Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.3: Số QTDND và số lượng sổ tiết kiệm đã được BHTG chi trả

Bảng 3.3: Số QTDND và số lượng sổ tiết kiệm đã được BHTG chi trả

Tải bản đầy đủ - 0trang

khách hàng là một yêu cầu rất khó. Mặc dù vậy, quy định tính phí BHTG đóng

góp thường xun áp dụng thời gian qua, trên cơ sơ lựa chọn số dư tiền gửi tính

phí là tiền gửi được bảo hiểm, tạo nên sự đối xử tương đối công bằng về đóng

góp tài chính giữa các tổ chức tham gia BHTG và đồng thời có hỗ trợ đối với tổ

chức mới tham gia vào lĩnh vực kinh doanh ngân hàng. Đây có thể được đánh giá

là thành cơng lớn của việc áp dụng phí BHTG đồng hạng trong những năm đầu

triển khai chính sách BHTG.

Ưu điểm nổi bật của việc thu phí BHTG đồng hạng là thuận lợi trong triển

khai. Vì tất cả các tổ chức tham gia BHTG đều được áp dụng chung một tỷ lệ phí

BHTG đóng góp như nhau nên nhu cầu phải đánh giá chính xác tình hình hoạt động

của tổ chức tham gia BHTG là khơng nhất thiết trong việc xem xét trách nhiệm tài

chính của tổ chức tham gia BHTG đối với tổ chức BHTG. Ưu điểm này đã tạo nên

điều kiện thuận lợi rất lớn cho các tổ chức BHTG đặc biệt là trong giai đoạn đầu

mới triển khai hoạt động BHTG. Vì thế đa số các hệ thống BHTG trên thế giới đều

khơi đầu bằng việc áp dụng đóng góp tài chính theo tỷ lệ phí BHTG đồng hạng.

Nguồn vốn hoạt động của BHTGVN được hình thành từ vốn điều lệ do nhà

nước cấp, quy dự phòng nghiệp vụ hình thành từ nguồn thu phí bảo hiểm, các quy

khác được trích lập theo chế độ. Quy dự phòng nghiệp vụ được hình thành từ các

nguồn như thu nhập từ hoạt động đầu tư nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi sau khi trích

một phần để trang trải chi phí hoạt động của BHTGVN, các khoản tiền bảo hiểm

khơng có người nhận theo quy định, số tiền còn lại (nếu có) từ việc thanh lý tài sản

của tổ chức tham gia BHTG, chênh lệch thu chi tài chính còn lại hàng năm sau khi

trích lập quy đầu tư phát triển và quy khen thương, phúc lợi theo quy định; quy đầu

tư phát triển. Nguồn vốn quy tạo cơ sơ cho việc xử lý ngân hàng đổ vỡ và chi trả

tiền bảo hiểm cho người gửi tiền, đồng thời giảm sức ép đối với ngân sách nhà nước

trong trường hợp tổ chức tín dụng gặp khó khăn.

* Về hoạt động chi trả BHTG

BHTGVN thực hiện nhiệm vụ chi trả tiền bảo hiểm tối đa 50 triệu đồng

(trước khi có Quyết định 21/2017/QĐ-TTg ngày 15/6/2017 – chi trả tiền bảo hiểm



74



tối đa 75 triệu đồng) cho một người gửi tiền tại một tổ chức nhận tiền gửi. Tính đến

hết năm 2016, BHTGVN đang bảo vệ cho hơn 3 triệu tỷ đồng tiền gửi của người

gửi tiền tại 1.266 tổ chức tham gia BHTG, bao gồm 94 NHTM, 01 NHHTX, 1.168

QTDND và 03 tổ chức tài chính vi mô. Thời gian qua, BHTGVN đã chi trả kịp thời

theo quy định cho 1.828 người gửi tiền tại 39 tổ chức tín dụng, với tổng số tiền chi

trả là 26,778 tỷ đồng (tính đến 31/12/2015).

