng khai như thế chính là biểu hiện cụ thể của cơ chế giá được hình thành

do các tác động của lực cung và cầu. Thay đổi trong giá giao sau mỗi ngày là sự

đồng thuận của người mua lẫn của người bán vào ngày hơm đó.

Quản l ý rủi ro biến động giá: Khả năng bù trừ của hợp đồng giao sau cho

phép những người phòng ngừa rủi ro hòa vốn, có nghĩa là thiệt hại trên thị trường

giao sau sẽ bù bằng lợi nhuận trên thị trường giao ngay. Điều này đã cho phép



7



những người tham gia vào hợp đồng giao sau quản l ý được các rủi ro do những

bất ổn gây ra trong giá cả. Đây là nhân tố chính của hợp đồng giao sau hấp dẫn

những người phòng ngừa rủi ro.

Tính thanh khoản: Đây là một chìa khóa cho bất cứ thành công nào của hợp

đồng giao sau. Tất cả thành viên tham gia thị trường đều kỳ vọng các biến động giá

cả là nhẹ nhàng hoặc có thể dự báo được. Điều này cho phép họ dễ dàng gia nhập

hoặc rút lui ra khỏi thị trường với một số lượng lớn các giao dịch. Số lượng các giao

dịch càng lớn nhưng khơng gây tác động đến giá thì thị trường càng được gọi là “có

tính thanh khoản”.

Tính hiệu quả: Thị trường giao sau tạo khả năng cho tất cả những người tham

gia giao dịch với khối lượng lớn với chi phí giao dịch tương đối thấp. Tính hiệu quả

này thật sự hấp dẫn những người mua và người bán.

Tổng lợi nhuận bằng zero: Giao dịch giao sau thường có tổng lợi nhuận bằng

không, bất cứ lợi nhuận nào của những người tham gia thị trường cũng chính là

khoản lỗ của một người khác trong thị trường. Đối với những người phòng ngừa rủi

ro, điều này khơng là mối bận tâm vì lợi nhuận hoặc thua lỗ của họ được bù trừ trên

thị trường giao ngay.

Những người phòng ngừa rủi ro: Các nhà quản l ý, những người sản xuất và

kinh doanh lo ngại những diễn biến tài chính xấu do biến động bất ổn trong giá cả

hàng hóa có thể sử dụng giao sau để giảm rủi ro bằng việc thực hiện một vị thế

ngang bằng nhưng trái ngược trong thị trường giao sau. Hoạt động này được gọi là

phòng ngừa rủi ro. Những người phòng ngừa khơng thích rủi ro, họ mong muốn

tránh rủi ro và có xu hướng giữ vị thế giao sau trong một thời gian dài.

Các nhà đầu cơ: Các nhà giao dịch giao sau khơng quan tâm đến hàng hóa

thực. Họ giao dịch hồn toàn là do lợi nhuận từ những thay đổi giá theo hướng có

lợi cho họ. Các nhà đầu cơ là những người thích rủi ro. Họ thường khơng thích nắm

giữ các vị thế giao sau trong thời gian dài.

1.4.2. Đường biểu diễn các vị thế mua và vị thế bán trên thị trường giao sau

Các nhà giao dịch mua hợp đồng giao sau có thể kiếm lời nếu hợp đồng này

được bán với giá cao hơn. Quá trình mua giao sau được gọi là thực hiện vị thế mua.



8



Các nhà giao dịch là người bán giao sau với ý định mua chúng lại sau đó ở

một mức giá thấp hơn để kiếm lời. Các nhà giao dịch có thể bán giao sau cho dù họ

không sở hữu các tài sản cơ sở vì vị thế giao sau và việc cam kết giao hàng có thể

bù trừ bằng một vị thế mua trước khi đến hạn hợp đồng. Một nhà đầu cơ có thể

chọn mua hàng hóa thực trên thị trường giao ngay và bán trên thị trường giao sau.

Bởi vì các khoản lãi và thua lỗ trên thị trường giao sau phản chiếu tương tự

những gì xẩy ra trên thị trường giao ngay. Bằng việc thực hiện vị thế ngược lại trên

thị trường giao ngay, những người phòng ngừa có thể giảm thiểu rủi ro về giá.

