Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

13



Loại dữ liệu tác giả sử dụng trong bài nghiên cứu là dữ liệu bảng hay còn gọi là

dữ liệu kết hợp các dữ liệu theo chuỗi thời gian và không gian, tiêu biểu cho sự

biến thiên theo thời gian của các đơn vị chéo theo không gian, liên quan đến toán

học và thống kê khá phức tạp. Tuy nhiên tác giả chỉ nghiên cứu một phần then

chốt cơ bản của dữ liệu bảng. Ưu điểm của việc sử dụng dữ liệu bảng là kết hợp

các chuỗi theo thời gian của các quan sát theo không gian, dữ liệu bảng cung cấp

những dữ liệu có nhiều thơng tin hơn, đa dạng hơn, ít cộng tuyến hơn giữa các

biến số, nhiều bậc tự do và hiệu quả hơn nhưng khơng có nghĩa rằng khơng có

vấn đề khi lập mơ hình dữ liệu bảng.

2.2.



Mơ hình ước lượng và các giả thuyết nghiên cứu



2.2.1.



Mơ hình ước lượng

Các biến độc lập được tác giả sử dụng trong mơ hình nghiên cứu là những biến

phổ biến căn cứ vào các kết quả nghiên cứu thực nghiệm và cơ sở lý thuyết được

trình bày trong chương 1, bao gồm: tỷ số giá thị trường trên giá trị sổ sách (P/B),

giá trị thị trường của công ty (LOG(CAP)), tốc độ tăng trưởng thu nhập

(GROWTH), hệ số rủi ro beta (BETA) tỷ số nợ (LEV), hệ số thu nhập trên vốn

cổ phần (ROE), tỷ lệ cổ tức chi trả (D/E), tỷ suất thu nhập của cổ đơng

(MKRETURN)

Mơ hình của nghiên cứu này dựa trên mơ hình của Samya Tahir (2010) nhằm

kiểm tra tác động của các yếu tố ảnh hưởng lên hệ số giá trên thu nhập tại Việt

Nam như sau:

P/Eit = C + β1 P/Bit + β2 LOG(CAP)it + β3 GROWTHit + β4 BETAit + β5 LEVit

+ β6 ROEit + β7 D/Eit + β8 MKRETURNit + εit



Từ hàm hồi quy trên, bài nghiên cứu tiếp tục mô tả các biến trong mơ hình:

Tỷ số giá trên thu nhập (Price-Earnings Ratio - P/E)

P/E là tỷ lệ giữa giá thị trường và lợi nhuận ròng trên mỗi cổ phần của một cơng

ty. Chính định nghĩa này đã ngầm định một cách đơn giản để tính tốn tỷ số này,

chỉ cần lấy giá hiện tại của mỗi cổ phần chia cho lợi nhuận ròng trên mỗi cổ

phần đó.



14



𝑃

𝐺𝑖á 𝑡ℎị 𝑡𝑟ườ𝑛𝑔 𝑐ổ 𝑝ℎ𝑖ế𝑢 (𝑀𝑎𝑟𝑘𝑒𝑡 𝑃𝑟𝑖𝑐𝑒)

=

𝐸

𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑚ỗ𝑖 𝑐ổ 𝑝ℎầ𝑛 (𝐸𝑃𝑆)



Tỷ số giá thị trường trên giá sổ sách (Price to Book Ratio - P/B)

Hệ số giá thị trường trên giá ghi sổ là hệ số được sử dụng để so sánh giá trị

trường của một cổ phiếu so với giá trị ghi sổ của cổ phiếu đó. Tỉ lệ này được tính

bằng cách lấy giá đóng cửa hiện tại của cổ phiếu chia cho giá trị ghi sổ tại kỳ gần

nhất của cổ phiếu đó.