BHTG Việt Nam đã thực hiện chi trả kịp thời và đầy đủ cho 33 quy Tín dụng

nhân dân bị giải thể, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền, góp phần quan

trọng trong ngăn chặn ảnh hương dây chuyền đối với hoạt động của tổ chức tín

dụng, ổn định chính trị xã hội. Với 33 quy Tín dụng nhân dân gặp khó khăn khơng

thể có giải pháp tháo gỡ để tiếp tục duy trì hoạt động đã được chấm dứt hoạt động

kịp thời và không gây ảnh hương tới các ngân hàng khác. Mặc dù số lượng người

được chi trả bảo hiểm không nhiều nhưng chính điều này đã cho thấy tác dụng tích

cực của BHTG Việt Nam trong cơng tác ổn định tài chính quốc gia. Tính đến năm

2014, trong tổng số 905 quy Tín dụng nhân dân có tới 891 quy Tín dụng nhân dân

hoạt động bình thường, chiếm tỷ lệ 98,5%, 14 quy hoạt động yếu kém và khơng có

quy nào có nguy cơ mất khả năng thanh tốn. Ngân hàng có khó khăn phải chấm

dứt hoạt động sẽ được BHTG Việt Nam giải quyết chi trả tiền bảo hiểm cho người

gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm một cách nhanh gọn bằng chính nguồn vốn

tích luy của cộng đồng các tổ chức tham gia BHTG. Cơ chế chi trả tương đối đơn

giản và kịp thời mà BHTG Việt Nam thực hiện đã tạo điều kiện cho các ngân hàng

mạnh dạn chấm dứt hoạt động nếu điều đó là cần thiết và không gây ảnh hương bất

lợi đến các ngân hàng khác và người gửi tiền. Điều đó thực sự đã góp phần củng cố

niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng. Nhờ đó, hiện tượng rút tiền ồ ạt tại các

tổ chức huy động tiền gửi khác do ảnh hương của các Quy tín dụng bị đóng cửa đã

không xảy ra. Thời gian qua, dù số người gửi tiền mà Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

đã chi trả bảo hiểm không nhiều, nhưng tác dụng của việc đảm bảo quyền lợi của

những người gửi tiền là rất đáng kể, tránh lặp lại tình trạng bất ổn xã hội đã xảy ra

làm gần 8000 Hợp tác xã, Quy tín dụng đóng cửa trên phạm vi cả nước trong giai



75



đoạn 1988 - 1990 khi chưa có hoạt động bảo hiểm tiền gửi. Từ đó cho thấy dân

chúng đã tin tương hơn vào hệ thống ngân hàng Việt Nam khi có Bảo hiểm tiền gửi

Việt Nam. Với cơ chế hoạt động bảo hiểm tiền gửi là lấy nguồn thu từ số đơng để

tài trợ rủi ro của số ít, hoạt động Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã tạo điều kiện thuận

lợi cho các ngân hàng có quy mơ hoạt động hạn chế, đặc biệt là quy Tín dụng nhân

dân có khó khăn và khơng có giải pháp tháo gỡ để tiếp tục hoạt động duy trì, đã

được chấm dứt hoạt động một cách kịp thời, rút lui khỏi thị trường một cách êm

thấm và không gây ảnh hương đến các ngân hàng khác. Ngoài ra, Bảo hiểm tiền gửi

Việt Nam với hoạt động của mình đã tạo niềm tin họ sẽ nhận lại được số tiền gửi

của mình trong mọi trường hợp (dù ngân hàng làm ăn hiệu quả hay bị phá sản), qua

đó tạo sự yên tâm cho người gửi tiền khi gửi tiền tại các tổ chức huy động tiền gửi.

Như vậy, vơ hình chung, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tạo ra yếu tố đảm bảo cho các

ngân hàng trong hoạt động huy động tiền gửi. Thực tế cho thấy, từ khi Bảo hiểm

tiền gửi Việt Nam ra đời, tổng lượng tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm huy động

được liên tục tăng qua các năm. Nếu như năm 2000, tổng lượng tiền gửi thuộc đối

tượng được bảo hiểm chỉ là 45 nghìn tỷ đồng thì đến năm 2014, con số này đã lên

tới 2 triệu tỷ đồng, điều này chứng tỏ vai trò tích cực của Bảo hiểm tiền gửi Việt

Nam trong việc củng cố niềm tin của dân chúng và thúc đây huy động vốn nhàn rỗi

trong dân cư, đồng thời cũng thể hiện nhận thức của người dân trong việc bảo vệ

tiền gửi của mình thơng qua việc gửi các loại tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm.

