Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
4 Hành vi bầy đàn trong giai đoạn trầm lắng và hỗn loạn

4 Hành vi bầy đàn trong giai đoạn trầm lắng và hỗn loạn

Tải bản đầy đủ - 0trang

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

------------------------------------------



CAO NGỌC HÀ



PHÂN TÍCH THỰC NGHIỆM HIỆU ỨNG BẦY ĐÀN

TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM



LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ



TP.Hồ Chí Minh – Năm 2013



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

------------------------------------------



CAO NGỌC HÀ



PHÂN TÍCH THỰC NGHIỆM HIỆU ỨNG BẦY ĐÀN

TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHỐN VIỆT NAM



CHUN NGÀNH: TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

MÃ SỐ: 60340201



LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ



GVHD: GS.TS. TRẦN NGỌC THƠ



TP.Hồ Chí Minh – Năm 2013



CỘNG HỒ XÃ HỘI CHỦ NGHỈA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc



LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ kinh tế “Phân tích thực nghiệm hiệu ứng

bầy đàn trên thị trường chứng khốn Việt Nam” là cơng trình nghiên cứu của riêng

tôi.

Các kết quả nghiên cứu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được công

bố trong bất kỳ cơng trình nào khác.



Học viên



Cao Ngọc Hà



MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG

TĨM LƯỢC BÀI NGHIÊN CỨU ...................................................................................... 1

1. GIỚI THIỆU .................................................................................................................... 2

2. TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯƠC ĐÂY ................................. 6

2.1 Luận điểm ra đời Lý thuyết tài chính hành vi ...........................................................................6

2.1.1 Lịch sử ra đời Lý thuyết tài chính hành vi ..........................................................................6

2.1.2 Ba trụ cột của lý thuyết thị trường hiệu quả làm nảy sinh lý thuyết tài chính hành vi ......10

2.1.3 Điều kiện tồn tại của Tài chính hành vi ...........................................................................14

2.2 Ba luận cứ về Lý thuyết tài chính hành vi...............................................................................16

2.2.1 Hành vi không hợp lý .......................................................................................................16

2.2.2 Giới hạn khả năng kinh doanh chênh lệch giá trên thị trường tài chính ..........................16

2.2.3 Hành vi khơng hợp lý mang tính hệ thống (Hành vi bầy đàn) ........................................20

2.3 Cơ sở của Mô hình ước lượng Hiệu ứng bầy đàn ...................................................................23

2.3.1 Tiếp cận hành vi bầy đàn dựa vào tương quan trong mẫu hình giao dịch .....................23

2.3.2 Tiếp cận hành vi bầy đàn sử dụng độ phân tán của tỷ suất sinh lợi ......................................24

2.3.3 Tiếp cận hành vi bầy đàn có xem xét ảnh hưởng của yếu tố nước ngoài .........................27



3. DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU ............................................................................................. 28

3.1 Nguồn dữ liệu..........................................................................................................................28

3.2 Phương pháp xử lý số liệu.......................................................................................................29



4. PHÂN TÍCH THỰC NGHIỆM .................................................................................... 29

4.1. Kiểm định hành vi bầy đàn địa phương .................................................................................29

4.2. Vai trò của thị trường Mỹ ......................................................................................................30

4.3 Hành vi bầy đàn cho trường hợp thị trường tăng và giảm ......................................................33

4.4 Hành vi bầy đàn trong giai đoạn trầm lắng và hỗn loạn .........................................................36



5. KẾT LUẬN ..................................................................................................................... 38

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC



DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4-1: Đo lường hành vi bầy đàn theo phương pháp của CCK (2000) ......................... 29

Bảng 4-2: Đo lường hành vi bầy đàn theo phương pháp của CZ (2010) ............................ 30

Bảng 4-3: Phân tích hồi quy hành vi bầy đàn địa phương khi thêm ảnh hưởng của Mỹ vào

mơ hình ................................................................................................................................ 31

Bảng 4-4: Kiểm định giả thuyết null: γ4 = γ5 = 0 ................................................................ 33

Bảng 4-5: Kết quả kiểm định hành vi bầy đàn cho trường hợp Rm,t> 0 và Rm,t< 0 ............. 35

Bảng 4-6: Kiểm định giả thuyết tương đồng: γ3 - γ4 = 0 .................................................... 36

