Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ

PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ

Tải bản đầy đủ - 0trang

văn

1. C s lý lun:

Sinh thi Bỏc H kớnh yờu đã từng nói : häc

“Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây

Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”.

Việc quan trọng nhất trong sự nghiệp trồng người là phải

chăm sóc, giáo dục các em ngay từ nhỏ để hình thành và phát

triển nhân cách một cách tồn diện. Đó chính là nhiệm vụ của

ngành Giáo dục mầm non bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo

dục quốc dân.

Chính vì thế nhiệm vụ của giáo viên mầm non là phải quan

tâm trang bị cho trẻ những tri thức khoa học và nhân cách toàn

diện để theo kịp thời đại.

Trong cơng tác giáo dục trẻ mầm non thì việc cho trẻ khám

phá khoa học là khơng thể thiếu, có tác dụng giáo dục về mọi

mặt đối với trẻ như: Ngôn ngữ, đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ, thể

lực. Khám phá khoa học là phương tiện để giao tiếp và làm

quen với môi trường xung quanh, môi trường xã hội để giao lưu

và bày tỏ nguyện vọng của mình và đồng thời là cơng cụ của tư

duy.

Khi nói đến trẻ mầm non không ai không biết trẻ ở lứa tuổi

này rất thích tìm hiểu, khám phá mơi trường xung quanh bởi thế

giới xung quanh thật bao la rộng lớn, có biết bao điều mới lạ

hấp dẫn, và còn có bao lạ lẫm khó hiểu, trẻ tò mò muốn biết,

muốn được khám phá. Khám phá khoa học mang lại nguồn biểu

tượng vô cùng phong phú, đa dạng, sinh động, đầy hấp dẫn với

trẻ thơ, từ môi trường tự nhiên như cỏ cây, hoa lá, chim

muông… đến môi trường xã hội công việc của mỗi người trong

xã hội, mối quan hệ của con người với nhau và trẻ hiểu biết về

chính bản thân mình, vì thế trẻ ln có niềm khao khát khám

phá, tìm hiểu về chúng. Khám phá khoa học đòi hỏi trẻ phải sử

dụng tích cực các giác quan chính vì vậy sẽ phát triển ở trẻ

năng lực quan sát, khả năng phân tích, so sánh, tổng hợp, nhờ

vậy khả năng cảm nhận của trẻ sẽ nhanh nhạy, chính xác,

những biểu tượng, kết quả trẻ thu nhận được trở nên cụ thể,

sinh động và hấp dẫn hơn. Qua những thí nghiệm nhỏ trẻ được

tự mình thực hiện trong độ tuổi mầm non sẽ hình thành ở trẻ

những biểu tượng về thiên nhiên chính là cơ sở khoa học sau

này của trẻ.



2/19



Vì vậy hoạt động khám phá khoa học là một trong những nội dung cơ bản

của chương trình mầm non, nó chiếm vị trí quan trọng trong việc tổ chức cho trẻ

tích cực khám phá, hình thành củng cố và phát triển những tri thức cơ bản về

tính chất, nguyên liệu của đối tượng mà mình muốn tìm hiểu nhằm thoả mãn

nhu cầu nhận thức và mở rộng cho trẻ về: cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng

tượng... Các năng lực hoạt động trí tuệ như: quan sát, phân tích, tổng hợp, so

sánh, khái quát hoá, suy luận.

Nhận thức được tầm quan trọng của việc cho trẻ khám phá

khoa học và làm sao để những giờ học đó trở nên thú vị, không

khô khan với trẻ nên tôi đã chọn đề tài “ Một số biện pháp tạo

hứng thú cho trẻ 4- 5 tuổi tham gia hoạt động khám phá khoa

học” để tơi và trẻ lớp tơi cùng tham gia thí nghiệm, cùng chơi, cùng trải

nghiệm và kết quả đó các cháu thích học, tiết học vơ cùng sinh động và đặc biệt

các cháu tự tìm ra, tự khám phá ra kết quả mà các cháu vừa tìm được.

