Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
* Một số kiến nghị

* Một số kiến nghị

Tải bản đầy đủ - 0trang

Đề nghị chính phủ xây dựng và phê duyệt các Đề án triển khai nghiệp vụ của

BHTGVN, bao gồm: 1) Đề án phí theo mức độ rủi ro; 2) Đề án về nâng Hạn mức

chi trả BHTG.

Đối với Bộ Tài chính

Căn cứ Thơng tư số 41/2014/TT-BTC ngày 8/4/2014 của Bộ Tài chính quy

định chế độ tài chính đối với Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, BHTGVN được phê

duyệt mức vốn điều lệ là 5.000 tỷ đồng. Để thực hiện chủ trương trên của Chính

phủ, đề nghị Bộ Tài chính xét các nguồn tài chính phù hợp để cấp cho BHTGVN

theo tinh thần quyết định nói trên. Đề nghị Ngân hàng nhà nước và Bộ Tài chính tạo

điều kiện thuận lợi cho sự phối hợp thông tin giữa các tổ chức trong hệ thống tài

chính-ngân hàng, các ban ngành và BHTGVN, làm cơ sơ nâng cao chất lượng thông

tin đầu vào phục vụ giám sát của BHTGVN, đóng góp tích cực vào mạng an tồn

tài chính quốc gia.

Đối với Bộ Tư pháp

Bộ Tư pháp tiếp tục hỗ trợ BHTGVN trong quá trình xây dựng, chỉnh sửa

văn bản pháp lý liên quan đến hoạt động BHTG và tạo điều kiện để BHTGVN thực

hiện tốt nhiệm vụ.

Đối với Ngân hàng Nhà nước

Thứ nhất: Ban hành cơ chế phối hợp chia sẻ thông tin giữa bảo hiểm tiền gửi

Việt Nam với Ngân hàng Nhà nước. Hiện nay, phần lớn các tổ chức tham gia BHTG

Việt Nam không chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về lập và gửi báo cáo về

BHTG Việt Nam. Kết quả giám sát cho thấy hàng quý chỉ có khoảng 67% số tổ

chức tín dụng gửi bảng tính tốn phí bảo hiểm và khoảng 7% số tổ chức tín dụng

gửi bảng cân đối tài khoản cho BHTG Việt Nam. Chính vì vậy, Ngân hàng Nhà

nước cần hỗ trợ BHTG Việt Nam bằng cách xây dựng cơ chế trao đổi thông tin giữa

Ngân hàng Nhà nước và BHTG Việt Nam.

Thứ hai: Phối hợp với bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, ban hành văn bản hướng

dẫn việc nộp phí bảo hiểm tiền gửi cho các khoản tiền gửi bằng vàng, ngoại tệ.

Ngân hàng Nhà nước cần phối hợp chặt chẽ với BHTG Việt Nam trong việc ban



100



hành các văn bản hướng dẫn việc tính và nộp phí BHTG một cách cụ thể, phù hợp

với điều kiện và tình hình thực tế tại Việt Nam và phải nhằm mục tiêu bảo vệ tốt

nhất cho người gửi tiền. Đối với các khoản tiền gửi bằng ngoại tệ, để tránh tình

trạng rủi ro về tỷ giá cho BHTG Việt Nam, nên quy định tổ chức tham gia BHTG

phải đóng phí bằng ngoại tệ. Biện pháp BHTG bằng ngoại tệ thích hợp trong giai

đoạn hiện nay, do nhu cầu huy động vốn trong và ngoài nước để tạo đà cho phát

triển kinh tế, hơn nữa, ngoại tệ vẫn chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số dư tiền gửi

của các tổ chức huy động tiền gửi. Việc chi trả bảo hiểm cũng cần được quy định rõ

được thực hiện bằng nội tệ hay ngoại tệ trong trường hợp ngân hàng phá sản và

ngày được chọn để quy đổi tỷ giá nếu chi trả tiền bảo hiểm bằng nội tệ. Đối với các

khoản tiền gửi được bảo hiểm bằng vàng, để tiện cho cơng tác tính phí và chi trả

tiền bảo hiểm, BHTG Việt Nam nên quy định việc thu phí và chi trả có thể được

thực hiện bằng Đồng Việt Nam và có quy định rõ ràng về cách xác định giá vàng

khi nộp phí BHTG và khi chi trả tiền bảo hiểm.