Vai trò và các hình thức tuyên truyền tác dụng của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã

phát huy tác dụng.

Chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền là biện pháp cuối cùng khi tổ chức

tham gia BHTG chấm dứt hoạt động, đó là một trong những nội dung hoạt động

quan trọng của BHTG Việt Nam. BHTGVN chủ động xây dựng các phương án chi

trả tiền bảo hiểm để thanh toán cho người gửi tiền và thực hiện đầy đủ trách nhiệm

chi trả tiền gửi được bảo hiểm cho người gửi tiền tại các tổ chức tham gia BHTG

theo đúng quy định. Công tác chi trả được tiến hành nhanh chóng, kịp thời, đúng

quy trình thủ tục, khơng xảy ra sai sót, khiếu kiện, góp phần giữ vững an ninh kinh



76



tế - chính trị - xã hội.

3.1.3. Hạn chế

* Hạn chế của pháp luật trong hoạt động thu phí BHTG

Bên cạnh những ưu điểm đã nêu trên, phí BHTG đồng hạng bộc lộ một số

hạn chế cơ bản cần được nghiên cứu, có kế hoạch khắc phục mà nguyên nhân chủ

yếu của nó xuất phát từ chính nội tại từ hệ thống bộ máy tài chính – ngân hàng hiện

nay của Việt Nam.

Tỷ lệ phí BHTG như nhau áp dụng chung cho tất cả khách hàng tham gia

BHTG sẽ tạo nên khả năng xảy ra các biểu hiện ỷ lại, xét về góc độ quản lý rủi ro

trong hoạt động của các tổ chức tham gia BHTG và đồng thời khơng có tác dụng

khuyến khích các Ngân hàng thi đua hoạt động tốt, an toàn cao để được áp dụng tỷ

lệ phí BHTG thấp. Đã từng có nghiên cứu chỉ ra rằng, đối với các hệ thống BHTG

áp dụng tỷ lệ phí BHTG đồng hạng, động lực thúc đẩy ngân hàng chấp nhận rủi ro

cao hơn trong hoạt động càng trơ lên mạnh mẽ hơn [28, tr.2]. Hơn nữa, nhiều tổ

chức BHTG cũng đánh giá phí BHTG là một trong các tín hiệu cơng bố đối với thị

trường về tình hình hoạt động của tổ chức tham gia BHTG, đặc biệt là mức độ rủi ro

trong kinh doanh để tự xây dựng các kế hoạch điều chỉnh đảm bảo an tồn hơn.

Điều đó cần đặt ra yêu cầu cần xem xét, từng bước chuyển sang phí BHTG theo

mức độ rủi ro (hệ thống phí phân biệt).

Phương pháp thu phí đồng hạng bộc lộ một số bất cập, như: mang tính “cào

bằng”, khơng khuyến khích, thúc đẩy cạnh tranh giữa các tổ chức nhận tiền gửi,

không đảm bảo nguyên tắc thị trường (TCTD nào rủi ro cao thì phải đóng phí cao

và ngược lại). Điều đó sẽ dẫn tới hệ quả không đảm bảo công bằng giữa các TCTD,

không tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các TCTD và không tạo động lực cho

các TCTD cố gắng nỗ lực cải thiện hoạt động và nâng cao tính minh bạch cho tổ

chức và tăng cường khả năng thích nghi cũng như cạnh tranh trên thị trường...

Một trong các nghĩa vụ của tổ chức tham gia BHTG là nộp phí BHTG. Tổ

chức tham gia BHTG phải tuân thủ quy định của pháp luật về mức phí BHTG, thủ

tục nộp phí BHTG. Trường hợp vi phạm nghĩa vụ nộp phí BHTG, tổ chức tham gia



77



BHTG có thể phải gánh chịu các biện pháp chế tài pháp lý do pháp luật quy định.