Những thua lỗ trên thị trường giao ngay được bù đắp bằng lợi nhuận trên thị trường

giao sau và ngược lại.

Tóm lại, nếu bạn là người dự định sẽ mua ngũ cốc sau đó, bạn có thể mua

giao sau, đây được gọi là phòng ngừa vị thế mua. Các nhà sản xuất ngũ cốc, hạt có

dầu và thịt tươi sống có thể bảo vệ chính họ chống lại những sụt giảm tiềm ẩn trong

giá cả sản phẩm bằng cách bán giao sau, đây được gọi là phòng ngừa vị thế bán.

1.4.3. Liên kết giữa thị trường giao ngay và thị trường giao sau

Liên kết giữa thị trường giao ngay và thị trường giao sau cho phép những

người phòng ngừa rủi ro sử dụng thị trường giao sau để bù đắp rủi ro về giá trên thị

trường giao ngay. Mối quan hệ này được đo lường bằng basic, đó là chênh lệch giữa

giá giao ngay và giá giao sau có liên quan.

Basic thường khơng phải là hằng số bất biến. Nhận thức rõ được điều này rất

quan trọng vì nó giúp cho bạn xác định tính hiệu quả của bất kỳ hoạt động phòng

ngừa rủi ro nào. Bạn cần một basic tương đối ổn định hoặc có thể dự đốn được để

đoan chắc rằng lợi nhuận (hoặc thua lỗ) trên thị trường giao sau và thị trường giao

ngay có thể bù đắp lẫn nhau được.

Thị trường giao ngay: Các thị trường địa phương nơi những người mua và

người bán điều chỉnh song phương về số lượng, chất lượng, giá cả, địa điểm và thời

gian giao hàng. Hàng hóa thực sự được trao đổi giữa người mua và người bán.

Thị trường giao sau: Người mua và người bán trao đổi hợp đồng trong đó

có xác định trước về số lượng, chất lượng, địa điểm và thời gian giao hàng cho một

hàng hóa cụ thể. Thị trường giao sau được xem như là một thị trường “giấy” vì



9



hàng hóa cụ thể ít khi được trao đổi giữa người mua và người bán. Giá giao sau

được dùng như một chuẩn mực cho giá giao ngay.

Sự đe dọa về giao nhận hàng: Giá giao ngay và giá giao sau có xu hướng

biến động cùng chiều, mặc dù khơng ln luôn cùng một mức độ. Sở dĩ như vậy là

do các cam kết hợp đồng giao sau có thể hoặc là được thực hiện bởi một động tác

giao nhận hàng hóa xảy ra thật sự giữa hai bên hoặc là xảy ra dưới các thanh toán

tiền mặt tiêu biểu cho giá trị lơ hàng.

Q trình giao nhận hàng diễn ra trong suốt tháng giao hàng của hợp đồng

giao sau tại một thời điểm giao hàng cụ thể. Người mua hợp đồng giao sau phải

đồng ý thanh toán và chi trả ngay lập tức cho lơ hàng hóa. Các chi phí như chi phí

lưu kho và lãi vay đã được phản ánh hết trong giá giao sau và người mua phải gánh

chịu tất cả các chi phí này.

Nếu như người mua trên thị trường giao ngay chào giá thấp hơn so với giá

giao sau thì người bán hàng trên thị trường giao ngay (người sở hữu hàng hóa) có

thể bán giao sau. Việc khan hiếm những người bán trên thị trường giao ngay cuối

cùng cũng làm cho những người mua tăng giá giao ngay lên. Đồng thời lúc này do

áp lực bán trên thị trường giao sau tăng lên, rốt cuộc làm cho giá giao sau giảm đi.

Chính vì thế giá giao ngay và giá giao sau cuối cùng rồi cũng hội tụ về với nhau.

Ngược lại, nếu giá giao ngay quá cao so với giá giao sau, người mua giao

ngay có thể mua giao sau. Trong tình huống này, người mua nhận sản phẩm với giá

giao sau thấp và sau đó có thể bán chúng lại trên thị trường giao ngay với giá cao

hơn. Những hành vi này rốt cuộc làm tăng giá giao sau làm giảm giá giao ngay cho

đến khi chúng đạt đến mức cân bằng sao cho tới khi nào mọi người không thể tiếp

tục làm như thế nữa để kiếm lời.