Thứ ba: Ngân hàng Nhà nước cần tạo điều kiện cho các ngân hàng thương

mại ngày càng được hoạt động theo cơ chế thị trường, tăng cường tính độc lập tự

chủ trong kinh doanh kết hợp xây dựng hoàn thiện chỉ tiêu đánh giá mức độ an toàn

và hiệu quả kinh doanh ngân hàng phù hợp với chuẩn mực quốc tế và thực tiễn Việt

Nam. Có như vậy mới giảm gánh nặng cho tổ chức hoạt động BHTG Việt Nam

trong việc củng cố phát triển vững mạnh hoạt động ngân hàng.

Đối với Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Một hệ thống BHTG khơng thể hoạt động có hiệu quả nếu khơng được sự

ủng hộ của các tổ chức tham gia BHTG. Trong thời gian qua, BHTG Việt Nam đã

gặp khơng ít khó khăn do các tổ chức tham gia BHTG khơng tuân thủ các quy định

về thông tin, báo cáo cho BHTG Việt Nam. Do vậy, để nâng cao hiệu quả hoạt động

của tổ chức BHTG Việt Nam, xin kiến nghị các tổ chức tham gia BHTG cần tự giác

tuân thủ các quy định sau về BHTG như: Nhận thức đúng đắn về sự cần thiết của

BHTG; Thực hiện đúng các quy định về lập và nộp báo cáo cho tổ chức BHTG Việt

Nam; Nộp phí BHTG đầy đủ và đúng hạn; Tạo điều kiện cho các nhân viên của tổ

101



chức BHTG Việt Nam tiến hành kiểm tra và giám sát chất lượng hoạt động của tổ

chức huy động tiền gửi; Phối hợp với tổ chức BHTG Việt Nam tuyên truyền, thông

tin cơ chế BHTG Việt Nam cho những người gửi tiền tại tổ chức huy động tiền gửi;

Cung cấp cho tổ chức BHTG Việt Nam những ý kiến phản hồi từ phía những người

gửi tiền về cơ chế BHTG hiện hành.

Đối với Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

BHTG VN có một vai trò vơ cùng quan trọng trong việc xây dựng một q

trình chuyển tiếp hiệu quả từ thu phí BHTG đồng hạng sang rủi ro cùng với các bên

quan tâm khác.

Thứ nhất, về vấn đề thời gian chuyển tiếp. BHTGVN cần hoạch định một

khoảng thời gian phù hợp để thực hiện quá trình chuyển tiếp này. Các giai đoạn

chuyển tiếp nhìn chung kéo dài từ một đến một vài năm, hệ thống thu phí càng phức

tạp và yêu cầu thơng tin càng nhiều thì giai đoạn điều chỉnh sẽ lâu hơn.

Ngồi ra việc chuyển tiếp sang việc thu phí theo mức độ rủi ro có thể này

sinh những vấn đề tác động gây mất ổn định khi áp dụng mức phí cao hơn tại những

ngân hàng vốn dĩ đã gặp vấn đề. Một trong những giải pháp cho BHTG VN đó là

thực hiện thu phí theo rủi ro giai đoạn có cảnh báo trước thời điểm khi nào và làm

thế nào để áp dụng. Đặc biệt đối với những ngân hàng xếp loại yếu, để giảm tác

động ban đầu của việc tăng phí BHTG, các ngân hàng này có thể nhận được sự ưu

đãi khi được xếp vào hạng mục phí tốt hơn. Ví dụ: tại Canada, có cơ chế đặc biệt

tính phí trong 2 năm đầu chuyển tiếp, cụ thể trong năm đầu tiên, thang điểm định

lượng của mỗi ngân hàng được điều chỉnh tăng thêm 20%; trong năm

Thứ hai, tổng thang điểm định lượng của ngân hàng được điều chỉnh tăng

thêm 10%; năm tiếp theo và sau đó khơng có sự điều chỉnh. Hồn thiện Chiến lược

phát triển BHTGVN giai đoạn 2015 –2020, tầm nhìn tới năm 2025 trình cấp thẩm

quyền phê duyệt.