Có hai vấn đề nổi cộm đó là về việc tính phí BHTG và việc nộp chậm, nộp thiếu phí

BHTG. Hiện nay, phí BHTG được áp dụng với mức 0,15% trên tổng số dư tiền gửi

được bảo hiểm cho tất cả các tổ chức tham gia BHTG. Mức thu phí này đã được

thực hiện từ năm 2005 trên cơ sơ quy định tại Nghị định số 89/1999/NĐ - CP ngày

01/9/1999 về BHTG và Nghị định số 09/2005/NĐ - CP ngày 24/8/2005 sửa đổi, bổ

sung một số điều của Nghị định số 89/1999/NĐ - CP tiếp tục có hiệu lực thi hành

cho đến khi Thủ tướng Chính phủ ban hành các quy định về khung phí theo quy

định của Luật BHTG năm 2012. Việc áp dụng mức phí đồng hạng chỉ phù hợp trong

giai đoạn đầu triển khai hệ thống BHTG khi tổ chức BHTG chưa có đủ các nguồn

lực cần thiết vì hệ thống phí BHTG đồng hạng dễ quản lý, dễ tính và thu phí. Tuy

nhiên, hạn chế của việc áp dụng mức phí đồng hạng là không công bằng, tiềm ẩn rủi

ro đạo đức và hạn chế sự cạnh tranh giữa các tổ chức tham gia BHTG trong việc

nâng cao chất lượng hoạt động để hương mức phí thấp. Điều này có hạn chế là cào

bằng, khơng đảm bảo ngun tắc thị trường theo đó tổ chức tín dụng nào có mức độ

rủi ro cao thì phải đóng phí cao và ngược lại. Khắc phục điều đó, Luật BHTG năm

2012 quy định như sau: “Thủ tướng Chính phủ quy định khung phí BHTG theo đề

nghị của NHNN. Căn cứ vào khung phí BHTG, NHNN quy định mức phí BHTG cụ

thể đối với tổ chức tham gia BHTG trên cơ sở kết quả đánh giá và phân loại các tổ

chức này”. Quy định này cũng phù hợp với xu hướng quốc tế là chuyển từ mô hình

phí đồng hạng sang áp dụng mơ hình phí theo rủi ro. Tuy nhiên, việc này cũng phải

được nghiên cứu ky lưỡng, đặc biệt là phải xem xét hoàn thiện hệ thống đánh giá

xếp hạng các tổ chức tín dụng theo phương pháp CAMELS (Hệ thống phân tích

CAMELS được áp dụng nhằm đánh giá độ an toàn, khả năng sinh lời và thanh

khoản của ngân hàng), phân tích theo chỉ tiêu CAMELS dựa trên 6 yếu tố cơ bản

được sử dụng để đánh giá hoạt động của một ngân hàng, đó là: Mức độ an tồn vốn,

Chất lượng tài sản có, Quản lý, Lợi nhuận, Thanh khoản và Mức độ nhạy cảm thị

trường.

Đây là căn cứ quan trọng để triển khai thu phí BHTG theo mức độ rủi ro.



78



Đồng thời, một yếu tố cần cân nhắc khi triển khai thu phí BHTG theo mức độ rủi

ro là trách nhiệm bảo mật thông tin đánh giá xếp hạng, tránh trường hợp lợi dụng

để cạnh tranh không lành mạnh gây tổn hại đến hệ thống ngân hàng. Đây cũng là

vấn đề đổi mới chính sách BHTG tại Việt Nam và cũng sẽ được ban hành trong

thời gian tới.

Ngồi ra còn một số hạn chế khác như:

- Luật BHTG chưa quy định về việc xử lý số tiền nợ phí BHTG, nợ tiền phạt

nộp chậm phí BHTG của tổ chức tham gia BHTG đến thời điểm phát sinh nghĩa vụ

trả tiền bảo hiểm; trong khi đó thực tế đến thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo

hiểm, BHTGVN không thu được các khoản nợ phí BHTG, nợ tiền phạt nộp chậm

phí BHTG của tổ chức tham gia BHTG.

- Luật BHTG và các văn bản dưới Luật chưa có quy định về việc gia hạn thời

hạn nộp phí BHTG; việc miễn, giảm phạt chậm nộp phí BHTG đối với tổ chức tham

gia BHTG trong một số trường hợp đặc biệt; trong khi đó trên thực tế phát sinh nhiều

tình huống cần có những cơ chế gia hạn, giảm tiền phí, giảm tiền phạt dẫn đến việc

quản lý phí gặp nhiều khó khăn như trường hợp tổ chức tham gia BHTG lâm vào tình

trạng mất thanh khoản, khơng có tiền nộp phí đúng theo quy định.