Tóm lại: Nỗi lo sợ về giao nhận hàng bảo đảm sự hội tụ của giá giao sau và

giá giao ngay theo thời gian và làm tăng tính hội nhập của hợp đồng giao sau và giá

giao sau.

Hành động mua trên một thị trường và bán chúng trên một thị trường khác và

ngược lại bảo đảm rằng giá giao ngay và giá giao sau sẽ hội tụ với nhau. Nỗi “lo

sợ” rằng việc giao nhận có thể hoặc là ở phía bên “giao” hoặc là ở phía bên “nhận”



10



làm cho giá giao sau và giá giao ngay sẽ tiến đến gần nhau hoặc là các nhà kinh

doanh chênh lệch (arbitrager) sẽ khiến chúng tiến gần nhau bằng những lỗ lực tìm

kiếm lợi nhuận từ bất kỳ những không ngang giá nào.

1.4.4. Sự hội tụ của giá giao ngay và giá giao sau vào ngày đáo hạn

Trước khi hợp đồng giao sau đáo hạn, nếu giá giao sau cao hơn giá giao

ngay, sẽ khuyến khích mọi người mua hàng trên thị trường giao ngay và đồng thời

tiến hành bán giao sau làm cho giá giao sau giảm. Bằng việc bán lại hợp đồng ngay

bây giờ, người nắm giữ vị thế mua sẽ thu được một khoản tiền lãi. Khoản lãi này sẽ

khơng còn nữa nếu như họ nắm giữ chúng cho đến khi đáo hạn vì tại thời điểm đáo

hạn giá giao sau bằng với giá giao ngay của tài sản cơ sở. Cùng lúc đó, những người

có nhu cầu mua hàng hóa có thể thấy giá giao ngay quá thấp và tiến hành mua hàng

tạo áp lực tăng giá giao ngay.

Trong mỗi trường hợp, giá giao ngay và giá giao sau sẽ hội tụ về với nhau

khi thời hạn thanh tốn cuối cùng đến gần.

1.4.5. Đóng vị thế một hợp đồng giao sau

Nghĩa vụ của một hợp đồng giao sau có thể được thực hiện thơng qua q

trình giao hàng hoặc là thơng qua bù trừ. Trong trường hợp hợp đồng được thanh

toán bằng tiền mặt, sẽ khơng có các cuộc giao nhận xảy ra. Trong trường hợp có

giao nhận hàng giữa hai bên, những người tham gia hợp đồng nên làm quen với các

điều kiện giao nhận hàng vốn dĩ luôn luôn thay đổi để đoan chắc rằng việc giao

nhận hàng hóa diễn ra theo ý mình mong muốn. Trong trường hợp thanh tốn bù

trừ người nắm giữ hợp đồng giao sau sẽ thực hiện một vị thế bằng nhau nhưng trái

ngược với vị thế giao sau hiện tại.

Nếu bán (1) Giao hàng hóa và chấp nhận thanh toán theo các quy định về

thời hạn và địa điểm giao hàng và (2) Mua một số lượng tự hợp đồng giao sau (bù

trừ vị thế ban đầu).

Nếu mua (1) Nhận hàng hóa và chi trả đầy đủ theo các quy định về thời hạn

và địa điểm giao hàng và (2) Bán lại một số lượng tương tự hợp đồng giao sau (bù

trừ vị thế ban đầu).



11



1.4.6. Cơ chế của phòng ngừa đơn

Phòng ngừa thơng qua hợp đồng giao sau cho phép các nhà sản xuất thiết lập

một mức giá cố định. Do bản chất bù trừ của hợp đồng giao sau và hợp đồng giao

ngay, nên bất kỳ khoản lỗ (hoặc lãi) nào trong một thị trường này sẽ được bù trừ

bằng một khoản lãi (hoặc lỗ) trong thị trường khác. Vấn đề quan trọng và cũng là

kết quả cuối cùng của việc tham gia vào một hợp đồng giao sau là nhà sản xuất sẽ

có khả năng chốt lại mức giá cố định cho mình và hiệu ứng cuối cùng đối với nhà

sản xuất như thế nào, sẽ phụ thuộc vào basic.

