Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Biểu đồ 2.1: Quy mô quỹ BHTG và tỷ lệ % quỹ BHTG trên số dư tiền gửi được bảo hiểm từ 2005 – 2011 (tỷ đồng)

Biểu đồ 2.1: Quy mô quỹ BHTG và tỷ lệ % quỹ BHTG trên số dư tiền gửi được bảo hiểm từ 2005 – 2011 (tỷ đồng)

Tải bản đầy đủ - 0trang

của BHTGVN tăng bình qn khoảng 28%/năm trong khi đó số dư tiền gửi được

bảo hiểm tăng bình quân 30%/năm. Như vậy, tỷ lệ tổng nguồn vốn/tổng số dư tiền

gửi được bảo hiểm của BHTGVN giảm dần theo từng năm trong giai đoạn 2005 20013 từ 1,07% xuống 0,78%. Điều này khẳng định, tốc độ tích lũy tổng nguồn vốn

của BHTGVN chậm hơn tốc độ tăng trương tiền gửi được bảo hiểm.

Nguồn vốn, quy của BHTGVN được tích luy thơng qua 02 nguồn chủ yếu:

thu phí BHTG; đầu tư nguồn tài chính nhàn rỗi của BHTGVN. Việc đầu tư tài chính

nhàn rỗi phụ thuộc vào các yếu tố khách quan (lãi suất thị trường) và quy định hạn

chế việc đầu tư vốn tạm thời nhàn rỗi để đảm bảo an tồn cho quy BHTG. Trong

khi đó, tỷ lệ phí 0,15% khơng đảm bảo mức tích luy cần thiết, tương đương với tốc

độ tăng số dư tiền gửi được bảo hiểm tại Việt Nam.

- Khả năng tiếp cận với các nguồn tài chính đặc biệt trong trường hợp

BHTGVN thiếu nguồn vốn để trả tiền bảo hiểm còn hạn chế

Cơ sơ pháp lý hiện tại cho phép BHTGVN tiếp cận với các nguồn tài

chính sau đây:

- Tiếp nhận hỗ trợ theo nguyên tắc có hồn trả từ ngân sách nhà nước theo

quyết định của Thủ tướng Chính phủ

- Vay của tổ chức tín dụng hoặc tổ chức khác có bảo lãnh của Chính phủ

Về nguyên tắc, quy định hiện hành đã trao cho BHTGVN thẩm quyền

trong việc huy động từ các nguồn vốn khác nhau trong trường hợp quy mô nguồn

vốn của BHTGVN không đủ lớn. Tuy nhiên, quy định pháp lý thiếu những

hướng dẫn cụ thể, đồng thời, các hình thức huy động vốn như trên khó có thể

đảm bảo tính kịp thời trong trường hợp nguồn vốn của BHTGVN không đủ đáp

ứng việc xử lý ngân hàng đổ vỡ.

Hạn mức trả tiền bảo hiểm

Hạn mức trả tiền bảo hiểm là số tiền tối đa mà BHTGVN trả cho tất cả các

khoản tiền gửi được bảo hiểm của một người tại một tổ chức tham gia BHTG khi

phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm.

Hạn mức chi trả tiền gửi được bảo hiểm cho người gửi tiền khi BHTGVN



60



mới thành lập và đi vào hoạt động là 30 triệu đồng (bao gồm cả gốc + lãi) theo quy

định tại Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01/9/1999. Đến năm 2005, hạn mức này

đã được điều chỉnh tăng từ 30 triệu đồng lên 50 triệu đồng (quy định tại Nghị định

109/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005), đã tăng lên 75 triệu đồng theo Quyết định 21/2017/QĐTTg ngày 15/6/2017 để đảm bảo quyền lợi của người gửi tiền theo mức tăng thu

nhập bình quân đầu người của Việt Nam.