- Luật BHTG và các văn bản dưới Luật chưa quy định thời điểm thực hiện

tính phí BHTG kỳ thu phí quý đầu tiên áp dụng đối với tổ chức thuộc đối tượng

tham gia BHTG bắt buộc nhưng khai trương hoạt động huy động vốn một thời gian

mới nộp hồ sơ xin cấp Chứng nhận tham gia BHTG dẫn đến thực tế có nhiều cách

hiểu khác nhau về thời điểm tính phí kỳ thu phí đầu tiên.

- Tại Khoản 2 Điều 21 Luật BHTG quy định “…tổ chức bảo hiểm tiền gửi

có trách nhiệm thơng báo và truy thu số phí còn thiếu hoặc thối thu đối với số phí

nộp thừa trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày phát hiện”. Việc xác định ngày phát

hiện để tính thời hạn 15 ngày gặp khó khăn do trên thực tế khi tiến hành kiểm tra,

phát hiện có sai phạm, BHTGVN lập biên bản kiểm tra và kết luận kiểm tra. Như

vậy có 2 mốc thời gian để tính là ngày phát hiện đó là ngày thơng qua biên bản

kiểm tra và ngày ký ban hành kết luận kiểm tra. Vấn đề này chưa được quy định tại



79



Luật BHTG hay các văn bản dưới Luật.

* Hạn chế của pháp luật trong hoạt động chi trả BHTG

Trong trường hợp gặp khó khăn về tài chính mà có nguy cơ mất khả năng

thanh tốn nhưng chưa đến mức bị đặt trong tình trạng kiểm sốt đặc biệt, tổ chức

tham gia bảo hiểm có thể được tổ chức BHTG cho vay hỗ trợ, bảo lãnh cho các

khoản vay đặc biệt, mua lại nợ đối với những khoản nợ có bảo đảm bằng tài sản.

Trong trường hợp buộc phải thanh lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm vì lý do

mất khả năng thanh toán, tổ chức BHTG sẽ thực hiện việc chi trả cho người thụ

hương thay cho tổ chức tham gia BHTG.

Về thủ tục trả tiền và hạn mức thanh toán bảo hiểm. Điều 26 Luật BHTG

năm 2012 quy định thủ tục trả tiền bảo hiểm, tuy nhiên, hồ sơ đề nghị chi trả

chưa quy định rõ ràng, đồng thời các trường hợp nhận tiền theo ủy quyền, tiền

thừa kế, tiền gửi của người mất tích cũng chưa được đề cập đầy đủ. Hơn nữa, về

hạn mức trả tiền bảo hiểm được áp dụng từ năm 2005 cho đến trước thời điểm

ngày 05/8/2017, ngày Quyết định 21/2017/QĐ-TTg ngày 15/6/2017 có hiệu lực

với hạn mức chi trả là 50 triệu đồng (áp dụng trong thời gian hơn 10 năm), sau

thời điểm ngày có hiệu lực của Quyết định số 21 thì hạn mức chi trả tiền bảo

hiểm nâng lên tối đa 75 triệu đồng, trong khi thu nhập bình quân đầu người cũng

như tốc độ lạm phát và quy mô phát triển của nền kinh tế ngày càng tăng, nhận

thấy rằng mặc dù hạn mức đã tăng thêm lên 25 triệu đồng nữa nhưng hạn mức

này khơng hề hấp dẫn để có thể tạo được động lực thu hút nguồn tiền gửi vào các

TCTD. Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, hệ thống tài chính – ngân hàng còn

nhiều bấp bênh và rủi ro thì việc củng cố niềm tin cho người gửi tiền là một việc

làm cần thiết, điều này đồng nghĩa với việc chúng ta cần nâng cao hơn nữa hạn

mức trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền khi nền kinh tế gặp khó khăn nhằm

tăng niềm tin của người dân vào hệ thống ngân hàng.

