Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Luận điểm ra đời Lý thuyết tài chính hành vi

1 Luận điểm ra đời Lý thuyết tài chính hành vi

Tải bản đầy đủ - 0trang

7



Có thể nói ý tưởng về Lý thuyết tài chính hành vi ra đời rất lâu nhưng lại

được ít nhiều người để ý và nghiên cứu. Trước đây, các nhà kinh tế học muốn tách

kinh tế học ra thành một ngành khoa học tự nhiên, mà khoa học tự nhiên thì được

giải thích bằng các quy luật, quy chuẩn có phần khơ khan. Sau cuộc khủng hoảng

tài chính 1987 và khủng hoảng tài chính 2008, dường như người ta đặt dấu hỏi lên

các quy luật mà trước giờ chúng ta đang nghiên cứu dựa trên rủi ro và tỷ suất sinh

lợi vốn dĩ khá “lạnh lùng”.

Khi nhắc tới lịch sử của Lý thuyết tài chính hành vi, người ta thường nhắc tới

khởi đầu từ nghiên cứu đầu tay của nhà tâm lý học người Pháp, Jean-Gabriel De

Tarde (1843 – 1904), về ứng dụng tâm lý học vào khoa học kinh tế với tác phẩm

“La psychologie économique” xuất bản năm 1903 và George Charles Selden với tác

phẩm “Psychology of the Stock Market” xuất bản năm 1912. Sau đó, mãi tới năm

1973, tài chính hành vi mới có những bước tiến đáng kể khi mà hai nhà tâm lý học

tài năng Amos Tversky và Daniel Kahneman đưa ra những thuật toán sẵn có để ước

lượng tần suất nhóm hay xác suất của các sự kiện bằng thuật toán này. Tversky và

Daniel Kahneman đã đưa ra 03 thuật toán được ứng dụng nhiều trong việc đưa ra

quyết định trong tình trạng khơng chắc chắn:

 Tính đại diện: Khi ai đó u cầu đánh giá xác xuất mà một sự vật hay sự kiện

A phụ thuộc vào cách thức và mức độ xảy ra của sự vật và sự kiện B, những

xác suất xảy ra được đánh giá bằng mức độ mà A là đại diện của B, tức là

mức độ của A tương đồng với B.

 Tính sẵn có: Khi ai đó được yêu cầu đánh giá tần suất của nhóm hay khả

năng xảy ra của một sự kiện, họ làm vậy bằng cách làm đơn giản hóa những

trường hợp hay sự kiện có thể được mang ra để bàn luận.

 Cái neo và những nhận định: Trong dự tính bằng số học, khi một giá trị liên

quan (một cái neo) có sẵn, người ta bắt đầu đánh giá từ một giá trị ban đầu

được điều chỉnh để mang lại giá trị cuối cùng. Giá trị ban đầu này có thể

được đề nghị dưới dạng cơng thức hay có thể là kết quả của một phép tính

nào đó.



8



Sang những năm 1980, lý thuyết tài chính hành vi được thảo luận rải rác

trong một số nghiên cứu của các học giả kinh tế nổi tiếng như:

 Nhà kinh tế học người Mỹ - Richard H. Thaler với những thảo luận như: sự

thiếu hụt của chi phí cơ hội, thất bại trong việc bỏ qua chi phí chìm, hành vi

nghiên cứu, lựa chọn khơng để lựa chọn và hối tiếc, tự kiểm sốt. Ngồi ra,

ơng còn đề cập đến khái niệm “tính tốn bất hợp lý”, theo đó người ta cố

gắng mơ tả các q trình mà nhờ đó người ta tập hợp, phân loại và đánh giá

những tác động/hậu quả kinh tế. Sau đó, ông tiếp tục theo đuổi khái niệm này

cùng với Werner F.M De Bondt cho ra học thuyết mang tên “học thuật về

tính tốn bất hợp lý”.