Bảng 4-7: Kết quả kiểm định hành vi bầy đàn trong giai đoạn hỗn loạn và trầm lắng ....... 37

Bảng 4-8: Kiểm định giả thuyết null về sự không khác biệt giữa các hệ số bầy đàn trong

thời kỳ khủng hoảng và trầm lắng: γ3 - γ4 = 0 ..................................................................... 38



1



Tóm lược Bài nghiên cứu

Bằng cách sử dụng dữ liệu ngày từ 04/01/2006 đến 28/12/2012, bài nghiên

cứu tiến hành phân tích thực nghiệm hiệu ứng bầy đàn trên thị trường chứng khoán

Việt Nam. Với nỗ lực thực hiện để kiểm định hành vi bầy đàn xuyên biên giới quốc

gia, bài nghiên cứu xem xét mức độ ảnh hưởng của các nhân tố từ thị trường Mỹ tác

động như thế nào đến hành vi đầu tư trên thị trường địa phương. Kết quả thực

nghiệm chỉ ra rằng sự hình thành bầy đàn ở thị trường Việt Nam cũng bị ảnh hưởng

bởi những điều kiện thị trường ở Mỹ trong giai đoạn mẫu 2006 – 2012. Tuy nhiên

vai trò của thị trường Mỹ lại trở nên suy yếu khi phân tích trong những điều kiện thị

trường khác nhau, hành vi bầy đàn cho trường hợp thị trường tăng và giảm, trong

giai đoạn trầm lắng và hỗn loạn. Ngoài ra, bằng cách sử dụng một Điểm ngưỡng tại

cột mốc 31/03/2009 để xem xét sức ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tín dụng Mỹ

năm 2008 đến thị trường nội địa, bằng chứng cho thấy thị trường chứng khoán Việt

Nam biểu lộ hành vi bầy đàn khi cuộc khủng hoảng diễn ra. Trong trường hợp này

tác động của thị trường Mỹ cũng khơng có ý nghĩa thống kê, bởi lẽ sự lan truyền

của cuộc khủng hoảng tài chính dường như là trên tồn thế giới, do đó các thơng tin

từ thị trường Mỹ vốn đã phản ánh trong các thông tin thị trường địa phương và làm

cho các yếu tố từ thị trường Mỹ mất đi ý nghĩa trong mơ hình.



2



1. Giới thiệu

Trong cơ sở lý thuyết về tài chính hành vi, bầy đàn thường được sử dụng để

mô tả mối tương quan trong giao dịch do tương tác giữa các nhà đầu tư. Hành vi

này được xem là hợp lý cho các nhà đầu tư ít tinh vi, tức là những nhà đầu tư

thường cố gắng bắt chước theo kinh nghiệm tài chính hoặc theo các hành động của

các nhà đầu tư thành công, bởi vì nếu sử dụng thơng tin/ kiến thức sở hữu riêng sẽ

phải chịu chi phí cao hơn. Hậu quả của hành vi bầy đàn này là, như Nofsinger và

Sias (1999) nhận thấy "một nhóm các nhà đầu tư kinh doanh theo cùng một hướng

trong suốt một khoảng thời gian". Bằng chứng cho thấy, điều này có thể dẫn đến

các mẫu hành vi quan sát có mối tương quan giữa các cá nhân và tạo ra hệ thống, ra

quyết định sai lầm bởi tồn bộ số đơng (Bikhchandani et al., 1992). Vì vậy, để đạt

được mức độ đa dạng hóa, nhà đầu tư cần một lựa chọn chứng khoán đa dạng hơn,

nhờ đó sẽ có một mức độ tương quan thấp hơn giữa chúng. Ngoài ra, nếu những

nhà đầu tư tham gia thị trường có xu hướng bầy đàn xung quanh sự đồng thuận của

thị trường, hành vi giao dịch của nhà đầu tư có thể khiến giá tài sản đi chệch khỏi

nền tảng kinh tế. Kết quả là, giá tài sản không hợp lý.