Cơng thức tính như sau:

𝑇ỷ 𝑠ố 𝑔𝑖á 𝑡ℎị 𝑡𝑟ườ𝑛𝑔 𝑡𝑟ê𝑛 𝑔𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑔ℎ𝑖 𝑠ổ =



Trong đó



𝐺𝑖á 𝑔ℎ𝑖 𝑠ổ 𝑐ủ𝑎 𝑐ổ 𝑝ℎ𝑖ế𝑢

=



=



𝐺𝑖á 𝑡ℎị 𝑡𝑟ườ𝑛𝑔 𝑐ủ𝑎 𝑐ổ 𝑝ℎ𝑖ế𝑢

𝐺𝑖á 𝑔ℎ𝑖 𝑠ổ 𝑐ủ𝑎 𝑐ổ 𝑝ℎ𝑖ế𝑢



𝑇ổ𝑛𝑔 𝑔𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 − 𝐺𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑣ơ ℎì𝑛ℎ 𝑣à 𝑛ợ

𝑆ố 𝑙ượ𝑛𝑔 𝑐ổ 𝑝ℎ𝑖ế𝑢 𝑙ư𝑢 ℎà𝑛ℎ



𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢



𝑆ố 𝑙ượ𝑛𝑔 𝑐ổ 𝑝ℎ𝑖ế𝑢 𝑙ư𝑢 ℎà𝑛ℎ



Tỷ số này thể hiện được giá trị kỳ vọng mà cơng ty tạo ra cho tài sản của mình

theo đánh giá của thị trường. Tỷ số P/B cũng đại diện cho mức tăng trưởng của

tài sản là bao nhiêu so với giá trị quá khứ của nó.

Đối với các nhà đầu tư, P/B là cơng cụ giúp họ có thể tìm kiếm được các cổ phiếu

có giá thấp mà phần lớn thị trường bỏ qua. Nếu một doanh nghiệp đang bán cổ

phần với mức giá thấp hơn giá trị ghi sổ của nó (tức là có tỉ lệ P/B nhỏ hơn 1),

khi đó có hai trường hợp sẽ xảy ra: hoặc là thị trường đang nghĩ rằng giá trị tài

sản của công ty đã bị thổi phồng quá mức hoặc là thu nhập trên tài sản của công

ty là quá thấp.

Nếu như điều đầu tiên xảy ra, các nhà đầu tư nên tránh xa các cổ phiếu này bởi vì

giá trị tài sản của cơng ty sẽ nhanh chóng được thị trường điều chỉnh về đúng giá

trị thật. Còn nếu điều thứ hai đúng thì có khả năng là lãnh đạo mới của công ty

hoặc các điều kiện kinh doanh mới sẽ đem lại những triển vọng kinh doanh cho



15



công ty, tạo dòng thu nhập dương và tăng lợi nhuận cho các cổ đơng. Ngược lại,

nếu một cơng ty có giá thị trường của cổ phiếu cao hơn giá trị ghi sổ thì đây

thường là dấu hiệu cho thấy cơng ty làm ăn khá tốt, thu nhập trên tài sản cao.

Tỷ số P/B chỉ thực sự có ích khi nhà đầu tư xem xét các doanh nghiệp có mức độ

tập trung vốn cao hoặc các cơng ty tài chính bởi giá trị tài sản của các công ty

này tương đối lớn. Giá trị ghi sổ khơng có ý nghĩa nhiều lắm với các cơng ty dịch

vụ vì giá trị tài sản hữu hình của chúng khơng lớn.

Giá trị thị trường của Công ty (Market Capitalization - CAP)

Quy mô và tốc độ tăng của giá trị thị trường là thước đo vô cùng quan trọng để

đánh giá thành công hay thất bại của một doanh nghiệp niêm yết công khai. Tuy

vậy giá trị vốn hố thị trường còn có thể tăng giảm do một số ngun nhân khơng

liên quan gì đến kết quả hoạt động, ví dụ mua cổ phiếu ngân quỹ, sát nhập, mua

lại công ty khác, bán đi một số bộ phận cơng ty…Giá trị vốn hố thị trường phản

ánh giá cổ phiếu của một công ty, trong khi giá này có thể thay đổi theo kì vọng

của các nhà đầu tư, vì vậy tỷ số này khơng phản ánh hồn tồn chính xác giá trị

thực sự của doanh nghiệp đó.

Trong bài nghiên cứu, tác giả sử dụng giá trị vốn hố thị trường như là thước đo

quy mơ của một doanh nghiệp. Giá trị vốn hóa thị trường là tổng giá trị thị trường

của doanh nghiệp, được xác định bằng số tiền bỏ ra để mua lại toàn bộ doanh

nghiệp này trong điều kiện hiện tại, tương đương với giá thị trường của cổ phiếu

nhân với số cổ phiếu phổ thơng đang lưu hành.

