Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬCƠ SỞ LÝ THUYẾT

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬCƠ SỞ LÝ THUYẾT

Tải bản đầy đủ - 0trang

2



phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay khơng có hợp đồng.

Các quan hệ mang tính thương mại gồm các giao dịch sau đây: “bất cứ giao dịch

nào về cung cấp và trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện

hoặc đại lý thương mại; ủy thác hoa hồng; cho th dài hạn; xây dựng các cơng

trình; tư vấn; kỹ thuật cơng trình; đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận

khai thác; hoặc tô nhượng; liên doanh và các hình thức về hợp tác cơng nghiệp hoặc

kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay khách hàng đường biển, đường hàng không ;

đường sắt hoặc đường bộ.”

Như vậy, định nghĩa này cho thấy phạm vi hoạt động của thương mại điện tử rất

rộng, rất bao quát tất cả các lĩnh vực của hoạt động kinh tế, trong đó hoạt động mua

bán hàng hóa và dịch vụ chỉ là một phạm vi rất nhỏ.

Tóm lại, thương mại điện tử là tất cả các phương pháp tiến hành kinh doanh của

các nhân và tổ chức thông quan các kênh điện tử mà phổ biến nhất là thơng quan

mạng internet tồn cầu, dựa trên việc xử lý và truyền dữ liệu giữa các bên giao

thương với nhau dưới dạng văn bản, âm thanh hoặc hình ảnh.

Cũng như từng tác động trên các lĩnh vực kinh tế khác, có thể nói Internet đang

làm một cuộc cách mạng trong các hoạt động của ngân hàng. Khái niệm ngân hàng

điện tử được xuất phát từ khái niệm thương mại điện tử.

Ngân hàng điện tử được hiểu theo nhiều cách khác nhau, được xem như là một

loại hình thương mại về tài chính, ngân hàng với sự trợ giúp của công nghệ thông

tin.

Theo Hiệp hội phần mềm Việt Nam (VINASA) thì ngân hàng điện tử được định

nghĩa như sau: “Ngân hàng điện tử” được định nghĩa như một phương thức cung

cấp các sản phẩm mới và các sản phẩm truyền thống đến người sử dụng thông qua

con đường điện tử và các kênh truyền thông và các kênh truyền thông tương tác.

Như vậy, “Ngân hàng điện tử” là hình thức thực hiện các giao dịch tài chính,

ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử.

Trên thế giới, dịch vụ ngân hàng điện tử đã được nhiều ngân hàng sử dụng, cho

phép khách hàng có thể thực hiện các giao dịch trực tuyến thông qua các phương



3



tiện như máy vi tính, điện thoại di động hay các thiết bị trợ giúp cá nhân khác...Qua

đó, khách hàng có thể truy vấn thông tin vào mọi thời điểm mà không cần phải đến

ngân hàng.

Cùng với sự phát triển của công nghệ và nhu cầu của nền kinh tế, xu thế phát

triển của dịch vụ ngân hàng tiến tới ngân hàng điện tử là một xu thế tất yếu.

1.1.2. Các dịch vụ ngân hàng điện tử

Về nguyên tắc, dịch vụ ngân hàng điện tử là việc thiết lập kênh trao đổi thơng

tin tài chính giữa Ngân hàng và khách hàng nhằm phục vụ nhu cầu sử dụng dịch vụ

ngân hàng của khách hàng một cách thực sự nhanh chóng, an tồn và thuận tiện.

Các dịch vụ ngân hàng điện tử bao gồm:





Internet banking (hay Online Banking)



Internet banking (hay Online Banking): được sử dụng tương đối rộng rãi nhất.

Mỗi trang chủ của ngân hàng được coi là một cửa sổ giao dịch. Thơng qua trang chủ

của ngân hàng, người sử dụng có thể truy cập vào tài khoản của mình và sử dụng

các dịch vụ trực tuyến khác nhau như mua hợp đồng bảo hiểm, đầu tư chứng

khoán... Mỗi lần nhấp chuột và một cơ hội để kinh doanh và đầu tư, theo đó, ngân

hàng thay mặt khách hàng thanh tốn và trừ các loại phí dịch vụ thơng qua tài khoản

của họ tại ngân hàng.