Bằng chứng thực nghiệm về hành vi bầy đàn trong thị trường tài chính được

phân nhánh vào hai con đường. Con đường đầu tiên tập trung vào hành vi đồng

chuyển động dựa trên việc đo lường các tương quan động. Ví dụ, trong các kiểm

định của họ về hiệu ứng lây lan tài chính, Corsetti et al. (2005) tìm thấy một số lây

lan, một số phụ thuộc lẫn nhau giữa các thị trường chứng khoán Châu Á. Chiang et

al. (2007) cho thấy rằng hiệu ứng lây lan diễn ra trong giai đoạn đầu của cuộc

khủng hoảng tài chính Châu Á và hành vi bầy đàn chiếm ưu thế trong giai đoạn sau

của cuộc khủng hoảng, như các tin xấu trở nên phổ biến và các nhà đầu tư nhận ra

tác động toàn diện của cuộc khủng hoảng. Boyer et al. (2006) phát hiện ra rằng các

thị trường chứng khốn mới nổi có đồng chuyển động lớn hơn trong thời kỳ biến

động cao, cho thấy cuộc khủng hoảng lan rộng thông qua việc nắm giữ tài sản của

các nhà đầu tư quốc tế chủ yếu là do lây lan hơn là những thay đổi trong nguyên tắc

cơ bản.



3



Con đường thứ hai để kiểm định hành vi bầy đàn tập trung vào độ phân tán

tương quan chéo của tỷ suất sinh lợi chứng khoán để đáp ứng với những thay đổi

liên tục của điều kiện thị trường. Bằng cách quan sát thông tin bất cân xứng trong

các thị trường mới nổi, các nhà nghiên cứu dự đoán rằng các nhà đầu tư trong

những thị trường này có nhiều khả năng biểu lộ hành vi bầy đàn. Trong nghiên cứu

của họ về hành vi bầy đàn quốc tế, Chang et al. (2000) đã tìm thấy bằng chứng đáng

kể của bầy đàn ở Hàn Quốc và Đài Loan và một phần bằng chứng về bầy đàn ở

Nhật. Tuy nhiên, không có bằng chứng về bầy đàn trên một bộ phận người tham gia

thị trường ở Mỹ và Hồng Kông. Bằng cách tập trung vào các cổ phiếu của Hồng

Kông, Zhou and Lai (2009) phát hiện ra rằng hành vi bầy đàn ở thị trường Hồng

Kơng có xu hướng phổ biến hơn đối với các cổ phiếu nhỏ và các nhà đầu tư có

nhiều khả năng bầy đàn khi bán hơn là mua cổ phiếu. Đối với thị trường Trung

Quốc, Demirer and Kutan (2006) điều tra xem liệu các nhà đầu tư trên thị trường

Trung Quốc, khi đưa ra các quyết định đầu tư, có đi theo sự đồng thuận thị trường

hơn là dựa trên thông tin riêng hay không trong giai đoạn thị trường căng thẳng.

Nghiên cứu của họ cho thấy khơng có bằng chứng của sự hình thành bầy đàn, điều

đó có nghĩa là những nhà đầu tư tham gia thị trường chứng khốn Trung Quốc có

những lựa chọn đầu tư hợp lý. Tuy nhiên, trong một nghiên cứu gần đây về thị

trường chứng khoán Trung Quốc,Tan et al. (2008) khám phá ra rằng bầy đàn xảy ra

trong cả hai điều kiện thị trường tăng và giảm và đặc biệt hiện diện trong các nhà

đầu tư cổ phiếu A. Vậy, bằng chứng từ các nghiên cứu được trích dẫn ở trên cho

thấy các kết quả khác nhau và hầu hết hành vi bầy đàn hiện diện tại các thị trường

mới nổi và khơng có tại các thị trường tiên tiến.

Mặc dù các nghiên cứu nói trên đã có sự đóng góp để mơ tả hành vi bầy đàn

trong nhiều thị trường khác nhau, tuy nhiên các nghiên cứu này chỉ mới giới hạn

trong một ranh giới thị trường duy nhất. Khơng có nỗ lực nào được thực hiện để

kiểm định hành vi bầy đàn qua biên giới quốc gia. Các kết quả thực nghiệm trước

đây tồn tại hai nhược điểm. Thứ nhất, từ quan điểm kinh tế, một mô hình dự tốn

OLS mà một số biến quan trong bị bỏ qua có thể làm phát sinh những dấu hiệu sai

(Kennedy, 2008, trang 368). Thứ hai, bằng chứng thực nghiệm bắt nguồn từ một số



4



quốc gia chủ yếu chỉ nghiên cứu về hành vi địa phương, và do đó, các kết quả thực

nghiệm không phản ánh được một kiểm định rộng hơn cho một hiện tượng toàn cầu.