 Năm 1981, Tversky và Kahneman giới thiệu “mẫu hình”, hai ơng đã chỉ ra

những tâm lý chính chi phối nhận thức về các vấn đề đưa ra quyết định, đánh

giá khả năng và kết quả gây ra của những thay đổi về sở thích đã được dự

báo trước trong các tình huống khác nhau mà chúng được sắp đặt trước.

 Trong thời gian này, đánh dấu cao điểm nhất là tác phẩm “Đánh giá dưới

mức chắc chắn: các thuật toán, kinh nghiệm và xu hướng có tính lệch

lạc” xuất bản năm 1982 của Kahneman, Slovic và Tversky với 35 chương

mô tả những nhận định khác nhau về thuật toán và thành kiến họ đưa ra.

 Năm 1988, đánh dấu bằng sự kiện Samuelson và Zeckhauser nêu ra một

chuỗi các bằng chứng thực nghiệm về việc ra quyết định và đã phát hiện ra

hiện tượng “xu hướng lệch lạc”. Đó là hiện tượng lệch lạc về nhận thức dẫn

người ta thích những thứ còn lại tương tự hay những thứ thay đổi một ít có

thể nếu họ bắt buộc phải thay đổi ý kiến của mình.

 Sang năm 1990, Kahneman, Knetch và Thaler đã cùng báo cáo một vài thực

nghiệm để mô tả “tâm lý sợ mất mát” và “hiệu ứng bầy đàn” thất bại ngay cả

trong thị trường sắp đặt với những cơ hội để học và kết luận rằng chúng là

những đặc tính nền tảng.

 Năm 1992, Banerjee phát triển một mơ hình đơn giản về hành vi bầy đàn.

Cũng năm đó, Kahneman và Tversky công bố phần bổ sung lý thuyết triển



9



vọng của họ bằng “lý thuyết triển vọng lũy tiến”. Hệ phương pháp luận mới

này đã tận dụng tính lũy tiến hơn là mức độ quyết định riêng biệt đến sự

không chắc chắn cũng như những rủi ro kỳ vọng với bất kỳ mức độ hệ quả

nào. Nó cũng tính đến mức độ tăng thêm khác nhau của thu nhập và mất đi.

 Năm 1995, Grinblatt, Titman và Wermers đã phân tích hành vi của các “quỹ

mở”, ơng đã tìm thấy bằng chứng của những chiến lược đầu tư đòn bẩy và

hiện tượng đầu cơ.

 Năm 1997, bằng nghiên cứu thực nghiệm, Basu đã tìm ra được “tính bảo

thủ” mà nhờ đó ơng đã giải thích được vì sao mà thị trường phản ứng với tin

xấu nhanh hơn những tin tốt.

 Sang năm 1999, Camerer và Lavallo đã tìm thấy một cách thực chứng rằng

“sự quá tự tin” và “sự quá lạc quan” dẫn đến những lối kinh doanh quá mức.

Wermer (1999) đã nghiên cứu thêm về “đầu cơ” và nhận thấy rằng khuynh

hướng đầu cơ có dấu hiệu tăng cao nhất trong giao dịch ở những cổ phiếu

nhỏ và những nguồn tiền có khuynh hướng tăng.

 Năm 2000, Rabin đã đưa ra những lý lẽ có tính thuyết phục chỉ ra rằng lý

thuyết thị trường hiệu quả là một sự giải thích hồn tồn đáng nghi ngờ cho

những rủi ro không mong muốn đối với những nguyên tắc hiện đại. Lee và

Swaminathan (2000) cũng chỉ ra rằng những khối lượng giao dịch trong quá

khứ có mối liên hệ quan trọng giữa “đòn bẩy” và “chiến lược giá”. Nó giúp

làm tương thích giữa tác động của “phản ứng dưới mức” và “phản ứng quá

mức”.

 Các nhà kinh tế học bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến tài chính hành vi và

kinh tế toàn cầu khi Robert Shiller xuất bản quyển sách nổi tiếng “Sự mơ hồ

bất hợp lý” năm 2000 (cuốn tái bản lần thứ 2 năm 2005 có cập nhật thêm

“bong bóng nhà đất”) dự báo chính xác sự sụp đổ của thị trường cổ phiếu

tồn cầu khơng lâu sau đó, đã tạo bước ngoặt lớn cho những nhà nghiên

cứu tài chính hành vi liên tục đưa ra các nghiên cứu mới.