Cơng thức tính

𝐺𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑡ℎị 𝑡𝑟ườ𝑛𝑔 𝑐ủ𝑎 𝐶ô𝑛𝑔 𝑡𝑦



= 𝐺𝑖á 𝑡ℎị 𝑡𝑟ườ𝑛𝑔 𝑐ủ𝑎 𝑐ổ 𝑝ℎ𝑖ế𝑢 ∗ 𝑆ố 𝑙ượ𝑛𝑔 𝑐ổ 𝑝ℎ𝑖ế𝑢 𝑙ư𝑢 ℎà𝑛ℎ



Do giá trị thị trường của cơng ty là một biến khơng dừng vì thế sẽ làm giảm mức

ý nghĩa khi tiến hành hồi quy tuyến tính do hiện tượng phương sai thay đổi. Để

khắc phục điều này, nhân tố vốn hóa thị trường sẽ được thể hiện dưới dạng

logarithm (LogCap thay vì Cap).

Tốc độ tăng trưởng thu nhập (Income Growth Rate - GROWTH)



16



Tốc độ tăng trưởng thu nhập chính là tỷ lệ % chênh lệch lợi nhuận ròng trên mỗi

cổ phiếu (%ΔEPS) giữa hai kỳ hoạt động kế tiếp của doanh nghiệp.

Công thức tính

𝑇ố𝑐 độ 𝑡ă𝑛𝑔 𝑡𝑟ưở𝑛𝑔 𝐸𝑃𝑆 𝑖 =



𝐸𝑃𝑆𝑖 − 𝐸𝑃𝑆𝑖−1

|𝐸𝑃𝑆𝑖−1 |



Trong đó EPSi là thu nhập trên cổ phiếu của kỳ i. Một kỳ trong bài nghiên cứu

được hiểu là 4 quý gần nhất, 1 năm gần nhất. EPS được sử dụng là EPS cơ bản.

Tốc độ tăng trưởng thu nhập nhỏ hơn 0 đồng nghĩa với tăng trưởng âm. Trường

hợp thu nhập trên cổ phiếu của một trong số các kỳ trước kỳ hiện tại bằng khơng

thì tỷ lệ tăng trưởng thu nhập trên cổ phiếu là không xác định.

Tỷ lệ tăng trưởng thu nhập trên cổ phiếu được sử dụng trong đánh giá thị giá của

doanh nghiệp, tỷ lệ này cao thì doanh nghiệp cũng được đánh giá cao và ngược

lại.

Tùy vào xu hướng của tỷ lệ tăng trưởng thu nhập trên cổ phiếu mà mức tăng

trưởng được đánh giá là bền vững, không ổn định, phi mã hay tuột dốc. Những

doanh nghiệp có mức tăng trưởng thu nhập trên cổ phiếu ổn định ở mức cao

luôn được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm.

Hệ số rủi ro (Risk Rate - BETA)

Có nhiều cách để thể hiện biến rủi ro cho một chứng khoán: rủi ro hệ thống đo

bằng beta, và sai lệch chuẩn đo bằng σ. Tuy nhiên, σ sẽ đại diện cho tổng rủi ro

(bao gồm rủi ro hệ thống và rủi ro cá biệt), còn beta thì đại diện cho rủi ro hệ

thống của cơng ty và là tỷ lệ bù rủi ro của công ty so với thị trường. Vì rủi ro cá

biệt có thể giảm thiểu thơng qua đa dạng hóa, nên rủi ro hệ thống có vai trò đại

diện cho rủi ro của cơ hội đầu tư. Trong bài nghiên cứu, tác giả sử dụng hệ số

beta đại diện cho rủi ro công ty.

Hệ số beta là hệ số đo lường mức độ biến động hay còn gọi là thước đo rủi ro hệ

thống của một chứng khoán hay một danh mục đầu tư trong tương quan với toàn

bộ thị trường. Hệ số beta là một tham số quan trọng trong mô hình định giá tài

sản vốn (CAPM).



17



Cơng thức



Trong đó:



𝐵𝑒𝑡𝑎 =



𝐶𝑜𝑣𝑎𝑟(𝑅𝑖, 𝑅𝑚)

𝑉𝑎𝑟(𝑅𝑚)



-



Ri : Tỷ suất sinh lời của chứng khoán.



-



Rm: Tỷ suất sinh lời của thị trường (ở đây là VN-Index).



-



Var(Rm): Phương sai của tỷ suất sinh lời của thị trường.