Phòng ngừa vị thế bán: Giả dụ bây giờ đang là thời điểm ở tháng 2 và nhà

sản xuất có thơng tin cho biết giá giao ngay dự kiến vào tháng 10 có khả năng là

$400. Ở thời điểm tháng 2 này, giá giao sau tháng 10 là $420. Do có thơng tin về

giá giao ngay kỳ vọng tháng 10 là $400, nên nhà sản xuất đi đến quyết định chốt

bán một phần sản lượng sẽ bán ở cuối tháng 9 ở mức $400 (đúng như mức giá kỳ

vọng). Khi ra quyết định này nhà sản xuất có niềm tin rằng mức giá $400 sẽ tạo ra

được một tỷ suất sinh lợi hợp l ý cho vụ mùa mà mình thu hoạch vào mùa thu,

phòng ngừa rủi ro sẽ hạn chế bất kỳ khoản lỗ tiềm ẩn nào, nếu có, do giá thị trường

có khả năng sụt giảm vào tháng 10.

440



Vị thế bán lỗ

$20



420

Tháng 2



Tháng 10



Hình 1.1 Phòng ngừa vị thế bán-Giá giao sau tăng $20

“Nguồn: Nguyễn Thị Ngọc Trang (2006), Quản trị rủi ro tài chính, Nxb Thống Kê,

TP.HCM”[466].



12



Vì người sản xuất là người nắm giữ hàng hóa, nên họ tiến hành thực hiện vị

thế bán trên thị trường giao sau. Trong ví dụ này, hợp đồng giao sau tháng 10 được

bán với giá $420 vào tháng 2. Vào tháng 9, chúng ta giả dụ giá giao sau tháng 10

tăng lên là $440, kết qủa là người bán giao sau lỗ $20 (bán $420 vào tháng 2 và

mua lại $440 vào tháng 9). Hình 1.1 cho chúng ta thấy trường hợp lỗ từ vị thế bán,

do giá giao sau tăng lên $20.

Khía cạnh khác nữa của phòng ngừa rủi ro có liên quan đến thị trường giao

ngay. Trong trường hợp này, do basic được giả định là một hằng số khơng đổi vì thế

giá giao ngay cũng tăng $20, từ $400 lên $420. Lúc bấy giờ nhà sản xuất sẽ bán

hàng hóa trên thị trường giao ngay và thu về $20 lợi nhuận. Kết qủa này bù đắp lại

vào $20 khoản lỗ trên thị trường giao sau. Hình 1.2 cho chúng ta nhận diện được cơ

chế này.

Giao sau

440



420



Vị thế

bán lỗ

$20



Giao ngay



Vị thế mua

lãi $20

400

Tháng 2



Tháng 10



Hình 1.2. Lỗ vị thế bán giao sau bù trừ bằng khoản lãi giao ngay-Giá giao ngay

tăng $20.

“Nguồn: Nguyễn Thị Ngọc Trang (2006), Quản trị rủi ro tài chính, Nxb Thống Kê,

TP.HCM”[467].



Đây là tổng số ròng cả giao dịch giao ngay và giao sau, chúng sẽ xác định

hiệu quả của phòng ngừa trong khi chốt các mức giá. Việc các giao dịch có được bù

trừ hồn tồn hay khơng sẽ phụ thuộc vào basic. Phòng ngừa rủi ro thông qua hợp

đồng giao sau không đặt thành vấn đề quan trọng đối với các biến động tăng lên hay

giảm xuống của giá giao sau miễn là giá giao ngay thay đổi theo cùng chiều hướng



13



và với cùng một mức độ giống như giá giao sau. Trong ví dụ của chúng ta, basic là

một hằng số nên giá xem như đã được cố định là $400, chính vì thế các khoản lãi và

lỗ hồn tồn bù đắp cho nhau.

Khơng nên quan tâm đến lợi nhuận ở thị trường giao ngay khi tham gia vào

vị thế bán ở thị trường giao sau, khi tham gia vào một hợp đồng giao sau ở vị thế

bán, bạn đã có chủ ý bỏ qua cơ hội nhận được lợi nhuận cao hơn do giá giao ngay

có thể tăng lên trong tương lai. Bạn thật sự chỉ có một mong muốn khơng bị rơi vào

tình huống lợi nhuận có thể sụt giảm thấp hơn so với kỳ vọng, hoặc thậm chí rơi

vào tình trạng lỗ cao hơn do có khả năng giá giao ngay dự kiến giảm đi trong tương

lai.