Telephone Banking



Telephone Banking: là hệ thống tự động trả lời, hoạt động 24/24, khách hàng

nhấn vào các phím trên điện thoại theo mã hóa do ngân hàng quy ước trước, để yêu

cầu hệ thống trả lời những thông tin cần thiết. Sử dụng hệ thống này, khách hàng

hồn tồn chủ động khi có nhu cầu. Khách hàng có thể kiểm tra thơng tin tài khoản

như số dư tài khoản, các giao dịch trên tài khoản trong một khoản thời gian nhất

định, chuyển tiền giữa các tài khoản khác nhau của cùng khách hàng trong cùng

một ngân hàng, thanh tốn hóa đơn…

Với hệ thống Telephone Banking khách hàng có thể tiết kiệm được rất nhiều

thời gian, khơng cần đến ngân hàng vẫn giám sát được các giao dịch phát sinh trên



4



tài khoản của mình mọi lúc mọi nơi.





Mobile Banking



Mobile Banking: Cùng với sự phát triển của mạng điện thoại di động, dịch vụ

ngân hàng tại Việt Nam cũng nhanh chóng ứng dụng được những cơng nghệ mới

này. Mobile - banking là một kênh phân phối sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng

thông qua hệ thống mạng điện thoại di động.





PC Banking (hay Offline Banking)



PC Banking (hay Offline Banking): là hình thức mà theo đó, ngân hàng có thể

cung cấp các phần mềm được cài đặt tại các văn phòng của người sử dụng. Sau đó,

người sử dụng có thể truy cập vào tài khoản của mình thơng qua modem và đường

nối điện thoại với ngân hàng. Đồng thời họ có thể sử dụng tài khoản vãng lai sang

tài khoản tiết kiệm.

Dịch vu ngân hàng điện tử đã và đang trở thành một phần quan trong trong việc

kinh doanh của các ngân hàng cùng với việc phát triển của công nghệ thông tin, kỹ

thuật, cách sống của con người, sự ưa thích sử dụng. Điều đó đã khiến ngân hàng

điện tử trở thành sự lựa chọn hợp lý của người sử dụng.

1.1.3. Vai trò của ngân hàng điện tử

Ngân hàng điện tử khai thác thế mạnh của công nghệ thông tin và viễn thông tạo

ra các phương tiện giao tiếp mới giữa ngân hàng và khách hàng, bổ sung cho

phương tiện giao dịch truyền thống. Ngân hàng điện tử có vai trò to lớn đến nhiều

thành phần trong nền kinh tế, cụ thể như sau:





Về phía khách hàng



Trước khi xuất hiện ngân hàng điện tử, khách hàng phải tốn rất nhiều thời gian

để đến ngân hàng, làm thủ tục, xếp hàng chờ đến số thứ tự, chưa tính đến những rủi

ro, khi giao dịch với số lượng lớn tiền mặt. Nhưng giờ đây, với việc xuất hiện của

dịch vụ ngân hàng điện tử, với cách sử dụng tương đối đơn giản, phù hợp với phần

lớn khách hàng, ngân hàng điện tử đã giúp khách hàng thoát khỏi những phiền tối

đó. Ngân hàng điện tử trở thành cơng cụ đắc lực giúp khách hàng có thể chủ động



5



để kiểm sốt tài chính của mình một cách an tồn, hiệu quả, mọi lúc, mọi nơi mà

không cần phải trực tiếp đến giao dịch tại ngân hàng.





Về phía ngân hàng



Ngân hàng điện tử giúp cho ngân hàng tiết kiệm tối đa được nguồn nhân lực bởi

nhiều khâu đã được tự động hóa nhưng vẫn đảm bảo cung cấp dịch vụ chất lượng

cao tới một số lượng lớn của khách hàng của mình, làm tăng lợi nhuận và uy tín của

ngân hàng.