 Năm 2002, Gilovish, Griffin và Kahneman xuất bản ấn phẩm nổi tiếng về Tài

chính hành vi (Heritics and Biases: The psychology of Instuitive Judgement).



10



Cuốn sách là sự kết hợp hầu hết những nhân tố quan trọng nhất của Lý thuyết tài

chính hành vi. Trong đó các tác giả nêu ra 06 thuật toán hay sự trải nghiệm

chung gồm: sự ảnh hưởng, tính sẵn có, tính hệ quả, tính trơi chảy, tính tương

đồng và tính bất ngờ và 06 thuật toán kinh nghiệm riêng gồm phân phối, thay

thế, sự tổn thương, nguyên mẫu, sự thừa nhận, lựa chọn bằng thích thú và lựa

chọn mặc định. Trong tác phẩm của các tác giả, đã thay thế 02 nhân tố của tài

chính hành vi là “Lệch lạc trong tình huống điển hình” bằng tính phân phối và

thay thế và sự neo kéo – nhận định bằng “thuật toán hiệu ứng”.

 Sau cuộc đại khủng hoảng tài chính tồn cầu năm 2008, mà điển hình là cuộc

khủng hoảng “bong bóng” nhà đất tại Mỹ đã khiến người ta phải quan tâm nhiều

đến lý thuyết này nhằm giải thích những hiện tượng bất thường của kinh tế mà

các lý thuyết trước đây chưa chỉ ra được.

Một trong những tranh luận gay gắt nhất là lý thuyết thị trường hiệu quả, đó

là nhiều người đã đổ lỗi cho cuộc khủng hoảng tài chính là do lý thuyết thị trường

hiệu quả và cũng có quan điểm bảo vệ nó vì người ta vốn đã khơng cho thị trường là

hiệu quả.

Dưới đây nghiên cứu về 03 trụ cột của thị trường hiệu quả từ đó đưa ra luận

điểm về tài chính hành vi.

2.1.2 Ba trụ cột của lý thuyết thị trường hiệu quả làm nảy sinh lý thuyết tài

chính hành vi

Thị trường hiệu quả có thể được hiểu là nơi mà tại bất kỳ thời điểm nào, tất

cả các thông tin mới đều được những người tham gia thị trường nắm bắt một cách

nhanh chóng, thơng tin nhanh chóng được phản ánh vào giá cả thị trường và các nhà

đầu tư phản ứng một cách đúng đắn với tất cả thơng tin sẵn có.

Theo lý thuyết này thì “giá ln đúng”, và đúng bằng giá trị cơ bản của tài

sản đó. Đây chính là tổng chiết khấu của dòng tiền kỳ vọng trong tương lai, nhà đầu

tư phản ứng một cách chính xác với thơng tin sẵn có, và tỷ suất chiết khấu phù hợp

với các mẫu hình lựa chọn phù hợp một cách chuẩn tắc. Và khơng có chiến lược



11



đầu tư nào có thể kiếm được nhiều tiền hơn mức lợi tức trung bình đã điều chỉnh

rủi ro.

Khi nghiên cứu về lý thuyết tài chính hành vi trong mối tương quan với lý

thuyết thị trường hiệu quả, người ta đã tìm ra 03 trụ cột của thị trường hiệu quả và

06 bài học dẫn dắt cho các quyết định và hành vi các nhà đầu tư khơn ngoan trong

một số tình huống nhất định có thể bị hồi nghi về tính hiệu quả của nó.

 Sáu bài học của thị trường hiệu quả là:

 Bài học 1: Thị trường khơng có trí nhớ

 Bài học 2: Hãy tin vào giá thị trường

 Bài học 3: Hãy đọc sâu

 Bài học 4: Khơng có các ảo tưởng tài chính

 Bài học 5: Phương án tự làm lấy

 Bài học 6: Đã xem một cổ phần, hãy xem tất cả

 Ba trụ cột của lý thuyết thị trường hiệu quả và giới hạn của nó làm nảy

sinh lý thuyết tài chính hành vi

Lý thuyết thị trường hiệu quả có ba giả định chính hay ba trụ cột được kỳ

vọng là không thể phá vỡ nổi.