Hạn mức chi trả Bảo hiểm tiền gửi thấp, tỷ lệ dự trữ thấp. Mức chi trả tối đa

của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam hiện tại là quá thấp không đảm bảo được niềm tin

của người gửi khi có biến cố xảy ra. Hiện tại, hạn mức chi trả của nước ta là 75 triệu



80



Đồng vẫn thấp hơn nhiều so với các nước khác trong khu vực (như Philipin, hay

Singapore là nước không giới hạn mức chi trả). Việc xác định hạn mức chi trả cho

người gửi tiền một cách hợp lý trong trường hợp tổ chức nhận tiền gửi gặp khó khăn

hoặc đổ vỡ là hết sức quan trọng. Nếu xét về khía cạnh tác động trực tiếp tới quyền

lợi của người gửi tiền, tổ chức nhận tiền gửi và thị trường tài chính, mức độ tổ chức

BHTG chi trả phải đảm bảo tác động được tối đa tới càng nhiều người gửi tiền và

càng nhiều số tiền gửi càng tốt. Tuy nhiên, nếu xét theo khía cạnh tác động gián tiếp,

nếu như mức cam kết chi trả quá cao quá rộng có thể dẫn tới sự thờ ơ, ỷ lại của người

dân trong việc đánh giá tín nhiệm, chất lượng của các tổ chức tín dụng để gửi tiền.

Bên cạnh đó, cũng sẽ dễ dẫn đến các hành vi lạm dụng lợi dụng chính sách, vi phạm

chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp mà không chú ý nâng cao hiệu quả hoạt động và

củng cố hệ thống quản trị rủi ro của các tổ chức nhận tiền gửi. Từ đó, lại làm cho rủi

ro mất khả năng thanh toán, đổ vỡ của các tổ chức nhận tiền gửi cũng như hệ thống

ngày càng cao. Vì vậy, hầu hết các quốc gia đều rất chú trọng xác định mức này hợp

lý cho từng thời kỳ.

Thực tiễn cho thấy hầu hết các nước trên thế giới đang có xu hướng tăng hạn

mức trả tiền bảo hiểm ngày một cao hơn và thậm chí trong thời kỳ khủng hoảng,

nhiều nước đã cam kết trả toàn bộ 100% số tiền gửi. Điều này đã tạo được tâm lý rất

ổn định của người gửi tiền và trong thực tế, quyền lợi người gửi tiền đã được bảo vệ

một cách tuyệt đối. Hơn nữa, BHTGVN hiện không bảo hiểm cho các khoản tiền

gửi bằng ngoại tệ hoặc vàng. Trong khi đó theo thống kê gần nhất của ngân hàng

Nhà nước, hệ thống ngân hàng thương mại đang giữ hộ người dân khoảng 30 tỷ

USD và 100 tấn vàng. Do khơng được bảo hiểm nên người dân có tâm lý muốn rút

ngoại tệ và vàng ra khỏi ngân hàng khi có bất ổn trong nền kinh tế. Ngân hàng

khơng thể ngay lập tức quy đổi những khoản đầu tư vào bất động sản, hàng hóa và

tài sản sinh lợi khác thành vàng và USD để trả cho người dân, thanh khoản cạn kiệt

có thể dẫn đến sự sụp đổ hàng loạt của hệ thống ngân hàng trong nước.

Như vậy, những quy định về mức chi trả tối đa của Bảo hiểm tiền gửi hiện

nay đã không phát huy được những yếu tố hỗ trợ trong tình hình tài chính bất ổn.

Khi kinh tế Việt Nam đang được kỳ vọng tiếp tục phát triển sẽ làm cho thu nhập dân



81



cư ngày càng cao thì lượng tiền gửi của dân cư cũng tăng theo, nhưng đồng thời nhu

cầu phải ổn định tâm lý người gửi tiền cũng cao hơn. Bên cạnh đó mặt bằng giá cả

của Việt Nam liên tục tăng trong thời gian qua kèm theo việc thực hiện chương trình

tái cấu trúc hệ thống tổ chức tài chính ngân hàng cũng đang tác động ít nhiều đến

tâm lý người gửi tiền. vì vậy, việc xác định lại một cách hợp lý mức độ bồi thường

tăng hạn mức chi trả tiền bảo hiểm nhằm đảm bảo tốt hơn quyền lợi người gửi tiền,

góp phần thúc đẩy lành mạnh hóa và ổn định thị trường tài chính trong giai đoạn tái

cấu trúc hệ thống tài chính trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết. Cũng theo