-



Covar(Ri,Rm): Hiệp phương sai của tỷ suất sinh lời của chứng khoán và tỷ

suất sinh lời của thị trường.



Một chứng khốn có beta bằng 1, muốn ám chỉ rằng giá chứng khoán đó sẽ di

chuyển cùng bước đi với thị trường. Một chứng khốn có beta nhỏ hơn 1 có

nghĩa là chứng khốn đó sẽ có mức thay đổi ít hơn mức thay đổi của thị trường.

Và ngược lại, beta lớn hơn 1 sẽ chúng ra biết giá chứng khoán sẽ thay đổi nhiều

hơn mức dao động của thị trường. Các cổ phiếu có beta âm biến động ngược lại

với xu hướng của thị trường. Cụ thể hơn, nếu một chứng khoán có beta bằng 1,2

thì trên lý thuyết mức biến động của chứng khoán này sẽ cao hơn mức biến động

chung của thị trường 20%.

Các chuyên gia ngân hàng và môi giới chứng khốn tính beta từ hành vi q khứ

của các loại cổ phiếu của các cổ phiếu riêng biệt và của cả thị trường chứng

khoán. Điều lý tưởng đối với họ là tìm được những cổ phiếu có beta âm mà sẽ

làm giảm đáng kể rủi ro của một danh mục đầu tư có thành phần khác thay đổi

cùng với cả thị trường. Thậm chí các cổ phiểu có beta thấp thì độc lập ở mức độ

nhất định với phần còn lại của cả thị trường và cho phép góp chung một số rủi

ro. Các cổ phiếu có beta cao khơng được ưa thích. Đưa chúng ta vào danh mục

làm tăng tổng số rủi ro.

Trong tình hình cân bằng của thị trường chứng khán, các cổ phiếu có beta thấp

có giá cao và tỷ lệ lợi tức trung bình thấp. Ngược lại, các cổ phiếu có beta cao

hơn làm tăng thêm rủi ro của danh mục đầu tư của những nhà đầu tư và sẽ chỉ



18



bán được chúng có giá thấp và tỷ suất lợi tức trung bình cao để có thể bù đắp

cho những đặc điểm rủi ro không đáng mong muốn của chúng

Tỷ số nợ (Total Debt to Total Assets Ratio - LEV)

Tỷ số nợ được tính bằng cách lấy tổng nợ (tức là gồm cả nợ ngắn hạn lẫn nợ dài

hạn) của doanh nghiệp trong một thời kỳ nào đó chia cho giá trị tổng tài

sản trong cùng kỳ.

Cơng thức tính

𝑇ỷ 𝑠ố 𝑛ợ =



𝑇ổ𝑛𝑔 𝑁ợ



𝑇ổ𝑛𝑔 𝑇à𝑖 𝑠ả𝑛



Tỷ số nợ thể hiện mức rủi ro tài chính mà doanh nghiệp phải gánh chịu. Tỷ lệ nợ

càng cao thì rủi ro tài chính càng cao. Tỷ số này gắn liền với khái niệm đòn bẩy

tài chính.

Việc sử dụng vốn nợ trong kinh doanh giúp doanh nghiệp giảm được suất sinh

lợi yêu cầu và gia tăng lợi nhuận cho cổ đơng, qua đó làm tăng giá trị của cơng

ty. Tuy nhiên, việc gia tăng sử dụng vốn nợ liên tục sẽ gây ra rủi ro phá sản cho

công ty. Như vậy chúng ta cần xác định cơ cấu vốn thích hợp để cho một mức

hiệu quả nhất.

Hệ số thu nhập trên vốn cổ phần (Return on Equity - ROE)

Hệ số thu nhập trên vốn cổ phần phản ánh mức thu nhập ròng trên vốn cổ phần

của cổ đơng (hay trên giá trị tài sản ròng hữu hình). Tỷ số này là thước đo chính

xác nhất để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích lũy được tạo ra bao nhiêu đồng

lời và thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu cùng

ngành trên thị trường, từ đó tham khảo khi quyết định mua cổ phiếu của công ty

nào.

ROE càng cao càng chứng tỏ công ty sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đơng,

có nghĩa là cơng ty đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đơng với vốn đi vay

để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong q trình huy động vốn, mở rộng



19



quy mơ. Cho nên hệ số ROE càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn các nhà đầu

tư hơn.