Thực hiện dịch vụ ngân hàng điện tử cho phép ngân hàng thích ứng nhanh với

những thay đổi của thị trường, điều chỉnh kịp thời phí, lãi suất, tỷ giá phù hợp với

diễn biến của thị trường. Hạn chế rủi ro về biến động giá cả cho ngân hàng và cả

khách hàng tham gia sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử. Đây là lợi ích vượt trội so

với ngân hàng truyền thống.

Sự kết hợp hài hòa trong sự phát triển các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng

truyền thống và phát triển ngân hàng điện tử, cho phép tiếp cận nhanh với các

phương pháp quản lý hiện đại giúp đa dạng hóa về sản phẩm, tăng doanh thu, nâng

cao hiệu quả hoạt động và đặc biệt nâng cao khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế

trong thời kỳ hội nhập và từng bước phát triển.

Ngân hàng có thể cung cấp, bán chéo các sản phẩm. Có thể liên kết với các cơng

ty bảo hiểm, chứng khốn...để cung cấp dịch vụ, sản phẩm cho khách hàng sử dụng.

Khả năng giữ và thu hút khách hàng của ngân hàng điện tử thì tương đối cao. Chính

nhờ những tiện ích có được từ cơng nghệ ứng dụng sẽ thu hút và giữ chân khách

hàng.

Các ngân hàng sẽ nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn. Thông qua các dịch vụ

ngân hàng điện tử, các lệnh chi trả, nhờ thu của khách hàng được thực hiện nhanh

chóng, tạo điều kiện cho dòng vốn chu chuyển nhanh, thuận lợi, thực hiện tốt các

giao dịch, trao đổi tiền - hàng. Qua đó, đẩy nhanh được tốc độ lưu thơng hàng hóa,

tiền tệ, nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn. Đây là hiệu quả, lợi ích mà các giao

dịch theo kiểu truyền thống khó có thể đạt được với tốc độ nhanh, chính xác so với

ngân hàng điện tử.



6







Về mặt xã hội –kinh tế



Ngân hàng điện tử tiết kiệm chi phí. Theo đó, các chi phí liên quan đến hoạt

động kinh doanh ngân hàng, các ngân hàng trên thế giới đã và đang phát triển mạnh

các dịch vụ ngân hàng điện tử. Đặc biệt là khi các ngân hàng nước ngồi với số vốn

khổng lồ, cơng nghệ hiện đại, dịch vụ đa dạng và với bề dày kinh nghiệm, thì để tồn

tại, và phát triển, các ngân hàng phải đa dạng dịch vụ, sản phẩm, hiện đại hóa cơng

nghệ.

1.1.4. Đặc điểm của ngân hàng điện tử





Các loại dịch vụ ngân hàng điện tử rất đa dạng và phong phú:



Dịch vụ ngân hàng điện tử là kênh phân phối tồn tại song song với kênh phân

phối sản phẩm, dịch vụ truyền thống. Tùy theo từng giai đoạn phát triển của ngân

hàng điện tử tại ngân hàng, các sản phẩm dịch vụ được đưa ra ở các mức độ khác

nhau, từ đơn giản như xem thông tin tài khoản, lịch sử giao dịch đến mức độ cao,

đòi hỏi phải có những kĩ thuật hiện đại như giao dịch thanh toán trực tuyến, mở

L/C... Hiện tại, dịch vụ ngân hàng điện tử đã cung cấp cho khách hàng các tiện ích

giúp khách hàng thực hiện các giao dịch một cách nhanh chóng, hỗ trợ trực tuyến

trong trường hợp khách hàng có vướng mắc. Ở giai đoạn phát triển cao nhất, ngân

hàng điện tử có thể phân phối các sản phẩm, dịch vụ tương tự như một chi nhánh

ngân hàng. Dịch vụ ngân hàng điện tử được xem như một kênh phân phối mang lại

hiệu quả cao cho cả ngân hàng và khách hàng.