IADI, hạn mức chi trả Bảo hiểm tiền gửi có thể cần được điều chỉnh tăng dần theo

thời gian để phản ánh thu nhập quốc nội cao hơn (đặc biệt được so sánh với GDP

bình quân đầu người) và tỉ lệ lạm phát gia tăng. Cả hai yếu tố này hiện nay ơ Việt

đều đã tăng qua các năm, vì vậy nhu cầu cho một sự thay đổi theo chiều hướng tăng

hạn mức chi trả

Ngồi ra, hoạt động chi trả còn có một số hạn chế như sau:

- Công tác chi trả tuy đã được chú trọng, nâng cao hiệu quả nhưng còn gặp

nhiều khó khăn.Việc xác định chính xác số tiền phải chi trả trên thực tế rất phức

tạp, nhiều vấn đề phát sinh liên quan đến tính xác thực của dữ liệu, vấn đề cố

tình trục lợi...

- Luật BHTG chưa quy định về việc tổ chức BHTG có quyền từ chối trả tiền

bảo hiểm; trong khi đó trên thực tế đã xảy ra trường hợp gian lận hồ sơ, tài liệu về

bảo hiểm tiền gửi, cung cấp khơng chính xác thơng tin về bảo hiểm tiền gửi nhằm

kiếm lợi bất hợp pháp. Trong trường hợp này, BHTGVN có quyền được từ chối trả

tiền bảo hiểm khi phát hiện có gian lận. Tuy nhiên do chưa có quy định vấn đề này

nên việc triển khai của BHTGVN gặp khó khăn.

3.1.4. Nguyên nhân của những hạn chế

Một là, tính pháp lý bắt buộc phải triển khai chưa rõ ràng. Hiện nay chưa có

một văn bản pháp lý áp dụng cơ chế tính phí BHTG theo mức độ rủi ro. Chưa có

một thơng tư của Ngân hàng nhà nước về việc xếp hạng rủi ro Ngân hàng. Chưa có

pháp lý về lộ trình chuyển đổi cơ chế thu phí mới...

Trước 01/01/2013, cơ sơ pháp lý chủ yếu điều chỉnh hoạt động nghiệp vụ chi



82



trả BHTG là Nghị định 89/1999/NĐ-CP, Nghị định 109/2005/NĐ-CP, Thông tư

03/2006/TT-NHNN. Hiện nay, hoạt động này điều chỉnh bơi Luật BHTG và Nghị

định số 68/2013/NĐ-CP. Hệ thống pháp luật về BHTG hiện nay đang trong q

trình hồn thiện nên một số vấn đề liên quan đến trả tiền bảo hiểm cho người gửi

tiền còn vướng mắc, đã hạn chế BHTGVN trong quá trình thực hiện chức năng trả

tiền bảo hiểm cho người gửi tiền tại tổ chức tham gia BHTG bị đổ vỡ, gây chậm

tiến độ chi trả tiền bảo hiểm.

Quy định của pháp luật liên quan đến việc trả tiền bảo hiểm cho người gửi

tiền chưa đầy đủ, chưa đồng bộ, còn vướng mắc, chưa phù hợp với thực tế và thiếu

vận dụng kinh nghiệm của các nước về công tác chi trả, cụ thể:

- Vướng mắc về xác định thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền cho người gửi

tiền khi TCTD bị mất khả năng thanh toán và lâm vào tình trạng phá sản

Theo quy định tại Điều 22, Luật BHTG, nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm phát sinh

kể từ thời điểm NHNN có văn bản chấm dứt kiểm sốt đặc biệt hoặc văn bản khơng

áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán mà tổ chức tín dụng (TCTD)

tham gia BHTG vẫn lâm vào tình trạng phá sản.