 Trụ cột 1: Nhà đầu tư khơn ngoan:

Rất khó để có thể đưa ra một khái niệm đầy đủ nhất về nhà đầu tư khôn

ngoan hay nhà đầu tư duy lý. Nhưng ta có thể hiểu nhà đầu tư khơn ngoan là những

nhà đầu tư đánh giá chính xác giá trị cơ bản của chứng khoán và họ cũng phản ứng

hay xử lý một các đúng đắn với tất cả thông tin.

Bằng những thuật tốn, những cơng cụ như mơ hình CAPM, mơ hình kinh

doanh chệnh lệch giá (APT), mơ hình danh mục đầu tư của Markowitz,…. để đánh

giá giá trị cơ bản của tài sản, đưa nó về giá trị cơ bản nếu có việc định giá sai xảy

ra.

Nhưng thực tế, khơng phải ai cũng hồn hảo như vậy, có những nhà đầu tư

phản ứng bất thường trên thị trường và lý thuyết thị trường hiệu quả giả thiết rằng

họ phản ứng khơng có tương quan hay mối liên hệ nào.



12



Tuy nhiên, thị trường hiệu quả cũng nhận thấy có một số các nhà đầu tư bất

thường và hành động của họ được giả thiết ở trụ cột 2.

 Trụ cột 2: Các sai lệch không tương quan

Một vài nhà đầu tư có thể có các hành vi bất thường (còn được gọi là

nhà đầu tư bất thường hay “nhà giao dịch gây nhiễu”), tuy nhiên nếu những hoạt

động đầu tư này chỉ mang tính ngẫu nhiên, tự phát và khơng tương quan với nhau

thì liền sau đó giao dịch của họ sẽ bị loại trừ bởi các nhà đầu tư khôn ngoan và kết

quả hoạt động của họ không ảnh hưởng đến giá. Tính logic đằng sau giả định này là

hoạt động giao dịch của nhà đầu tư có tương quan kém với những người khác.

Nếu hành vi của con người là ngẫu nhiên sẽ khơng có lo ngại về tính hiệu

quả của thị trường, bởi vì giao dịch của họ có thể bị loại trừ. Sẽ khơng gây ra một

ảnh hưởng đáng kể nào đến giá. Tuy nhiên, chúng ta sẽ thấy trong các phần hai của

bài, các nhà tâm lý học bằng thực nghiệm đã chỉ ra rằng các nhà đầu tư bất thường

với phán đoán sai thường có xu hướng chung – nghĩa là người ta thường đi chệch

khỏi sự kỳ vọng của mình theo cùng một phương thức tương tự nhau. Hay hành vi

bất thường của họ có tính tương quan nhau thì đây là vấn đế đáng để bàn! Nó có

thể đẩy giá xa hơn nữa so với giá trị cơ bản. Tuy nhiên, trong thị trường hiệu quả

vẫn tồn tại trụ cột 3 có thể “hóa giải” hoặc ngặn chặn điều này và đưa giá trở về

giá trị cơ bản, giá trị thực ban đầu. Đó là nghiệp vụ kinh doanh chênh lệch giá.

 Trụ cột 3: Kinh doanh chênh lệch giá không bị giới hạn

Nếu các nhà đầu tư bất thường có hành vi phi lý, các hoạt động này lại có

tương quan cao với nhau. Thì theo lý thuyết thị trường hiệu quả, các nhà đầu tư

khơn ngoan nhìn thấy được việc định giá sai này, họ sẽ dùng nghiệp vụ kinh doanh

chênh lệch giá, với giả thiết không bị giới hạn kinh doanh chênh lệch giá, để điều

chỉnh việc định giá sai và xóa bỏ hành động bất thường của nhà đầu tư. Từ đó, họ

vừa tìm được lợi nhận vừa đưa giá chứng khoán bị định giá sai về trạng thái giá trị

thực ban đầu. Bằng cách mua chứng khoán rẻ và bán chứng khoán mắc. Kết quả

là thị trường vẫn giữ nguyên tính hiệu quả. Thị trường hiệu quả cho rằng việc kinh

doanh chênh lệch giá nó sẽ khơng tốn chi phí và gánh chịu rủi ro.