Là một hình thức khách hàng tự phục vụ:



Đối là kênh phân phối truyền thống, khách hàng nhất thiết phải đến các chi

nhánh, trụ sở ngân hàng. Còn đối với ngân hàng điện tử, thông qua việc sử dụng các

phím điện thoại, máy vi tính...khách hàng sẽ lựa chọn được dịch vụ, sản phẩm phù

hợp với nhu cầu của mình mà khơng phải tốn q nhiều thời gian và chi phí khi

phải tới ngân hàng thực hiện giao dịch. Nhờ đó, ngân hàng khơng phải tuyển dụng

đội ngũ nhân viên đơng đảo giúp giảm chi phí cho cả ngân hàng. Điều này mang lại

lợi ích cho cả khách hàng và ngân hàng, khách hàng cũng không cảm thấy lo lắng,



7



phiền lòng về thái độ phục vụ của nhân viên đồng thời có thể tự mình thực hiện giao

dịch với sự hỗ trợ của ngân hàng phục vụ.

 Dịch vụ ngân hàng điện tử cho phép khách hàng thực hiện các giao dịch

chính xác và tức thì:

Đối với hoạt động ngân hàng điện tử, yêu cầu của khách hàng sau khi được

truyền về ngân hàng sẽ được xử lý, sau khi hệ thống kiểm tra thông tin, xác nhận

đúng bản chất giao dịch, đúng khách hàng thực hiện giao dịch, hệ thống sẽ thực

hiện lệnh của khách hàng theo đúng quy trình đã được thiết lập sẵn. Cơng đoạn trên

được thực hiện và xử lý rất nhanh chóng mang lại hiệu quả cao, tiết kiệm thời gian

cho khách hàng sử dụng dịch vụ.

1.1.5. Các tiện ích của dịch vụ ngân hàng điện tử

1.1.5.1. Truy vấn thơng tin

Đây là nhóm tiện ích giúp cho khách hàng của ngân hàng có thể theo dõi và

kiểm tra các thông tin liên quan đến tài khoản và các giao dịch của ngân hàng nhằm

quản lý tốt hơn các hoạt động tài chính, chẳng hạn như mở tài khoản mới, xem các

thông tin về lãi suất, tỷ giá…, kiểm tra số dư, in sao kê giao dịch tài khoản, xem chi

tiết các giao dịch ngân hàng, in giấy báo nợ, báo có để làm chứng từ kế tốn.

1.1.5.2. Nghiệp vụ thanh tốn

Đây là nhóm tiện ích cơ bản và quan trọng nhất của dịch vụ ngân hàng điện tử,

giúp tạo nên sự khác biệt với ngân hàng truyền thống. Dịch vụ ngân hàng điện tử

giúp khách hàng thực hiện lệnh thanh tốn mà khơng cần tốn thời gian đến trụ sở

ngân hàng để thực hiện giao dịch. Phần lớn các giao dịch này được thực hiện và xác

nhận lệnh ngay lập tức. Các giao dịch thanh tốn được thực hiện như: thanh tốn

hóa đơn, thanh toán tiền thẻ, chuyển tiền, gửi và xác nhận séc điện tử, gửi tiết kiệm,

…Về cơ bản, các nghiệp vụ thanh toán được thực hiện các nghiệp vụ tương tự của

một hệ thống ngân hàng truyền thống, nó chỉ khác nhau mức độ và tốc độ tiện lợi

cho khách hàng mà thơi.