2. Cơ sở thực tiễn:

Từ trước đến nay, trong trường Mầm Non vẫn dạy trẻ tìm hiểu hoặc làm

quen với đối tượng. Trong thực tế, nhiều giáo viên thường chú trọng cho trẻ tìm

hiểu bề ngồi của các đối tượng, đa số trẻ chỉ được hỏi và trả lời, ít khi cho trẻ

sờ, mó, nếm các đồ vật mà trẻ được thí nghiệm. Giáo viên ít đưa ra câu hỏi mở

khích thích sự tìm tòi, khám phá của trẻ, chính vì vậy trẻ có ít trải nghiệm, ít có

điều kiện để giải quyết vấn đề mà trẻ dự đoán.

Đối với trẻ mầm non việc cho trẻ “Khám phá khoa học” là tạo điều kiện

hình thành và phát triển ở trẻ tâm hồn trong sáng, hồn nhiên, lòng nhân ái, tình

cảm u thương với người thân, với cuộc sống xung quanh trẻ, biết yêu quí bảo

vệ thiên nhiên, bảo vệ những truyền thống của quê hương đất nước, trân trọng

và giữ gìn sản phẩm lao động tự làm ra.

Dựa trên đặc điểm tâm lý, nhận thức của trẻ mẫu giáo nói chung, mẫu

giáo 4-5 tuổi nói riêng, các nhà tâm lý học, giáo dục học đã chứng minh rằng

quá trình khám phá khoa học được tổ chức mang tính chất khám phá, trải

nghiệm theo phương thức “Trẻ em chơi mà học,học mà chơi” là phù hợp với trẻ.

Việc sử dụng trực quan, trò chơi, đàm thoại, thí nghiệm đơn giản ln tạo cho

trẻ sự hứng thú, kích thích tính tích cực hoạt động, phát triển tính tò mò, ham

hiểu biết, thích khám phá, tìm tòi, phát triển óc quan sát, phán đốn...Vì vậy,

việc tổ chức hoạt động cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi “Khám phá khoa học” ở lớp

theo hướng đổi mới đóng một vai trò quan trọng cần thiết đối với trẻ.

II. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

1. Mục đích: Nhằm tìm ra một số biện pháp gây hứng thú đối với trẻ mẫu

giáo 4-5 tuổi tham gia vào các hoạt động khám phá khoa học.

2. Nhiệm vụ:



3/19



Chính vì vậy nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài này là tìm ra một số giải

pháp tạo hứng thú cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi tham gia hoạt động khám phá

khoa học ở trường mầm non.

III. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT

KHOA HỌC

1. Đối tượng:

- Đối tượng là trẻ mẫu giáo nhỡ 4 - 5 tuổi.

2. Phạm vi nghiên cứu:

- Đề tài được nghiên cứu đối với đối tượng trẻ 4-5 tuổi và được áp dụng

tại Trường mầm non và được nhân rộng tại 1 số lớp mẫu giáo 4-5 tuổi trong

trường. Đề tài có thể áp dụng rộng rãi đối với trẻ 4-5 tuổi trong tất cả các trường

mầm non.

3. Giả thuyết khoa học:

Có việc tạo hứng thú cho trẻ 4-5 tuổi tham gia hoạt động khám phá khoa

học ở trường mầm non, đã làm tăng sự hứng thú cho trẻ 4-5 tuổi tham gia vào

các hoạt động khám phá khoa học

IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trong đề tài này tôi đã chọn và sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

* Phương pháp nghiên cứu lý luận:

Đọc, khái quát, hệ thống hóa các tài liệu liên quan đến đề tài.

* Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

+ Phương pháp quan sát: Quan sát tự nhiên để xác định thực trạng về sự

hứng thú của trẻ trong các hoạt động khám phá khoa học ở trẻ 4-5 tuổi tại lớp

B1.

+Phương pháp điều tra: Khảo sát trên trẻ, thu thập và xử lý thông tin về

nội dung này.