Kinh nghiệm gần đây cho thấy những cú sốc tài chính khơng đứng riêng lẽ

trong một quốc gia hoặc một địa phương. Forbes và Rigobon (2002) thấy rằng các

thị trường tài chính bằng cách nào đó phụ thuộc lẫn nhau trong thời kỳ biến động

cao. Chiang et al. (2007) tìm thấy bằng chứng có ý nghĩa về đồng biến động ở các

thị trường chứng khoán khác nhau trong thời kỳ bất ổn tài chính ở giai đoạn sau của

cuộc khủng hoảng Châu Á. Trong các nghiên cứu của họ về những biến đối xuyên

quốc gia xét về độ biến động của chứng khoán ở cấp độ thị trường, Bekaert và

Harvey (1997) cho thấy rằng độ phân tán tỷ suất sinh lợi cao có liên quan đến độ

biến động thị trường cao hơn trong các thị trường phát triển. Họ cho rằng độ phân

tán có thể phản ánh tầm quan trọng của các luồng thông tin ngành/ doanh nghiệp

cho các thị trường này.

Nhận thấy được những tồn đọng từ những nghiên cứu đi trước, Chiang và

Zheng (2010) điều chỉnh phương pháp đo lường hành vi bầy đàn bằng cách kiểm

định độ phân tán tỷ suất sinh lợi chứng khoán chéo trong mối liên quan với một tập

hợp các biến giải thích, bao gồm tỷ suất sinh lợi chứng khoán nội địa tuyệt đối, điều

kiện thị trường nội địa quá độ, và những ảnh hưởng của thị trường nước ngoài.

Nghiên cứu của họ khác với các nghiên cứu trước đây ở những khía cạnh như sau.

Đầu tiên, các dữ liệu được sử dụng bởi Chang et al. (2000), Demirer và Kutan

(2006), Tan et al. (2008), và Zhou và Lai (2009) trong nghiên cứu về hành vi bầy

đàn được giới hạn trong một tập hợp các quan sát tương đối nhỏ và những nghiên

cứu của họ được giới hạn cho một số thị trường địa phương. Trong khi đó nghiên

cứu của Chiang và Zheng (2010) bao gồm 18 đơn vị kinh tế tiến bộ, Châu Mỹ La

Tinh, và các thị trường Châu Á. Thứ hai, Chiang và Zheng (2010) xác định tầm

quan trọng của thị trường Mỹ trong việc kiểm định hành vi bầy đàn thị trường địa

phương; bằng chứng từ nghiên cứu cho thấy trong đa số trường hợp, các nhà đầu tư

trong từng thị trường địa phương có hành vi bầy đàn theo thị trường Mỹ. Thứ ba,

việc sử dụng một tập hợp dữ liệu rộng hơn cho phép kiểm định hành vi đầu tư thuộc

các khu vực khác nhau. Cụ thể, Chiang và Zheng (2010) tìm thấy bằng chứng về



5



hành vi bầy đàn ở các quốc gia được phân loại thị trường cao cấp và ở các thị

trường Châu Á. Tuy nhiên, họ tìm thấy rất ít bằng chứng hỗ trợ cho hành vi bầy đàn

ở bốn thị trường Mỹ La Tinh. Thứ tư, nghiên cứu cũng chỉ ra được vai trò của cuộc

khủng hoảng tài chính trong phân tích thực nghiệm hành vi bầy đàn. Cụ thể, hành vi

bầy đàn diễn ra rõ ràng hơn trong khoảng thời gian mà cuộc khủng hoảng xảy ra.