Hệ số thu nhập trên vốn cổ phần được tính bằng cách lấy lợi nhuận ròng theo

niên độ kế tốn sau khi đã trả cổ tức cho cổ phần ưu đãi nhưng trước khi trả cổ

tức cho cổ phần thường, chia cho toàn bộ vốn chủ sở hữu (hay vốn cổ phần) vào

lúc đầu niên độ kế tốn.

Cơng thức tính

𝑅𝑂𝐸 =



𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑟ò𝑛𝑔

𝑉ố𝑛 𝑐ổ 𝑝ℎầ𝑛



Tỷ lệ chi trả cổ tức (Dividend Payout Ratio - D/E)

Tỷ lệ chi trả cổ tức cho biết tỷ lệ cổ tức tiền mặt trả hàng năm cho cổ đông so

với lợi nhn tạo ra.

Cơng thức tính

𝑇ỷ 𝑙ệ 𝑡𝑟ả 𝑐ổ 𝑡ứ𝑐 =



𝐶ổ 𝑡ứ𝑐 𝑡𝑖ề𝑛 𝑚ặ𝑡 𝑚ỗ𝑖 𝑐ổ 𝑝ℎầ𝑛

𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑚ỗ𝑖 𝑐ổ 𝑝ℎầ𝑛



Một tỷ lệ chi trả cổ tức thấp có thể làm phật lòng cổ đơng, trong khi tỷ lệ chi trả

cổ tức q cao có thể khiến cơng ty mất cân đối dòng tiền, thiếu hụt vốn cho

việc đầu tư trong tương lai. Thông thường, các công ty sẽ cân đối giữa mục tiêu

trả cổ tức cho cổ đông và giữ lại thu nhập để tái đầu tư.

Lý thuyết tín hiệu cổ tức gợi ý rằng: thông báo của công ty về một khoảng gia

tăng trong việc chi trả cổ tức là một dấu chỉ nói lên rằng cơng ty đang có một

viễn cảnh tương lai đầy hứa hẹn.

Tỷ suất thu nhập của nhà đầu tư (MKRETURN)

Trong bài nghiên cứu, tỷ suất thu nhập của nhà đầu tư được hiểu bao gồm:

-



Mức lãi vốn (Capital Gain): là mức chênh lệch giá bán so với giá mua chứng

khoán



-



Tỷ lệ cổ tức trên thị giá cổ phần (Dividend Yield): Tỷ số này phản ánh mối

quan hệ giữa cổ tức nhà đầu tư nhận được với thị giá của cổ phiếu mà nhà

đầu tư mua vào.



20



Cơng thức tính

𝑇ỷ 𝑠𝑢ấ𝑡 𝑡ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑐ủ𝑎 𝑁Đ𝑇



= 𝑀ứ𝑐 𝑙ã𝑖 𝑣ố𝑛 + 𝑇ỷ 𝑙ệ 𝑐ổ 𝑡ứ𝑐 𝑡𝑟ê𝑛 𝑡ℎị 𝑔𝑖á 𝑐ổ 𝑝ℎ𝑖ế𝑢



Phân tích mối quan hệ giữa cổ tức nhà đầu tư nhận được từ công ty và giá nhà

đầu tư mua cổ phiếu, chúng ta thấy có hai trường hợp sau đây:

-



Trường hợp 1: Nếu nhà đầu tư mua chứng khoán xong rồi chờ chứng khoán

lên giá để hưởng chênh lệch gọi là lãi vốn thì nhà đầu tư sẽ không quan tâm

nhiều đến Yield. Lúc này Yield khơng có ý nghĩ gì thực sự quan trọng với họ

so với các tỷ số P/E, EPS...

Trong trường hợp này, các nhà đầu tư đã phân tích mối quan hệ giữa Yield

và EPS. Nếu Yield thấp, EPS cao thì họ hy vọng công ty sử dụng phần lợi

nhuận để tái đầu tư tăng lợi nhuận cho các năm tiếp theo giúp P/E giảm. Lúc

này họ dễ dàng bán lại cổ phiếu với P/E cao để có lãi vốn.



-



Trường hợp 2: Nếu nhà đầu tư mua chứng khoán để đầu tư lâu dài thì tất

nhiên họ sẽ quan tâm tới việc thu lợi nhuận hàng năm, hàng quý. Khi đó

Yield là mục tiêu chính để họ quan tâm.