+ Phương pháp đàm thoại: Đàm thoại với học sinh, giáo viên, phụ huynh

để bổ sung các biện pháp phù hợp.

+ Phương pháp thực hành: Lên kế hoạch, đưa nội dung nghiên cứu vào

chương trình giảng dạy thực tế của lớp mình từ đó rút ra kinh nghiệm.

+ Phương pháp tổng hợp, phân tích: Tổng hợp và phân tích kết quả đạt

được.

V. THỜI GIAN THỰC HIỆN

- Đề tài được nghiên cứu từ tháng 9 năm 2018 đến tháng 4 năm 2019. Vận

dụng vào công tác giảng dạy ở lớp mẫu giáo 4 - 5 tuổi và những năm tiếp theo.



4/19



PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I. CƠ SỞ LÝ LUẬN

Tâm lý học và giáo dục học đã chứng minh rằng quá trình nhận thức của

trẻ là hình ảnh “thu nhỏ” của quá trình nhận thức loài người. Cho trẻ làm quen

với hoạt động khám phá khoa học có một tầm quan trọng trong quá trình giáo

dục trẻ mầm non. Vì thơng qua việc dạy trẻ khám phá khoa học là rèn khả năng

quan sát, so sánh, phân loại, khả năng chú ý tư duy, tưởng tượng. Khám phá

khoa học nhằm củng cố hoá kiến thức, góp phần hình thành những biểu tượng

đúng đắn về các sự vật hiện tượng xung quanh, cung cấp cho trẻ những tri thức

đơn giản có hệ thống về thế giới xung quanh. Mở rộng vốn hiểu biết từ về thế

giới xung quanh và qua đó làm giàu vốn từ cho trẻ. Trẻ nhận biết phân biệt, phát

âm đúng chuẩn, đồng thời phát triển ngôn ngữ, diễn đạt rõ ràng mạch lạc.

Bên cạnh đó việc cho trẻ khám phá khoa học góp phần giúp trẻ phát triển

và hồn thiện các quá trình tâm lý, nhận thức đặc biệt là cảm giác, tri giác, tư

duy, ngôn ngữ và chú ý. Đồng thời nó góp phần quan trọng trong việc giáo dục

tình cảm, thẫm mỹ, đạo đức cho trẻ, hình thành ở trẻ những cảm xúc tích cực và

tích luỹ những tri thức những kinh nghiệm của cuộc sống, làm cơ sở để trẻ

dễ dàng lĩnh hội nội dung giáo dục của các hoạt động vui chơi, học tập, lao

động…làm tiền đề giúp trẻ học tốt các môn học khác như: Văn học, tốn, âm

nhạc, tạo hình.

Nói đến “Khám phá khoa học” nghe có vẻ cao siêu với trẻ mầm non và

nhắc đến các hoạt động khám phá khoa học chắc ai cũng nghĩ nó thật nhàm chán

và khơ khan, nhưng thực ra đó là những hoạt động thật sinh động, hấp dẫn đối

với lứa tuổi của trẻ nếu ta biết lựa chọn đối tượng phù hợp với trẻ, biết vận dụng

các biện pháp khác nhau nhằm thu hút sự chú ý của trẻ.

II. CƠ SỞ THỰC TIỄN

Lớp tôi là một trong 6 lớp mẫu giáo 4- 5 tuổi của trường mầm non Sơn

Đơng, chính vì vậy tơi ln mong muốn mang lại cho các con một môi trường

giáo dục tốt nhất, giúp các con học hứng thú khi học hoạt động khám phá khoa

học.