Hiện nay, Việt Nam đã có Luật BHTG, theo đó không áp đặt cố định số tiền

hạn mức chi trả, mà số tiền này sẽ do Thủ tướng Chính phủ quyết định trên cơ sơ đề

nghị của Ngân hàng nhà nước trong từng thời kỳ. Qua thực tế chi trả tiền bảo hiểm

cho người gửi tiền tại 38 tổ chức tham gia BHTG mà BHTGVN đã thực hiện đến

năm 2011 cho thấy: Trong tổng số 1623 người gửi tiền được chi trả thì chỉ có 186

người gửi tiền có số tiền gửi được bảo hiểm vượt hạn mức chi trả (tỷ lệ 11,4%) với

tổng số tiền là 3 tỷ 762 triệu đồng, trong đó 158 người vượt hạn mức chi trả 30 triệu

đồng (số tiền 2 tỷ 984 triệu đồng), 28 người vượt hạn mức chi trả 50 triệu đồng (số

tiền 778 triệu đồng) còn lại là trong hạn mức chi trả tối đa. Đến nay, số tiền vượt

hạn mức chi trả của người gửi tiền đã được các HĐTL chi trả gần hết chỉ còn lại

502 triệu đồng của người gửi tiền vượt hạn mức trên 30 triệu đồng. Như vậy, việc

quy định mức chi trả tiền bảo hiểm tối đa đối với một người gửi tiền tại tổ chức

tham gia BHTG bị giải thể là 30 triệu đồng, sau đó tăng lên 50 triệu đồng, và gần

đây nhất là tăng lên 75 triệu đồng là phù hợp vì nó đã đảm bảo được quyền lợi

của số đơng người gửi tiền, hạn chế tình trạng rủi ro đạo đức đối với tổ chức

tham gia BHTG.

Tuy nhiên, với tốc độ tăng trương kinh tế và tốc độ tăng giá tiêu dùng trong

những năm vừa qua, hạn mức này đã trơ nên khơng còn phù hợp, do khơng bảo vệ

được đa số người gửi tiền tiết kiệm. Khi xảy ra hiện tượng mất khả năng chi trả của

các TCTD, người gửi tiền chỉ được chi trả tối đa 75 triệu đồng là con số q ít so

với thu nhập bình qn đầu người ơ nước ta hiện nay (năm 2013) khoảng 1.960

USD, tương đương khoảng 41 triệu đồng.



61



Biểu đồ 2.2: GDP bình qn đầu người tính bằng USD qua các năm

(Nguồn: Tổng cục Thống kê)

Hạn mức BHTG hiện tại của Việt Nam tương đối thấp so với nhiều nước trên

thế giới. Như vậy, hạn mức BHTG hiện tại của Việt Nam khơng còn phù hợp,

khơng bảo vệ tốt nhất quyền lợi người gửi tiền, không phát huy được tối đa hiệu quả

của chính sách BHTG.



Biểu đồ 2.3: Chỉ số giá tiêu dùng và tốc độ tăng trưởng GDP Việt Nam

giai đoạn 2006 –2013

(Nguồn: Tổng cục thống kê)



62



Việc không quy định hạn mức BHTG bằng số tuyệt đối mà giao cho Thủ

tướng Chính phủ quy định như trong Luật BHTG là hợp lý nhằm đảm bảo tính

linh hoạt phù hợp với từng thời kỳ, đặc biệt là trong giai đoạn nền kinh tế có

nhiều biến động.

Tuy nhiên, con số này khi xây dựng phải tính đến các yếu tố như thu nhập

bình quân đầu người; lạm phát của từng năm trong một thời kỳ nhất định, tỷ lệ người

gửi tiền được bảo hiểm… nhằm tránh việc thay đổi thường xuyên hạn mức chi trả.

Theo thống kê, tổng số dư tiền gửi thuộc đối tượng được bảo hiểm năm 2013

khoảng 2 triệu tỷ đồng (năm 2012 khoảng 1,5 triệu tỷ đồng, năm 2011 khoảng 1,1

triệu tỷ đồng), số lượng tiền gửi ơ các mức cụ thể như sau:

Bảng 2.1: Số lượng tiền gửi thuộc đối tượng bảo hiểm

(Đơn vị: Tỷ đồng)

Mức tiền



Số tiền



Dưới 50 triệu



380.000



Từ 50 triệu đến dưới 70 triệu



100.000



Từ 70 triệu đến dưới 90 triệu



80.000



Từ 90 triệu đến 100 triệu



100.000



Trên 100 triệu



1.340.000



Tổng



2000.000

(Nguồn: BHTG VN)



Căn cứ bảng trên, ta có biểu đồ về cơ cấu tiền gửi theo số tiền như sau:



Biểu đồ 2.4: Cơ cấu tiền gửi ở Việt Nam năm 2013 theo số tiền

(Nguồn: BHTGVN)



63



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Biểu đồ 2.1: Quy mô quỹ BHTG và tỷ lệ % quỹ BHTG trên số dư tiền gửi được bảo hiểm từ 2005 – 2011 (tỷ đồng)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×