Khi cơng ty chia cổ tức cao có nghĩa là khơng cần sử dụng lợi nhuận thặng dư.

Điều này có thể có nhiều lý do: công ty sử dụng vốn vay, công ty chưa có kế

hoạch mở rộng sản xuất hoặc thị phần cơng ty đã bão hồ. Khi đó lợi nhuận

khơng được dự đốn tăng nhiều trong năm tới đồng nghĩa P/E khơng giảm nhiều

dẫn đến việc các nhà đầu tư không hy vọng sẽ tăng giá cổ phiếu của mình trong

tương lai.

2.2.2.



Các giả thuyết nghiên cứu

Căn cứ vào lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm trước đây, tác giả đưa ra

các giả thuyết nghiên cứu được trình bày chi tiết dưới đây.

Giả thuyết 1: Tỷ số giá thị trường trên giá trị sổ sách (P/B) của Công ty tương

quan dương (+) với hệ số giá trên thu nhập (P/E).

P/B là tỷ số quan trọng thể hiện mức hấp dẫn của cổ phiếu trên thị trường. Sự sai

biệt càng lớn giữa giá thị trường và giá trị bút toán (P/B càng lớn) thể hiện công



21



ty đã tạo ra giá trị cho cổ đông càng lớn thông qua kỳ vọng lợi nhuận mà nó có

thể đạt được trong tương lai. Do đó, kỳ vọng về sự tương quan giữa P/E và P/B

là đồng biến.

Giả thuyết này được ủng hộ bởi kết quả nghiên cứu thực nghiệm của Lundberg

and Kulling (2007).

Giả thuyết 2: Giá trị thị trường của Công ty (LogCap) tương quan dương (+)

với hệ số giá trên thu nhập (P/E)

Kết quả của một số nghiên cứu trước đây đã cho thấy rằng có mối liên giữa vốn

hóa cơng ty và P/E. Lundberg and Kulling (2007) trong nghiên cứu định lượng

về các nhân tố ảnh hưởng tới P/E tại thị trường chứng khoán Thùy Điển đã cho

ra kết quả là có sự liên hệ ngược chiều giữa vốn hóa và P/E. Tuy nhiên trong

một nghiên cứu tổng quát hơn, Bagella, Becchetti and Adriani (2003) khi phân

tích các cổ phiếu cơng nghệ cao của Mỹ và Châu Âu thì cho kết quả là mức vốn

hóa có liên hệ đồng biến trên cả hai thị trường này. Những cơng ty lớn hơn thì

có P/E lớn hơn so với những cơng ty có vốn nhỏ hơn nó trong cùng ngành.

Trong thực tế, tại thị trường chứng khốn Việt Nam, nhà đầu tư dựa nhiều vào

quy mơ và uy tín của cơng ty khi quyết định đầu tư. Vì thế, đây là một yếu tố

cần quan tâm và được đưa vào trong mơ hình để tìm mối tương quan giữa nó với

P/E. Tác giả kỳ vọng về mối tương quan giữa vốn hóa cơng ty với P/E là đồng

biến.

Giả thuyết 3: Tốc độ tăng trưởng thu nhập (Growth) tương quan dương (+)

với hệ số giá trên thu nhập (P/E)

Tốc độ tăng trưởng thu nhập là một trong những chỉ tiêu chính đánh giá quan

trọng đối với giá trị cổ phiếu. Thông thường tốc độ tăng trưởng càng cao thì P/E

sẽ càng cao. Đây là yếu tố quan trọng trong việc định giá của chứng khốn trong

mơ hình (Gordon 1962), vì thế, để xét sự tương quan giữa tốc độ tăng trưởng và

P/E ta sẽ đưa yếu tố này vào mơ hình.

Kỳ vọng của tác giả về tương quan giữa P/E và tốc độ tăng trưởng thu nhập là

đồng biến. Giả thuyết này được ủng hộ bởi các nghiên cứu thực nghiệm của



22



Vahir Faezinia (2012), Azam (2010), Lundberg and Kulling (2007) và Reilly et

al. (1983)

Giả thuyết 4: Hệ số rủi ro (Beta) tương quan âm (-) với hệ số giá trên thu

nhập (P/E)

Thông thường rủi ro công ty càng cao thỉ nhà đầu tư sẽ đòi mức sinh lợi càng

cao dẫn tới P/E sẽ là càng thấp và ngược lại. Điều này được ủng hộ bởi nghiên

cứu thực nghiệm của Michele Bagella, Leonardo Becchetti và Fabrizio Adriani

(2003) Do đó kỳ vọng tương quan giữa P/E và beta là tương quan nghịch biến.