Để thực hiện mục tiêu đó đầu năm tơi đã tiến hành khảo sát thực trạng

của lớp mình tơi nhận thấy có những thuận lợi và khó khăn sau:

* Bước đầu khảo sát kết quả cho thấy:

Tổng số học sinh được khảo sát 45/45 cháu; Kết quả khảo sát như sau:



NỘI DUNG



KẾT QUẢ KHẢO SÁT 45 CHÁU



5/19



ST

T



Tốt



%



Chưa tốt



%



Kỹ năng quan

sát,tìm ra đặc điểm

và trả lời được tên

gọi đặc điểm của

các đối tượng khám

phá



13



29 %



32



71%



Khả năng so sánh,

2 phân loại các đối

tượng khám phá



15



33 %



30



67 %



3



Khả năng tích cực

tham gia vào hoạt

động



17%



38 %



28



62 %



4



Phát hiện cái mới lạ

và có thái độ hành

động phù hợp



14



31 %



31



69 %



1



1. Thuận lợi:

- Được sự quan tâm và ủng hộ, giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường để

tơi hồn thành tốt nhiệm vụ.

- Lớp học có tương đối đầy đủ các điều kiện hỗ trợ trẻ hoạt động trải

nghiệm và được bố trí các góc hợp lý cho trẻ khám phá như: góc thiên nhiên,

góc khám phá khoa học…..

- Đa số phụ huynh quan tâm đến việc học tập của con và có nhận thức tốt

về việc cho con tham gia các hoạt động khám phá khoa học.

2. Khó khăn:

- Số lượng học sinh trong lớp là quá đông.

- Khả năng suy luận, phân tích, so sánh của trẻ chưa cao.

- Giáo viên còn gặp khó khăn khi tổ chức cho trẻ tham gia hoạt động

khám phá khoa học và chuẩn bị đồ dùng cho trẻ khám phá, trải nghiệm.

3. Nguyên nhân

- Nhận thức của trẻ khơng đồng đều, một số trẻ còn thụ động trong các

hoạt động.

- Học sinh của lớp thuộc diện học sinh vùng nông thôn, nên vốn hiểu biết

về môi trường tự nhiên và môi trường xã hội của cháu còn nhiều hạn chế.

- Từ kết quả như trên, tơi ln băn khoăn suy nghĩ tìm hiểu ngun nhân,

tham gia dự giờ một số hoạt động khám phá khoa học ở các lớp và phát hiện ra



6/19



rằng với hoạt động khám phá khoa học giáo viên chưa biết vận dụng các phương

pháp phù hợp, các hoạt động được tổ chức một cách khô khan, thiếu sự sáng tạo,

chưa linh hoạt khi vận dụng các phương pháp để gây hứng thú cho trẻ ít được

tham gia thực hành, trải nghiệm, khám phá vì vậy trẻ khơng tập trung chú ý,

chưa mạnh dạn trong hoạt động dẫn đến hiệu quả giảng dạy chưa cao.

- Từ thực tế trên tôi đã bàn bạc với giáo viên cùng lớp thống nhất về

phương pháp và đưa ra các biện pháp tạo hứng thú cho trẻ 4-5 tuổi tham gia hoạt

động khám phá khoa học đạt hiệu quả nhất.

- Sau đây là một số biện pháp tạo hứng thú cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi tham

gia hoạt động khám phá khoa học mà tôi muốn được chia sẻ cùng các đồng

nghiệp để các giờ học khám phá khoa học đạt hiểu quả tối ưu nhất.

III. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN

1. Biện pháp 1: Cho trẻ tiếp xúc nhiều với thiên nhiên.

Giờ hoạt động ngoài trời là giờ trẻ tích luỹ thêm nhiều kiến thức về tự

nhiên: Mây, mưa , nắng… thì bầu trời thay đổi như thế nào? Thời tiết ra sao?

Hoặc trong hoạt động có mục đích “Tìm hiểu về hoa cúc mặt trời” trẻ sẽ biết

được tại sao hoa lại có tên như vậy, tơi đã tìm những bơng hoa già có nhị đã kết

thành hạt màu đen và lấy cho trẻ xem để trẻ biết được cây đó lớn lên từ hạt. Sau

đó cho trẻ tìm xem những cây con lớn lên từ hạt mọc ở đâu? Nếu phát hiện ra

bồn cây có cỏ thì cho trẻ nhổ cỏ bỏ vào thùng rác. Qua hoạt động này không chỉ

cung cấp kiến thức cho trẻ mà còn giáo dục trẻ ý thức chăm sóc, bảo vệ cây.