8



1.1.5.3. Nghiệp vụ tín dụng, thương mại và tài chính

Các nghiệp vụ tín dụng, thương mại và tài chính được thực hiện qua hệ thống ebanking thường là gửi tiền có kỳ hạn, xin vay vốn của ngân hàng, tạo, sửa, và hủy

bỏ tín dụng thư và các yêu cầu thanh toán khác liên quan liên quan đến hoạt động

thương mại và tài trợ thương mại, quản lý các khoản phải thu, phải trả, quản lý

thống nhất các danh mục đầu tư trên tài khoản

1.1.6. Ưu, nhược điểm của ngân hàng điện tử

1.1.6.1. Ưu điểm của ngân hàng điện tử





Nhanh chóng, thuận tiện



Ngân hàng điện tử là một kênh giao dịch giúp khách hàng có thể liên lạc với

khách hàng có thể giao dịch với khách hàng, thuận tiện thực hiện một số giao dịch

với ngân hàng bất kì thời điểm nào, bất cứ nơi đâu. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối

với khách hàng có ít thời gian. Đây là một lợi ích mà các giao dịch theo kiểu ngân

hàng truyền thống khó có thể đạt được với tốc độ nhanh, chính xác như ngân hàng

điện tử.





Tiết kiệm chi phí, tăng doanh thu



Phí giao dịch trên ngân hàng điện tử được đánh giá là ở mức thấp so với các

giao dịch ngân hàng truyền thống, đặc biệt là giao dịch qua Internet, từ đó góp phần

tăng doanh thu hoạt động của ngân hàng thông qua việc cung cấp dịch vụ ngân hàng

điện tử cho khách hàng.





Mở rộng phạm vi hoạt động, tăng khả năng cạnh tranh



Ngân hàng điện tử là một giải pháp của ngân hàng để nâng cao chất lượng dịch

vụ và hiệu quả hoạt động, qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh. Điều quan trọng

hơn, là ngân hàng điện tử còn giúp các ngân hàng thực hiện mục tiêu “tồn cầu hóa”

mà khơng cần tốn chi phí mở thêm chi nhánh. Ngân hàng điện tử cũng là công cụ

quảng bá, khuếch trương thương hiệu một cách sinh động và hiệu quả nhằm đưa

hình ảnh ngân hàng đến gần với khách hàng hơn.





Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn



Xét về mặt kinh doanh ngân hàng, ngân hàng điện tử sẽ giúp nâng cao hiệu quả.



9



Thông qua các dịch vụ ngân hàng điện tử, các lệnh chi trả của khách hàng sẽ được

thực hiện một cách nhanh chóng, tạo điều kiện cho vốn tiền tệ chu chuyển nhanh,

thực hiện tốt giao dịch, trao đổi tiền - hàng. Qua đó, đẩy nhanh tốc độ lưu thơng

hàng hóa, tiền tệ, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.





Tăng khả năng chăm sóc và thu hút khách hàng



Chính sự tiện ích có được từ cơng nghệ ứng dụng, từ phần mềm, từ nhà cung

cấp dịch vụ mạng, dịch vụ internet đã thu hút và giữ chân khách hàng sử dụng, quan

hệ giao dịch với ngân hàng, trở thành khách hàng truyền thống của ngân hàng. Với

mơ hình ngân hàng hiện đại, kinh doanh đa năng thì khả năng phát triển, cung ứng

các sản phẩm, dịch vụ cho nhiều đối tượng, nhiều lĩnh vực kinh doanh của ngân

hàng điện tử là rất cao.

1.1.6.2. Nhược điểm của ngân hàng điện tử





Vốn đầu tư lớn



Để xây dựng một hệ thống ngân hàng điện tử đòi hỏi phải có một lượng vốn đầu

tư ban đầu khá lớn để lựa chọn công nghệ hiện đại, đúng định hướng, chưa kể các

chi phí cho hệ thống dự phòng, chi phí bảo trì, duy trì máy móc, phát triển hệ thống,

đổi mới cơng nghệ sau này. Đồng thời, cần một đội ngũ kỹ sư, cán bộ kỹ thuật có

trình độ để quản trị, vận hành hệ thống... một lượng chi phí lớn mà khơng phải ngân

hàng nào cũng sẵn lòng bỏ ra để đầu tư. Chưa kể việc đầu tư đó có hiệu quả hay

khơng còn phụ thuộc vào hệ thống hạ tầng truyền thông của quốc gia, hay nói cách

khác phụ thuộc chung vào nổ lực chung của một quốc gia chứ không riêng bất cứ

một ngân hàng nào.