13



Nhưng thực tế có giới hạn cho hoạt động kinh doanh chênh lệch giá không?

Và nếu cả 03 trụ cột này đều bị đánh bại thì người ta sẽ hồi nghi về tính hiệu quả

của thị trường.

Bằng những nghiên cứu thực nghiệm trên thị trường người ta phát hiện ra

rằng có những thời điểm cả 03 trụ cột này khơng thể giải thích được thực tế thị

trường. Và đôi khi sự định giá sai này không những không được điều chỉnh về giá

trị cơ bản mà nó còn bị đẩy đi rất xa, nhiều khi cũng được xem là nguyên nhân của

các cuộc khủng hoảng tài chính.

Qua hàm ý trên dường như lý thuyết thị trường hiệu quả khơng đủ để giải

thích kết quả thực nghiệm trên thị trường và dường như “thị trường thì có thể hiệu

quả nhưng con người thì khơng hiệu quả”, mà chủ thể tham gia thị trường chính là

con người.

Trước thực tế của các cuộc khủng khoảng tài chính và sự “nổi loạn” của thị

trường tài chính người ta đòi hỏi một lý thuyết hay một cơng trình nghiên cứu khác

bổ sung cho thị trường hiệu quả vì trong một số trường hợp nhất định thì thị

trường hiệu quả khơng còn phát huy tác dụng của nó nữa.

Năm 2002, lần đầu tiên trong lịch sử giải thưởng Nobel kinh tế được trao

cho một nhà tâm lý học, thay vì trước đây chỉ là các nhà kinh tế học, đó là Daniel

Kahneman vì sự đóng góp của ơng trong kinh tế học hành vi nhất là lý thuyết triển

vọng, với hợp tác giúp đỡ của Amos Tversky. Hay tác phẩm nổi tiếng của Robert

Shiller “Sự mơ hồ bất hợp lý” (2000) dự báo chính xác sự sụp đổ của thị trường tài

chính khơng lâu sau đó.

Từ đó hàng loạt các nghiên cứu về hành vi con người trong thị trường tài

chính được cơng bố và cụm từ “tài chính hành vi” được nhắc đến thường xuyên

hơn. Với 03 luận điểm chính của mình, lý thuyết tài chính hành vi đã chỉ ra những

giới hạn nhất định của 03 trụ cột trong lý thuyết thị trường hiệu quả và chỉ ra rằng

không phải lúc nào thị trường cũng hiệu quả.



14



2.1.3 Điều kiện tồn tại của Tài chính hành vi

 Lý thuyết tài chính hành vi

Trước đây, các nhà kinh tế học có khuynh hướng tách tài chính thành một bộ

mơn khoa học tự nhiên, mà khoa học tự nhiên thì được giải thích bằng các quy luật,

các định đề khơ khan,… và tách nó khỏi khoa học xã hội. Chính vì thế mà một

thời gian dài, khái niệm “tài chính hành vi” được ít người quan tâm đến.

Vậy tài chính hành vi là gì? Khi nào thì tác động từ hành vi của con người

ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc định giá sai? Nó giải thích, bổ sung cho thị trường

hiệu quả ra sao?

Lý thuyết tài chính hành vi, hay tài chính hành vi, có thể được hiểu là lý

thuyết sử dụng các nghiên cứu về tâm lý và hành vi con người nhằm lý giải các vấn

đề tài chính.