Đặc biệt tơi tận dụng giờ chơi hoạt động ở các góc, chủ

yếu ở góc phân vai - khám phá khoa học để phát huy tính tò mò

khám phá ở trẻ. Mỗi lần tổ chức tơi lại suy nghĩ, tìm tòi ra những

hoạt động khác nhau với mục đích cung cấp kiến thức khác

nhau làm cho trẻ khơng chán.

Ví dụ: Hoạt động ở góc bể chơi cát- nước tháng 9 với hoạt

động có mục đích là: Vật thấm nước, vật khơng thấm nước. Các

góc chơi: Thả thuyền, con vật phun nước, câu cá, mò cua bắt

ốc. Nhưng tháng 10 tơi tổ chức hoạt động có mục đích khác

như: Vật chìm vật nổi, gánh nước tưới cây…

Hoạt động ở bể chơi cát sỏi: Tháng 11 hoạt cho trẻ chơi

các trò chơi sàng cát, đồ hình con vật, chơi cắp cua bỏ giỏ, ô ăn

quan, nhặt sỏi to, sỏi nhỏ xếp hình quả, hoa…Tháng tiếp theo

tơi lại tổ chức cho trẻ chơi: Xây lâu đài cát, nhặt sỏi xếp theo ý

thích.



7/19



Hoạt động chăm sóc cây: Lần đầu tổ chức sẽ cho trẻ tìm

hiểu về cây mình cần chăm sóc, sau đó cho trẻ tưới nước, nhổ

cỏ, bắt sâu, hay lau lá cây… cho cây.



Hình ảnh :Các bạn đang chăm sóc cây

Hoạt động khám phá về ngày tết nguyên đán: Tơi tổ chức cho trẻ

tìm hiểu về ngày tết ngun đán thơng qua các hoạt động như: gói bánh chưng

và trang trí cành đào cành mai. Qua đây trẻ có thể hiểu thêm về truyền thống tốt

đẹp của dân tộc Việt Nam.



Hình ảnh : Các bạn lớp B1 đang cùng cơ gói bánh chưng và trang trí cành đào.

2. Biện pháp 2: Sử dụng linh hoạt các đồ dùng trực quan sinh động.

Đối với trẻ lứa tuổi mầm non đồ dung trực quan vô cùng quan trọng đối

với trẻ. Để tiết học đạt hiệu quả cao đòi hỏi giáo viên phải biết sử dung linh hoạt

các đồ dùng trực quan để gây sự chú ý của trẻ.

Tuân theo qui luật tự nhiên của chính bản thân đối tượng.Tận mắt nhìn

thấy các đối tượng xung quanh, điều đó có tác dụng làm chính xác những biểu

tượng đã được hình thành trong đầu óc trẻ. Đối với trẻ mẫu giáo, phạm vi hiểu

biết và học hỏi, tìm tòi rộng hơn do đó cô giáo cần tạo điều kiện cho trẻ tiếp cận

với các vật có thật để cho trẻ được hoạt động tìm tòi, khám phá và phát hiện.

Nhờ có trực quan, trẻ nhận biết đối tượng hứng thú hơn, dễ dàng hơn, chính xác

hơn, trực quan cần phải đảm bảo tính thẩm mỹ, đẹp, rõ ràng, không gây nguy

hiểm đối với trẻ... Bằng những dụng cụ trực quan thật hấp dẫn của giáo viên,



8/19



quá trình tri giác của các đối tượng sẽ làm nảy sinh tính ham hiểu biết, khám phá

và phát hiện đối tượng của trẻ. Việc lựa chọn đồ dùng trực quan phải phù hợp và

phải.