Trong thời gian chuyển tiếp BHTG cần xây dựng hệ thống thông tin báo cáo

mới thay thế hoặc cải tiến từ hệ thống thông tin báo cáo DIVAS –RIS phù hợp với

cơ chế tính phí mới.



102



Tích cực triển khai dự án Hệ thống thơng tin quản lý và Hiện đại hóa Ngân

hàng (FSMIMS) theo đúng kế hoạch đảm bảo tiến độ và chất lượng. Chủ động xây

dựng phương án để tiếp nhận hệ thống công nghệ thơng tin khi dự án hồn thành

bàn giao sử dụng.

Nghiên cứu ứng dụng: Nghiên cứu đề xuất với NHNN trình Thủ tướng

Chính phủ quy định hạn mức trả tiền bảo hiểm tiền gửi phù hợp với từng thời kỳ và

áp dụng mức phí trên cơ sơ rủi ro theo lộ trình phù hợp với quy định Luật BHTG.

Bên cạnh đó BHTG cũng cần điều chỉnh và tinh chỉnh nguồn lực nội bộ, xây

dựng đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, đảm bảo các tiêu chuẩn về chuyên môn, đạo

đức nghề nghiệp, có khả năng làm việc nhạy bén, sáng tạo và hiệu quả trên tinh thần

hợp tác, bình đẳng, thận trọng, trung thực và gắn bó với tổ chức.



103



KẾT LUẬN

Sau hơn 17 năm chính thức đi vào hoạt động, hoạt động thu phí và chi trả

BHTG – hai hoạt động quan trọng, xuyên suốt, là kim chỉ nam trong chính sách

BHTG của cơ quan BHTG Việt Nam về cơ bản đã thực hiện tốt nhiệm vụ của

BHTG là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, duy trì sự ổn định

của các tổ chức tham gia BHTG và sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống

ngân hàng. BHTG Việt Nam đã và đang ngày càng khẳng định được vai trò quan

trọng của mình trong sự phát triển ổn định của hệ thống tài chính nói riêng và góp

phần vào sự phát triển của nền kinh tế, xã hội Việt Nam nói chung. Sự phát triển lớn

mạnh của hoạt động BHTG trong thời gian tới tại Việt Nam là một yêu cầu khách

quan và cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay đang

mang lại cho Việt Nam nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng buộc Việt Nam phải đối

mặt với nhiều thách thức mới, ẩn chứa nhiều rủi ro mới, nhất là trong lĩnh vực tài

chính - ngân hàng. Do vậy, Chính phủ Việt Nam và BHTG Việt Nam cần tiếp tục

phát huy những ưu điểm của tổ chức BHTG Việt Nam và nhanh chóng khắc phục

những nhược điểm, hạn chế nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động BHTG, đặc

biệt là hoạt động thu phí và chi trả BHTG, cần có một cơ chế về phí và hạn mức chi

trả phù hợp, tính tốn thận trọng lộ trình thực hiện để các hoạt động này tương xứng

với vị thế của nó trong việc ổn định hệ thống tài chính quốc gia. Nâng cao được hai

hoạt động nắm tầm quan trọng này, BHTGVN sẽ đi lên một tầm cao mới, góp phần

đảm bảo mạng an tồn tài chính quốc gia trước sự phát triển đất nước trong bối

cảnh kinh tế trong tiến trình hội nhập Quốc tế.



104



DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO



I. Tài liệu tiếng Việt

1. Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (2001), Quyết định số 87/2001/QĐ-BHTG ngày

28/5/2001 của Tổng giám đốc BHTGVN ban hành Quy định chi trả bảo hiểm

cho người gửi tiền của BHTGVN, Hà Nội.

2. Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (2002), Công văn số 140/BHTG8 ngày 10/4/2002 về

việc xử lý vướng mắc trong chi trả tiền bảo hiểm tại các QTDND, Hà Nội.

3. Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (2011), Hệ thống BHTG trong tái cấu trúc hệ thống

tài chính sau khủng hoảng và ứng dụng đối với Việt Nam, Đề tài nghiên cứu,

Hà Nội.

4. Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (2013), Báo cáo cơng tác chi trả của Phòng Xử lý

nợ và thanh lý tài sản, Hà Nội.

5. Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, Báo cáo tổng kết công tác 5 năm (2001 – 2005);

Báo cáo công tác các năm 2007, 2008, 2009 và Báo cáo tổng kết 10 năm

(2001-2010); Báo cáo tổng kết thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về

bảo hiểm tiền gửi giai đoạn 1999 -2011 (tháng 7/2011), Hà Nội.

6. Carl Johan Lindgren, Gilian Garcia (1996), Bảo hiểm tiền gửi và quản lý khủng

hoảng, Quĩ tiền tệ quốc tế.

7. Chính phủ (1999), Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01/9/1999 của Chính phủ

về bảo hiểm tiền gửi, Hà Nội.

8. Chính phủ (1999), Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg ngày 9/11/1999 của Chính

phủ về thành lập Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, Hà Nội.

9. Chính phủ (2005), Nghị định số 109/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005 của Chính

phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 89/1999/NDD-CP

ngày 01/9/1999 của Chính phủ về bảo hiểm tiền gửi, Hà Nội.

10. Choi J.B. (2000), Cơ cấu của những hệ thống bảo hiểm tiền gửi ở châu Á.

11. Hoàng Thu Hằng (2013), Pháp luật về hoạt động BHTG ở Việt Nam, Nxb Chính

trị Quốc gia, Hà Nội.

12. Nguyễn Duy Hoàn (2011), Pháp luật về tổ chức BHTG ở Việt Nam, Luận văn

thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.

13. Luật Bảo hiểm tiền gửi Liên bang Hoa Kỳ 1993, Tài liệu dịch, Hà Nội.

14. Nguyễn Đình Lưu (2010), “DIV Thành tựu, thách thức và định hướng phát



105



triển”, Kỷ yếu 10 năm BHTGVN, Hà Nội.

15. Ngân hàng Nhà nước (2006), Thông tư số 03/2006/TT-NHNN của về việc

hướng dẫn một số nội dung tại Nghị định 89/1999/NĐ-CP ngày 01/9/1999

của Chính phủ về BHTG và Nghị định số 109/2005/NĐ-CP ngày

24/8/2005 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị

định 89/1999/NĐ-CP, Hà Nội.

16. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2013), Thông tư số 07/2013/TT-NHNN ngày

14/3/2013 của quy định về việc kiểm sốt đặc biệt đối với tổ chức tín dụng,

Hà Nội.

17. Lê Thị Kim Oanh (2004), Bảo hiểm tiền gửi – nguyên lý, thực tiễn và định

hướng, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội.

18. Quốc hội (2010), Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Hà Nội.

19. Quốc hội (2010), Luật Trọng tài thương mại, Hà Nội.

20. Quốc hội (2012), Luật Bảo hiểm tiền gửi, Hà Nội.

21. Quốc hội (2014), Luật Phá sản, Hà Nội.

22. Quốc hội (2017), Luật Các tổ chức tín dụng 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017,

Hà Nội.

23. Lê Thị Thúy Sen (2008), Quy chế pháp lý về bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam,

Viện Nhà nước Pháp luật.

24. Nguyễn Văn Thạnh (2014), “Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam - 15 năm xây dựng và

phát triển” Kỷ yếu 15 năm BHTGVN, Hà Nội.

25. Lê Thị Thu Thủy (2008), Pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam, Nxb Đại

học Quốc gia Hà Nội.

26. Từ điển kinh tế Oxford, 1997, New York.

II. Tài liệu tiếng Anh

27. Benston G J, Kaufman G G, Improving the FDIC Improvement Act: What was Done

and What still Needs to be Done to Fix the Deposit Insurance Problem.

28. CullR. (1998), The Effect of Deposit Insurance of Financial Depth: A Cross –

Country Analysis.

29. Diamond D W, Dybvig P H (1986), “Banking Theory, Deposit Insurance, and

BankRegulation”, Journal of Business.

30. Ellerman F J. (1936), “The Probable Distribution of Expenses and Benefits

Under the Federal System of Deposit Insurance”, Journal of Business of the

University of Chicago.

31. Emerson Guy (1934), “Guaranty of Deposits Under the Banking Act of 1933”,



106



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

* Một số kiến nghị

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×