Giả thuyết 5: Tỷ số nợ (LEV) tương quan âm (-)với hệ số giá trên thu nhập

(P/E)

Đây là tỷ số thể hiện mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính trong cơng ty. Tỷ số nợ

càng cao thì rủi ro tài chính càng cao. Câu hỏi đặt ra liệu rằng khi vốn nợ gia

tăng thì có thực sự ảnh hưởng tới quyết định của nhà đầu tư thông qua P/E hay

không. Như vậy, kỳ vọng về tương quan giữa tỷ số nợ và P/E là nghịch biến. Giả

thuyết này được ủng hộ bởi nghiên cứu thực nghiệm của Vahir Faezinia (2012).

Giả thuyết 6: Hệ số thu nhập trên vốn cổ phần (ROE) tương quan dương (+)

với hệ số giá trên thu nhập (P/E)

Một cơng ty có tỷ suất thu nhập trên vốn cổ phần cao chứng tỏ cơng ty đó sử

dụng vốn cổ đơng có hiệu quả, làm gia tăng giá trị cơng ty và lợi ích cổ đơng, từ

đó kỳ vọng giá cổ phiếu tăng và P/E tăng. Kỳ vọng về tương quan giữa hệ số thu

nhập trên vốn cổ phần với P/E là đồng biến. Giả thuyết này được ủng hộ bởi

nghiên cứu thực nghiệm của Vahir Faezinia (2012) nhưng trong nghiên cứu của

Lambros Stefanis (2002) và Salim Chahine & Taufiq Choudhry (2002) thì mối

quan hệ này là nghịch biến.

Giả thuyết 7: Tỷ lệ chi trả cổ tức(D/E) tương quan dương (+) với hệ số giá

trên thu nhập(P/E)

Theo thuyết tín hiệu cổ tức, tất cả các thông báo của công ty về việc chi trả cổ

tức nhiều hơn được xem như là một tín hiệu cho thấy công ty đang sở hữu nhiều

dự án triển vọng trong tương lai. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng thị



23



trường phản ứng tích cực đối với các thơng tin chi trả cổ tức nhiều hơn. Mức chi

trả cổ tức theo lý thuyết tín hiệu cổ tức (Signaling Theory) (H. DeAngelo, L.

DeAngelo, and D. Skinner 1996 trích trong Brealey−Meyers 2003) cho là nếu cổ

tức được trả cao và ổn định sẽ làm gia tăng giá thị trường của sổ phiếu và có tác

động cùng chiều đến P/E. Ngồi ra, mối tương quan đồng biến này còn được

ủng hộ bởi nhiều nghiên cứu thực nghiệm của Samya Tahir (2012), Azam

(2010), Shilpa.M (2007), Michele Bagella (2003), Barry White (2000) và Reilly

et al. (1983)

Giả thuyết 8: Tỷ suất thu nhập của cổ đông (MKRETURN) tương quan

dương (+) với hệ số giá trên thu nhập (P/E)

Kỳ vọng về tương quan giữa tỷ suất thu nhập của cổ đông và P/E là đồng biến.

Điều này được ủng hộ bởi nghiên cứu thực nghiệm của Samya Tahir (2012)

Bảng 2.1: Bảng tổng hợp kỳ vọng giả thuyết về tương quan giữa các biến

độc lập và biến phụ thuộc

Biến độc lập



Dấu theo nghiên cứu thực nghiệm

được báo cáo



Dấu theo dự



Dấu kỳ



đoán của các lý vọng của

thuyết về P/E



tác giả



Hệ số giá thị

trường trên



(+) Lundberg and Kulling (2007)



(+)



giá trị sổ

sách

(+) Vahir Faezinia (2012)

Quy mô



(-) Lundberg and Kulling (2007)



công ty



(+) Anderson and Brooks (2006)



(+)



(+) Michele Bagella (2003)

Tốc độ tăng

trưởng thu

nhập



(+) Vahir Faezinia (2012)

(+) Azam (2010)



(+) Mơ hình



(+) Lundberg and Kulling (2007)



Gordon



(+) Reilly et al. (1983)



(+)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×