Ví dụ: Trong hoạt động khám phá về “Trường Mầm non”, cô cho trẻ hoạt

động trực tiếp nhìn vào đồ dùng đồ chơi ở sân trường cầu trượt, xích đu, hoặc đồ

chơi các góc ở trong lớp, sau đó cơ dùng thủ thuật của mình để “biến” đối tượng

đã quan sát này thành một đề tài hấp dẫn, dẫn dắt trẻ từ những cái trẻ không biết

để đi đến cái trẻ sẽ biết như những đồ dùng này đến làm từ đâu? Chất liệu như

thế nào? Vì sao để ngồi trời mà khơng bị hỏng? Hoặc cho trẻ xem, học những

đồ dùng trẻ đã sử dụng hàng ngày ở nhà cũng như trong lớp,như: khăn lau mặt,

chén ăn cơm, bàn chải đánh răng, ly nước...Từ những vật thân thuộc trẻ sử dụng

hàng ngày, cô sẽ tạo ra một buổi hoạt động học “Khám phá khoa học” trên

những đồ dùng của trẻ, từ đó trẻ sẽ có ý thức hơn khi sử dụng đồ dùng cá nhân

của mình.

Cơ có thể kích thích trẻ tự khám phá qua sách, tranh ảnh, qua xem ti

vi...cho trẻ tham quan trực tiếp hình ảnh mà giáo viên muốn truyền đạt để tạo cơ

hội cung cấp, cũng cố kinh nghiệm, làm tăng sự tò mò, hứng thú, hài lòng của

trẻ, tạo những động cơ mới để tạo cơ hội cho trẻ nắm chắc các kiến thức cơ bản,

sơ đẳng về môi trường tự nhiên, môi trường xã hội gần gũi với trẻ.

Vì vậy, việc lựa chọn dụng cụ trực quan quen thuộc rất quan trọng trước

khi tổ chức cho trẻ quan sát, cô giáo cần xác định mục tiêu, yêu cầu của hoạt

động học. Mục tiêu là cái cần phải đạt được của hoạt động, còn yêu cầu là mức

độ cần đạt được của mục tiêu. Tuỳ theo mục tiêu và yêu cầu đã xác định cùng

với tình hình thực tế của mỗi địa phương, cô giáo nên luôn chọn dụng cụ trực

quan sao cho thích hợp. Đối tượng cho trẻ quan sát có thể là vật thật, tranh ảnh,

mơ hình và màn hình nhưng phải đảm bảo tính sư phạm. Tuỳ theo đặc điểm tâm

lý của trẻ trong lớp mà mình dạy, cơ giáo cần xác định số lượng đối tượng quan

sát như thế nào cho phù hợp.

Ví dụ: Với hoạt động khám phá về thực vật, cô cho trẻ quan sát sự phát

triển của cây xanh là từ hạt - nảy mầm – cây non – cây trưởng thành – ra hoa kết quả - hạt, cho trẻ quan sát sự biến đổi của hoa thành quả, điều kiện sống của

cây như nước, ánh sáng, khơng khí, nhờ bàn tay chăm sóc của con người, phân

bón...Điều quan trọng khi sử dụng công cụ trực quan: Cô giáo nên đặt ở chỗ nào

để tất cả trẻ đều nhìn rõ và quan sát đối tượng một cách dễ dàng nhất để trẻ dễ

dàng hoạt động với đối tượng.

Ví dụ: Trong hoạt động khám phá về “Một số động vật sống trong rừng”:

cô sẽ phát cho mỗi trẻ một tranh lô tô về con vật. Sau khi cô hát hoặc đặt câu đố

liên quan đến động vật, trẻ có con vật nào cầm trên tay, trẻ sẽ đưa con vật đó ra

và tự giới thiệu tên, thức ăn, vận động, cách sinh sống của chúng. Trẻ dễ dàng

hành động và hoạt động với đối tượng.

9/19



Hình ảnh: Các con vật sống trong rừng.