Hình 1.3 minh họa kết cục xảy ra nếu giá giao ngay giảm $20. Trong trường

hợp này, như đã minh họa ở phần trên, vị thế bán giao sau có được lợi nhuận là $20.

Khoản lãi này sẽ bù đắp lại khoản lỗ trên thị trường giao ngay (do giá giao ngay

giảm $20). Tóm lại, trong khi phòng ngừa rủi ro thơng qua hợp đồng giao sau đã

dẫn đến khả năng từ bỏ lợi nhuận tăng lên trong thị trường giao ngay (để bù trừ cho

khoản lỗ trên hợp đồng giao sau), thì một khía cạnh khác chúng lại được bảo vệ để

chống lại khả năng sụt giảm giá trên thị trường giao ngay.

Giao sau

440

Vị thế bán lãi

$20

420

Vị thế mua lỗ

$20



Giao ngay



400

Tháng 2



Tháng 10



Hình 1.3 Lãi vị thế bán giao sau bù trừ bằng khoản lỗ giao ngay-Giá giao ngay

giảm $20.



14



“Nguồn: Nguyễn Thị Ngọc Trang (2006), Quản trị rủi ro tài chính, Nxb Thống Kê,

TP.HCM”[468].



Phòng ngừa vị thế mua: Khi tham gia vào một hợp đồng giao sau ở vị thế

mua, kết quả sẽ ở một vị thế trái ngược với người phòng ngừa vị thế bán. Các kết

quả này được thể hiện ở cột thứ ba trên bảng 1.1



Bảng 1.1 Các kết quả phòng ngừa vị thế bán và vị thế mua giao sau

Phòng ngừa vị thế bán



Phòng ngừa vị thế mua



Mở cửa giao dịch giao sau



Bán giao sau



Mua giao sau



Đóng cửa giao dịch giao sau



Mua giao sau



Bán giao sau



Giao ngay



Mua



Bán



Sụt giảm trong giá giao sau



Lãi



Lỗ



Gia tăng trong giá giao sau



Lỗ



Lãi



Sụt giảm trong giá giao ngay



Lỗ



Lãi



Gia tăng trong giá giao ngay



Lãi



Lỗ



3,25

Vị thế mua

lỗ $0,35

2,90

Tháng 2



Tháng 9



Hình 1.4. Phòng ngừa vị thế mua-Giá giao sau giảm $0,35

“Nguồn: Nguyễn Thị Ngọc Trang (2006), Quản trị rủi ro tài chính, Nxb Thống Kê,

TP.HCM”[469].



Để cho các bạn dễ hình dung hơn, bây giờ chúng ta hãy lấy ví dụ trường hợp

của một chủ trại chăn nuôi gia súc. Bây giờ là tháng 2 và giá bắp giao sau tháng 9



15



được giao dịch với giá $3,25/tạ, vì thế giá giao ngay được kỳ vọng trong tháng 9 là

$3,25/tạ. Chủ chăn nuôi gia súc quyết định chốt giá mua vào đối với khẩu phần chi

phí chăn ni vào tháng 9 với giá $3,00/tạ. Khi ra quyết định này ông chủ trại có

niềm tin rằng mức chi phí khẩu phần thức ăn là $3,00/tạ sẽ tạo ra một tỷ suất sinh

lợi hợp l ý cho cơng việc chăn ni, phòng ngừa rủi ro sẽ hạn chế bất kỳ khoản lỗ

tiềm ẩn nào, nếu có, do giá thức ăn gia súc trên thị trường có khả năng tăng lên vào

tháng 10.