Rủi ro cao



Vốn và công nghệ tuy là vấn đề khơng dễ vượt qua, nhưng cũng có thể khắc

phục được, vấn đề nan giải hơn là chỗ tính an tồn, và bảo mật của hệ thống ngân

hàng điện tử. Rủi ro của hoạt động này là không nhỏ, khách hàng có thể mất mật

khẩu truy cập tài khoản của mình. Có thể gây ra việc mất tiền trong tài khoản mà

khơng biết do bản thân mình hay do ngân hàng. Công nghệ của Việt Nam chủ yếu



10



được mua từ nước ngoài, việc phát hiện và bịt các lỗ hổng có thể chưa hồn tồn

triệt để. Virus, phần mềm gián điệp là những nguy cơ tấn công hệ thống qua việc giả

mạo, đánh cắp dữ liệu… Ngoài ra, còn phải kể đến chính sách bảo mật của ngân

hàng đối với hoạt động ngân hàng điện tử còn đang đi những bước đầu tiên, thiếu

những công cụ quản trị rủi ro cần thiết đưa vào thực tiễn nhằm phòng ngừa rủi ro

cho khách hàng.

Qua ngân hàng điện tử khách hàng nhận được thông tin không thể đầy đủ như

một cán bộ chuyên trách của ngân hàng. Khách hàng sẽ mất đi cơ hội trao đổi thơng

tin, nắm bắt tình hình mới, kịp thời so với việc giao dịch tại ngân hàng.

1.2. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH LỰA CHỌN DỊCH VỤ

NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ

1.2.1. Mơ hình chấp nhận công nghệ TAM ( Technology Acceptance Model)

(Davis, 1989)

Xu thế phát triển chung của hệ thống ngân hàng là các kênh phân phối truyền

thống đang thu hẹp lại và các kênh phân phối hiện đại đang mở rộng dần và thay thế

dần các kênh phân phối truyền thống. Tùy mỗi quốc gia, tùy thuộc vào từng điều

kiện cụ thể ở từng thời điểm khác nhau, việc phát triển hệ thống phân phối cũng

khác nhau. Mơ hình TAM đã được cơng nhận rộng rãi là mơ hình tin cậy và mạnh

trong việc mơ hình hóa việc chấp nhận cơng nghệ thơng tin của người sử dụng, có

khả năng giải thích thái độ hành vi của người sử dụng rất tốt.

Hình 1.1. Mơ hình chấp nhận cơng nghệ TAM

Hữu ích cảm

nhận



Biến bên ngoài



Thái độ

Sự dễ sử dụng

cảm nhận



(Nguồn: Davis, 1989)



Dự định



Sử dụng



11



TAM chun dùng để giải thích và dự đốn sự chấp nhận và sử dụng cơng nghệ.

Mơ hình TAM đã và đang được sử dụng trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu, đặc biệt là

các lĩnh vực cơng nghệ có liên quan đến cơng nghệ máy tính, với nhiều nghiên cứu

hỗ trợ, được cơng nhận là cơng cụ hữu ích trong việc dự đoán thái độ của người sử

dụng. Mục tiêu của mơ hình TAM là cung cấp một sự giải thích các yếu tố xác định

tổng quát về sự chấp nhận cơng nghệ, những yếu tố này có khả năng giải thích hành

vi người sử dụng xun suốt các loại cơng nghệ. Mục đích chính của mơ hình TAM

là cung cấp một cơ sở cho việc khảo sát tác động các yếu tố bên ngoài đến các yếu

tố bên trong.