Cô cũng cần cho trẻ biết sự phát triển của động vật là từ trứng - nở ra con

(Hoặc con mẹ) - con con - con trưởng thành - con mẹ…

Tuy nhiên, lưu ý là giáo viên phải hình dung trước những tình huống bất

lợi có thể xảy ra khi cho trẻ xem những trực quan thật như: Con chim, con mèo,

con gà, con vịt... Để giờ quan sát với giáo cụ trực quan thêm sinh động và gây

hứng thú nhiều hơn nếu có điều kiện, cơ cho sử dụng các phim tài liệu hoặc

phóng sự ngắn về thế giới động vật có thể lấy từ trên mạng hoặc các loại băng

đĩa. Khi sử dụng các loại phim tài liệu này thì nội dung phim phải phục vụ một

chủ đề nào đó cho hợp lý đối với trẻ. Những hình ảnh diễn ra trên màn hình vi

tính có sức hấp dẫn, lôi cuốn trẻ mạnh mẽ và nhất định sẽ có sự đóng góp đáng

kể vào hiệu quả giáo dục ở mầm non. Nhưng giáo viên không nên phụ thuộc q

nhiều vào máy vi tính, mà phải có sự chuẩn bị của mình về cách dẫn dắt bằng lời

nói cho xuyên suốt và logic. Hoặc cô sẽ tạo cho trẻ sự hứng thú trong việc cho

trẻ gieo trồng, theo dõi, chăm sóc sự phát triển của cây.

Cùng trẻ làm đất cho vào chậu cây, cho trẻ gieo hạt, tìm nơi có ánh sáng,

hướng dẫn trẻ tưới nước và cho trẻ theo dõi hàng ngày để trẻ cảm nhận sâu sắc

hơn về sự phát triển của cây, sau đó cơ hướng dẫn trẻ đánh dấu theo hình ảnh để

trẻ nói lên được cảm nghĩ của mình.

Ngày nay lĩnh vực cơng nghệ thơng tin phát triển vơí tốc độ nhanh chóng,

tơi cũng cập nhật thơng tin từ internet để download hình ảnh, video clip ứng

dụng vào dạy trẻ. Trẻ được chính xác hoá các biểu tượng, hấp dẫn, cuốn hút trẻ

vào giờ hoạt động hơn. Tơi còn thiết kế các bài giảng điện tử trên chương trình

powerpoint như: ở bài dạy “Một số loại quả” tơi đã thiết kế trò chơi củng cố,

hoặc bài “Tìm hiểu về bác nơng dân” tơi cho trẻ xem hình ảnh cơng việc của bác

có lồng nhạc. Ở giờ họat động “Trò chuyện về tết nguyên đán” tơi cho trẻ xem

hình ảnh đi chợ tết, bắn pháo hoa trên máy tính, trẻ rất thích

3. Biện pháp 3 : Cho trẻ làm thí nghiệm.

Được trực tiếp làm thí nghiệm với các vật mà mình đang học quả là một

điều thích thú đối với trẻ. Thật vậy, cứ để cho cháu được hoạt động, được trải



10/19



nghiệm, được thử - sai và cuối cùng cháu tìm ra một kết quả nào đó sẽ là một

điều lý thú đối với trẻ.

Ngày nay khoa học kỹ thuật đã có những bước tiến quan

trọng vì vậy đối với các em thiếu nhi thì việc trang bị cho mình

những kiến thức bao quát và chính xác về các lĩnh vực của tự

nhiên và con người là rất cần thiết. Khơng phải thí nghiệm nào

cũng là 1 phát minh tuy nhiên khơng có phát minh nào là khơng

có thí nghiệm. Những thí nghiệm nhỏ, đơn giản, dễ tiến hành

nhưng lại hiệu qủa vì đem đến cho các em những hiểu biết về

thế giới xung quanh, từng bước các em sẽ có điều kiện để suy

nghĩ, khám phá những bí ẩn của cuộc sống. Dưới đây là một số

thí nghiệm tơi đã tiến hành và kết quả thu được rất tốt, trẻ rất

hứng thú, say mê với các thí nghiệm, trải nghiệm.