Được thúc đẩy từ những nghiên cứu thực nghiệm nêu trên, bài nghiên cứu

này tập trung phân tích thực nghiệm hành vi bầy đàn trên thị trường chứng khoán

Việt Nam khoảng thời gian mẫu từ năm 2006 đến năm 2012 trong mối tương quan

động với độ phân tán tỷ suất sinh lợi chứng khoán của thị trường nước ngồi, cụ thể

ở đây là Mỹ, từ đó xác định được tầm quan trọng của thị trường Mỹ trong việc kiểm

định hành vi bầy đàn địa phương. Thứ hai, bài nghiên cứu này cũng tiến hành một

kiểm định để xem xét tác động của cuộc khủng hoảng tài chính có thực sự ảnh

hưởng chi phối trên thị trường. Mở rộng từ phần này, điều quan trọng là đánh giá

xem liệu có sự khác biệt của các hệ số bầy đàn trong thời kỳ khủng hoảng và trầm

lắng. Thứ ba, hành vi của nhà đầu tư sẽ được phân tích cụ thể trong những điều kiện

thị trường khác nhau, để kiểm tra xem các nhà đầu tư phản ứng khác nhau như thế

nào vào những ngày thị trường tăng và giảm, theo đó dữ liệu sẽ được chia thành hai

nhóm bằng cách sử dụng một biến giả. Bài viết này tiên phong trong việc mở rộng

nghiên cứu hành vi bầy đàn trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới tác động

của yếu tố nước ngồi kết hợp với thơng tin từ thị trường nội địa trong nước, khác

với các cách tiếp cận truyền thống trước đây khi loại trừ nhân tố thị trường nước

ngồi ra khỏi mơ hình kiểm định hành vi bầy đàn có khả năng tạo ra sự thiên lệch

trong kết quả nghiên cứu.

Phần còn lại của bài nghiên cứu được tổ chức như sau. Phần 2 trình bày mơ

hình ước lượng cho kiểm định hành vi bầy đàn. Phần 3 mô tả dữ liệu. Phần 4 đưa ra

bằng chứng thực nghiệm và Phần 5 trình bày một bản tóm tắt và kết luận.

Mục tiêu nghiên cứu

-



Phân tích thực nghiệm hiệu ứng bầy đàn của các nhà đầu tư trên thị trường

chứng khoán Việt Nam trong thời gian từ 2006 đến 2012;



6



-



Xem xét ảnh hưởng của các nhân tố nước ngoài trong việc kiểm định hành vi

bầy đàn địa phương, cụ thể là biến động của độ phân tán tỷ suất sinh lợi

chứng khoán Mỹ đến thị trường chứng khốn Việt Nam;



-



Phân tích thực nghiệm hành vi của nhà đầu tư trong những điều kiện thị

trường khác nhau, hành vi bầy đàn cho trường hợp thị trường tăng và giảm,

trong giai đoạn trầm lắng và hỗn loạn;



-



Đánh giá tác động của cuộc khủng hoảng tài chính có thực sự ảnh hưởng chi

phối trên thị trường, và trong giai đoạn này liệu tác động của nhân tố thị

trường Mỹ có còn ý nghĩa trên thị trường chứng khốn Việt Nam.



2. Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây

2.1 Luận điểm ra đời Lý thuyết tài chính hành vi

2.1.1 Lịch sử ra đời Lý thuyết tài chính hành vi

Trong vài thập niên gần đây, một khái niệm tài chính mới được nhắc đến

nhiều và rất gần gũi với các nhà kinh tế. Đó là Lý thuyết về tài chính hành vi.

Ngày nay, việc ứng dụng và nghiên cứu lý thuyết tài chính hành vi trở thành khá

phổ biến và còn giúp nhiều nhà đầu tư cải thiện đáng kể chiến lược đầu tư của mình.

Tài chính hành vi là một phần của tài chính, nghiên cứu để hiểu và giải thích

những biểu hiện mang tính tâm lý của con người trên thị trường tài chính, sử dụng

những kiến thức thuộc phạm trù tâm lý học, xã hội học và tài chính học để lý giải

những hành vi bất thường của nhà đầu tư mà chưa được lý giải trong nền tảng của

lý thuyết truyền thống.

Nghiên cứu tài chính hành vi là nghiên cứu ảnh hưởng tâm lý của nhà đầu tư

và những hệ quả theo sau lên thị trường tài chính. Tài chính hành vi đóng vai trò rất

quan trọng trong việc giải thích tại sao và làm thế nào thị trường có thể khơng hiệu

quả.

Để hiểu sâu hơn về Lý thuyết tài chính hành vi, điều quan trọng là cần tìm

hiểu sơ nét về lịch sử hình thành của lý thuyết này.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

4 Hành vi bầy đàn trong giai đoạn trầm lắng và hỗn loạn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×