Hay hàn lâm hơn: Lý thuyết tài chính hành vi là một phạm trù của tài chính,

nó nghiên cứu bổ sung cho những lý thuyết tài chính truyền thống bằng việc giới

thiệu hành vi tác động đến tiến trình ra quyết định. Trái ngược với quan điểm của

Markowitz và Sharp, tài chính hành vi liên quan đến cá nhân và cách thức thu

nhận, sử dụng thông tin. Nghiên cứu lý thuyết tài chính hành vi giúp hiểu và dự

báo những dính líu giữa q trình ra quyết định mang tính tâm lý với hệ thống tài

chính.

Có thể diễn giải tài chính hành vi thơng qua hình ảnh các yếu tố chi phối

đến nó như sau:



Hình minh họa các yếu tố tác động đến tài chính hành vi



15



 Tâm lý học: là ngành khoa học nghiên cứu hoạt động, tinh thần và tư

tưởng của con người (cụ thể đó là những cảm xúc, ý chí và hành

động). Tâm lý học cũng chú tâm đến sự ảnh hưởng của hoạt động thể

chất, trạng thái tâm lý và các yếu tố bên ngoài lên hành vi và tinh thần

của con người

 Xã hội học: là khoa học về các quy luật và tính quy luật xã hội chung với

đặc thù của sự phát triển và vận hành của hệ thống xã hội xác định về mặt

lịch sử; là khoa học về các cơ chế tác động và các hình thức biểu hiện của

các quy luật đó trong các hoạt động của cá nhân, các nhóm xã hội, các giai

cấp, tơn giáo, văn hóa và các dân tộc.

 Tài chính: là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã

hội dưới hình thức giá trị, có thể đại diện bằng các mơ hình, lý thuyết tài

chính.

 Ba điều kiện tồn tại của tài chính hành vi

Lý thuyết thị trường hiệu quả cho rằng bất kỳ sự định giá sai nào xảy ra trên

thị trường, thì bằng 03 trụ cột trên của thị trường hiệu quả sẽ đưa giá về đúng giá

trị thực của nó. Nhưng nếu điều đó khơng xảy ra mà xảy ra đồng thời 03 điều điện

sau của tài chính hành vi thì việc định giá sai sẽ trở nên trầm trọng hơn thậm chí gây

ra khủng hoảng tài chính.





Tồn tại hành vi khơng hợp lý







Hành vi bất hợp lý mang tính hệ thống







Giới hạn khả năng kinh doanh chênh lệch giá



Chính 03 điều kiện này đã làm cho lý thuyết tài chính hành vi với nền tảng

cơ bản là “thị trường không luôn luôn đúng”, đã đặt ra một đối trọng lớn đối với lý

thuyết “thị trường hiệu quả”, cơ sở của các lý thuyết tài chính cơ bản trong suốt 4, 5

thập kỷ gần đây.



16



2.2 Ba luận cứ về Lý thuyết tài chính hành vi

2.2.1 Hành vi khơng hợp lý

Có rất nhiều trường phái tâm lý học nghiên cứu về con người như là Tâm

lý học hành vi, Tâm lý học cấu trúc, Phân tâm học, Tâm lý học nhân văn, Tâm lý

học nhận thức, Tâm lý học hoạt động,… trong đó tâm lý học hành vi và tâm lý

học nhận thức giúp đưa ra nhiều luận điểm giải thích hành vi bất hợp lý của con

người trong xã hội nhất là trong thị trường tài chính. Nhận thức sai lệch sẽ dẫn

đến hành vi sai lệch, nhưng hành vi sai lệch thì chưa chắc do nhận thức sai, mà

có thể do tính chủ quan trong hành vi người thực hiện.

 Tâm lý học hành vi do John Broadus Watson (1878 – 1958) người Mỹ chủ

trương không mô tả hay giảng giải về các trạng thái ý thức của con người,

mà chỉ cần nghiên cứu hành vi của họ là đủ. Hành vi được quan niệm là

tổng số các cử động bề ngoài được nảy sinh để đáp lại một kích thích hay

mong muốn nào đó của con người.