Vì ơng chủ trại chăn ni là người mua hàng hóa, nên vị thế mua sẽ được

thiết lập trên thị trường giao sau. Trong ví dụ này, ơng chủ trang trại sẽ mua hợp

đồng giao sau tháng 9 với giá $3,25/tạ vào tháng 2. Như vậy, ở thời điểm tháng 2,

ông chủ trại giờ đây đã rơi vào trạng thái mua giao sau bắp trong tháng 9. Vào

tháng 9, thời điểm mua bắp, giá bắp giao sau lại giảm đi chỉ còn là $2,90/tạ, chủ

chăn nuôi thực hiện bản hợp đồng giao sau tháng 9. Hình 1.4 cho thấy, vì giá bắp

giao sau giảm nên vị thế mua giao sau đã tạo ra một khoản lỗ $0,35/tạ - mua với giá

$3,25/tạ vào tháng 2 và bán $2,90/tạ vào tháng 9.

Trong giao dịch này, bạn còn phải quan tâm đến một khía cạnh khác nữa của

phòng ngừa rủi ro có liên quan đến thị trường giao ngay. Theo đó, do basic được giả

định là một hằng số khơng đổi vì thế giá giao ngay cũng giảm $0,35/tạ (từ $3,00/tạ

xuống $2,65/tạ). Do giờ đây ông chủ chăn nuôi mua bắp trên thị trường giao ngay ít

hơn $0,35/tạ, nên ông đã bù đắp lại vào $0,35/tạ lỗ trên thị trường giao sau. Hình

1.5 sẽ cho bạn thấy được cơ chế này. Nếu giá bắp tăng lên ông chủ trại chăn nuôi sẽ

phải trả với giá khẩu phần thức ăn cao hơn trên thị trường giao ngay. Tuy nhiên chi

phí chăn ni cao hơn này sẽ được bù đắp lại bằng với khoản lãi từ giao dịch giao

sau. Như vậy cho dù bất cứ điều gì xẩy ra đi chăng nữa, chi phí chăn ni ròng cũng

chỉ là $3,00/tạ như dự kiến của chủ chăn nuôi.

Đây là tổng số ròng cả giao dịch giao ngay và giao sau và chúng sẽ xác định

hiệu quả của phòng ngừa rủi ro trong khi chốt các mức giá. Việc các giao dịch có

được bù trừ hồn tồn hay khơng sẽ phụ thuộc vào basic. Phòng ngừa rủi ro thơng

qua hợp đồng giao sau không đặt thành vấn đề quan trọng đối với các biến động



16



tăng lên hay giảm xuống của giá giao sau miễn là giá giao ngay thay đổi theo cùng

một chiều hướng và cùng một mức độ giống như giá giao sau.

Giao sau



3,25



Lỗ

$0,35

3,00

2,90



Lãi

$0,35



Giao ngay



2,65

Tháng 2



Tháng 9



Hình 1.5. Lỗ vị thế mua giao sau bù trừ bằng khoản lãi giao ngay-Giá giao ngay

giảm $0,35

“Nguồn: Nguyễn Thị Ngọc Trang (2006), Quản trị rủi ro tài chính, Nxb Thống Kê,

TP.HCM”[470].



1.5. Rủi ro basic

1.5.1. Khái niệm

Basic là thước đo nói lên mối quan hệ giữa hợp đồng giao sau và hợp đồng

giao ngay, basic thể hiện chênh lệch giữa giá giao ngay và giá giao sau. Basic sẽ là

âm khi giá giao ngay thấp hơn giá giao sau hoặc là dương khi giá giao ngay cao hơn

giá giao sau.

1.5.2. Basic cho ngũ cốc và hạt có dầu

Các loại ngũ cốc và hạt có dầu được thu hoạch tại những thời điểm thu hoạch

trong năm và sau đó được lưu trữ lại trong kho quanh năm. Giá giao sau có



nghĩa



quan trọng trong việc lưu trữ hạt có dầu và ngũ cốc, chúng có thể tạo ra động cơ để

lưu trữ hàng hóa, hoặc ngược lại khơng khuyến khích nhà sản xuất lưu trữ hàng hóa

trong kho khi nguồn cung ứng trở nên khan hiếm.

Các diễn biến này được phản ảnh trong chênh lệch giữa giá cả cho các tháng

đáo hạn khác nhau trên hợp đồng giao sau đối với ngũ cốc và hạt có dầu. Mối quan

hệ này được phản ánh trong basic và do đó basic chính là dấu hiệu cho thấy về



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ L Ý LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG GIAO SAU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×