Thí nghiệm 1: Dạy về khơng khí

Đầu tiên cơ cho trẻ chơi các trò chơi nhỏ:

Trò chơi 1: “Bịt mũi”.

*Cơ cho trẻ bịt mũi lại và hỏi trẻ: Khi bịt mũi lại các con có thở được

không?

- Trẻ trả lời: Dạ, không thở được.

* Vậy làm thế nào để thở được?

- Trẻ trả lời: Dạ, phải thả tay ra mới thở được.

- Cho trẻ đứng vào chỗ cô quy định, hỏi cháu: Đứng ở đây các con có thở

được khơng?

- Trẻ trả lời: Dạ có

*Chia trẻ ra các nhóm nhỏ và cho trẻ đứng ở các góc khác nhau.

Cơ hỏi trẻ: Các con có thở được không?

- Trẻ trả lời: Dạ, thở được

*Cho trẻ đứng tự do trong lớp, hỏi trẻ: Các con có thở được khơng?

- Trẻ vẫn trả lời: Dạ có

- Lúc này tôi mới đặt vấn đề: Chúng ta thở được là nhờ đâu?

- Khi trẻ đưa ra các ý kiến khác nhau, cơ chính xác lại: Chúng ta thở được

là nhờ có khơng khí.

+ Vậy khơng khí có ở đâu?

- Cơ kết luận: Khơng khí có ở xung quanh chúng ta.

- Cơ tiếp tục đặt tình huống: Thế khơng khí có bắt được khơng? Lúc này

có cháu nói được có cháu nói khơng.



11/19



- Cơ hỏi tiếp: Làm thế nào để bắt được khơng khí? Lúc này các cháu đưa

ra rất nhiều ý kiến khác nhau: Lấy ly, lấy chai, lấy lon, lấy hộp,… để bắt khơng

khí.

Cơ phát cho mỗi cháu một cái túi nilon và yêu cầu: “Hãy lấy và bắt khơng

khí vào túi” Mỗi cháu đã thực hiện một cách khác nhau: Nắm bắt khơng khí

xung quanh bỏ vào túi, với khơng khí cho vào túi…. Nhưng các cháu vẫn chưa

thấy gì trong túi.

Cơ tiếp tục gợi ý: “Các con hãy làm cách nào để túi phồng to lên đi ” thì

cháu phát hiện là mình phải thổi hơi vào túi và muốn giữ hơi trong túi thì phải

xoắn hay cột túi lại.

Sau đó cơ giải thích: Khơng khí đang ở trong túi của các con đấy!

Tiếp theo cô cho các cháu chơi với túi khơng khí:

Ví dụ: Lấy kéo cắt túi để thấy khơng khí xì ra, lấy cây nhọn đâm nhẹ sẽ

thấy hơi thoát ra.

Hỏi trẻ: Các con thấy gì khơng?

Cháu trả lời: Thấy mát, thầy xì xì,….

Cơ chốt lại: Đó chính là khơng khí đang thốt ra khỏi túi bóng.

Tiết học sơi động và vui hẳn lên, các cháu biết thêm là: Khơng khí ln

ln ở bên cạnh con người, con người phải có khơng khí thì mới sống, mới thở

được…



Hình ảnh: Trẻ tìm hiểu về khơng khí.

Thí nghiệm 2: Vật chìm, vật nổi

* Mục đích.

- Giúp trẻ thỏa mãn nhu cầu tìm tòi và khám phá

- Giúp trẻ phát triển khả năng tìm tòi, sáng tạo nghiên cứu tìm ra cái mới

tích lũy các kiến thức.

- Rèn luyện khả năng phân tích, tổng hợp và đánh giá các sự vật, hiện

tượng.

* Chuẩn bị:

- Các mẫu vật thí nghiệm như xốp bitis, sỏi, miếng nhựa hình con vịt,

miếng sắt, miếng gỗ, bơng hố học, bơng y tế, lá cây khô, xốp bọt biển…



12/19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×