 Tâm lý học nhận thức: Đại diện sáng giá cho trường phái này là Jean

Piaget (1896 - 1980). Đối tượng nghiên cứu của Tâm lý học nhận thức là

hoạt động nhận thức của con người trong mối quan hệ với môi trường, với

cơ thể và não bộ. Trường phái này đã phát hiện được nhiều sự kiện khoa

học có giá trị đạt tới một trình độ mới như tri giác, trí nhớ, tư duy, ngơn

ngữ.

2.2.2 Giới hạn khả năng kinh doanh chênh lệch giá trên thị trường tài chính

Như đã trình bày ở phần đầu, một trong những khái niệm nền tảng trong tài

chính là kinh doanh chênh lệch giá, nó được hiểu như là “hoạt động mua và bán

đồng thời một loại tài sản như nhau trên hai thị trường khác nhau nhằm thu lợi

nhuận từ sự khác biệt về giá (Sharpe and Alexander, 1990). Theo lý thuyết thì

những hoạt động như vậy u cầu khơng giới hạn vốn và rủi ro. Khi nhà kinh

doanh chênh lệch giá mua chứng khoán/tài sản giá thấp và bán chính nó ở thị

trường có giá cao hơn, anh ta sẽ nhận ngay lợi nhuận do hoạt động này.



17



Kinh doanh chênh lệch giá đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích thị

trường chứng khốn, bởi vì ảnh hưởng của nó làm cho giá chứng khốn bị định sai

trở về giá trị cơ bản và giữ cho thị trường hiệu quả.

Và tại sao trong thực tế vẫn có những trường hợp định giá sai, mà kinh

doanh chênh lệch giá không thể đưa nó về giá trị cơ bản được?

Một giải thích được chấp nhận rộng rãi trong trường phái tài chính hành vi là

có 2 dạng định giá sai: một dạng là thường xuyên xảy ra và có thể kinh doanh

chênh lệch giá được, một dạng là không thể xảy ra, kéo dài và không thể kinh

doanh chênh lệch giá được (nói một cách khác, khó mà xác định được khi nào

mức định giá sai đã đạt tới giới hạn trên hay dưới và điều chỉnh lại). Nếu tham

gia “chỉnh sửa” kiểu định giá sai dạng 2 thì rất dễ rơi vào trạng thái “tiền mất, tật

mang”.

Và “tài chính hành vi” cho rằng khi mà sự sai lệch giá một cách dữ dội thì

các chiến lược được thiết kế để điều chỉnh giá có thể phải bao gồm cả rủi ro và chi

phí, chính điều này làm cho kinh doanh chênh lệch giá trở nên kém hấp dẫn hơn.

Do đó, khơng hẳn mọi lúc thì việc kinh doanh chênh lệch giá là khơng rủi ro và

khơng tốn phí như quan điểm của thị trường hiệu quả. Kết quả là việc định giá sai

đã không được điều chỉnh như kỳ vọng ban đầu.

Có 03 vấn đề chính được nhiều nhà nghiên cứu tài chính hành vi đưa ra về

giới hạn kinh doanh chênh lệch giá khơng giải thích được, làm cho việc định giá

sai trở nên trầm trọng hơn, đó là rủi ro cơ bản, chi phí thực hiện và rủi ro từ những

nhà giao dịch nhiễu hay rủi ro nhà đầu tư bất hợp lý.

 Rủi ro cơ bản

Theo nghiên cứu của Andrei Shleifer and Lawrence H.Summers (1990) thì hai

ơng cho rằng có 02 loại rủi ro làm cản trở hoạt động kinh doanh chênh lệch giá, đó là

Rủi ro cơ bản và Rủi ro về giá khi bán lại trong tương lai. Hai loại rủi ro này tụm chung

lại muốn ám chỉ tâm lý của những nhà kinh doanh chênh lệch giá “thua ngay trên chính

quyết định của mình”. Với thơng tin hiện có, họ nhận thấy giá chứng khoán đang quá

cao và họ bán chúng ngay để kiếm lời. Nhưng sau đó, lại có những thơng tin mới tốt



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Luận điểm ra đời Lý thuyết tài chính hành vi

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×