Đối với vấn đề này, Luật BHTG và Luật Các tổ chức tín dụng chưa quy định

cơ quan có thẩm quyền xác định tổ chức tham gia BHTG lâm vào tình trạng phá sản

(NHNN hay tồ án). Theo quy định của Luật Phá sản và Nghị định hướng dẫn Luật

Phá sản, 2 cơ quan có thẩm quyền xác nhận tổ chức tham gia BHTG lâm vào tình

trạng phá sản là NHNN và tòa án. Tuy nhiên, nếu tòa án xác nhận tổ chức tham gia

BHTG lâm vào tình trạng phá sản thì cũng phải có căn cứ vào xác nhận tổ chức

tham gia BHTG mất khả năng thanh toán của cơ quan có thẩm quyền là NHNN.

Nghị định số 68 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật BHTG được

ban hành ngày 28/6/2013 vẫn chưa có quy định chi tiết về việc này.

- Vướng mắc về đối tượng chi trả bảo hiểm: Theo Luật BHTG người gửi tiền

thuộc đối tượng được bảo hiểm đã có sự thay đổi. Tuy nhiên đối tượng được bảo

hiểm theo Nghị định 89/1999/NĐ-CP, 109/2005/NĐ-CP nhưng theo Luật BHTG

không thuộc đối tượng bảo hiểm (như Hộ gia đình, Doanh nghiệp tư nhân, Cơng ty



83



hợp danh, Tổ hợp tác…) vẫn còn số dư, vẫn nộp phí BHTG thì chưa có văn bản

hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền để thống nhất xử lý.

- Việc quy định thời hạn chi trả tiền bảo hiểm trong thời hạn 60 ngày chỉ phù

hợp đối với loại hình TCTD quy mơ nhỏ là QTDND cơ sơ mang tính chất nhỏ lẻ,

khơng phải đại trà. Đối với một số trường hợp TCTD có quy mơ lớn đổ vỡ hoặc

nhiều TCTD cùng đổ vỡ tại một thời điểm thì việc thực hiện, kiểm tra cũng như chi

trả là khó đáp ứng theo đúng thời gian như trong Luật quy định.

- Luật BHTG quy định khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm, tổ chức

BHTG tiến hành kiểm tra các chứng từ sổ sách để xác định số tiền chi trả trong thời

hạn 5 ngày làm việc. Thời hạn này là không phù hợp trong trường hợp phải chi trả

cho các tổ chức tham gia BHTG có quy mơ lớn, phải kiểm tra xử lý hàng nghìn tài

khoản hoặc trong trường hợp nhiều tổ chức tham gia BHTG đổ vỡ cùng một thời điểm.

- Một số Quy định hiện hành chưa phù hợp với thực tế kinh nghiệm các nước

về công tác chi trả và xử lý tổ chức tham gia BHTG yếu kém. Đặc biệt là quy định

về việc chia sẻ thông tin và phối hợp xử lý giữa các cơ quan có thẩm quyền và tổ

chức BHTG trước thời điểm ban hành quyết định chấm dứt hoạt động và chấm dứt

BHTG đối với tổ chức tham gia BHTG đó.

- Về việc khấu trừ các khoản nợ của người gửi tiền khi nhận tiền bảo hiểm:

Pháp luật không quy định rõ nợ đến hạn hay chưa đến hạn.

- Về hồ sơ, thủ tục trả tiền bảo hiểm:

Hiện nay, Luật BHTG đã có hiệu lực, được thực hiện hơn một năm, tuy

nhiên, NHNNVN chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về hồ sơ, thủ tục trả tiền bảo

hiểm. Quy trình trả tiền bảo hiểm chưa được bổ sung, hồn thiện kịp thời, còn nhiều

bất cập như:

Hồ sơ và người ký hồ sơ đề nghị trả tiền bảo hiểm còn lúng túng trong q

trình thực hiện, cụ thể:

Hồ sơ đề nghị chi trả chưa quy định rõ, chặt chẽ để tổ chức BHTG có căn cứ

kiểm tra xác định số tiền chi trả. Ví dụ nếu khơng có danh sách người vay tiền và

Bảng thanh lý tài sản thì tổ chức BHTG khơng có căn cứ để kiểm tra tổ chức tham

gia BHTG đã khấu trừ tiền vay của người gửi tiền chưa? Hoặc nếu NHNN chưa có



84



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.3: Số QTDND và số lượng sổ tiết kiệm đã được BHTG chi trả

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×