Dựa trên các nghiên cứu thực nghiệm sau khi mơ hình TAM đầu tiên được công

bố, “thái độ” đã được bỏ ra khỏi mơ hình TAM ngun thủy vì nó khơng làm trung

gian đầy đủ cho tác động của sự hữu ích cảm nhận lên hành vi dự định. Hơn nữa,

một vài nghiên cứu đã không xem xét tác động của sự hữu ích cảm nhận và sự dễ sử

dụng lên thái độ. Thay vào đó, họ tập trung vào tác động trực tiếp của hữu ích cảm

nhận và dễ sử dụng lên việc sử dụng hệ thống thực sự. Hai yếu tố cơ bản của mơ

hình là sự hữu ích cảm nhận và sự dễ sử dụng:

“Sự hữu ích cảm nhận là mức độ một người tin rằng sử dụng hệ thống đặc thù

sẽ nâng cao sự thực hiện công việc của chính họ”. (Davis, 1989).

“Sự dễ sử dụng cảm nhận là mức độ mà một người tin rằng sử dụng hệ thống

đặc thù không cần phải nổ lực” (Davis, 1989). Việc một người sử dụng máy tính tin

vào khả năng thực thi một cơng việc trên máy tính một cách dễ dàng tùy thuộc rất

nhiều vào thiết kế giao diện của máy tính, các chương trình huấn luyện cách sử

dụng máy tính, ngơn ngữ thể hiện, phần mềm cài đặt trên máy tính.

Những nghiên cứu sau này đã chứng minh tính hữu ích của mơ hình TAM - đó

như một công cụ trong việc điều tra, nghiên cứu và dự đốn việc chấp nhận sử dụng

cơng nghệ của người tiêu dùng, khả năng mơ hình TAM giải thích được các nhân tố

tác động đến việc sử dụng hệ thống công nghệ thông tin của người sử dụng là tốt

hơn cả. Do đó, nghiên cứu này chọn mơ hình TAM là cơ sở lý thuyết để xây dựng

và phát triển mô hình kiểm định và điều tra các nhân tố tác động đến quyết định lựa



12



chọn dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng TMCP Á Châu khu vực Tp.Hồ Chí

Minh.

1.2.2. Một số mơ hình nghiên cứu ngân hàng điện tử

Ngân hàng điện tử là một kênh phân phối hiện tại mà các ngân hàng đều hướng

tới để tăng tiện ích cho khách hàng sử dụng dịch vụ của ngân hàng. Các mơ hình

nghiên cứu ngân hàng điện tử ở các nước trên thế giới được nghiên cứu các yếu tố

trong việc chấp nhận ngân hàng điện tử, đo lường các yếu tố ảnh hưởng để tìm ra

giải pháp tác động để phát triển dịch vụ, đó cũng là một kinh nghiệm để Việt Nam

có thể nghiên cứu về dịch vụ ngân hàng điện tử. Sau đây là một số mơ hình nghiên

cứu ngân hàng điện tử tại một số nước ở Châu Á đã được triển khai:

 Thái Lan

Hình 1.2. Mơ hình nghiên cứu ngân hàng điện tử tại Thái Lan



Sử dụng

Các tiền đề

Sự tin cậy

cảm nhận



Ích lợi

Dự định



Lòng tin



Đặc

điểm

Thái độ



Rủi ro cảm nhận



(Nguồn: Huy và Anh, 2008)

Các biến số bề sự tin cậy cảm nhận sẽ tác động đến lòng tin của khách hàng khi

sử dụng dịch vụ, tác động đến việc cảm nhận các rủi ro khi khách hàng sử dụng

dịch vụ của ngân hàng. Rủi ro cảm nhận có quan hệ với ích lợi cảm nhận, được xem

là bất trắc mà khách hàng đối mặt khi họ không lường trước được hậu quả của quyết

định sử dụng. Khách hàng bị ảnh hưởng của rủi ro mà họ nhận thức, cho dù rủi ro



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬCƠ SỞ LÝ THUYẾT

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×