Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Ở VIỆT NAM VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

Ở VIỆT NAM VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

Tải bản đầy đủ - 0trang

số lượng các tổ chức tham gia BHTG Việt Nam giai đoạn 2010 – 2014 gần như

không tăng đáng kể, thì có thể thấy phí BHTG tăng chủ yếu do mức tăng đáng kể

của lượng tiền gửi thuộc đối tượng bảo hiểm tại các tổ chức tham gia BHTG Việt

Nam. Thực tế đó đã cho thấy hoạt động hiệu quả của các ngân hàng trong thời gian

qua, đặc biệt là trong hoạt động huy động tiền gửi thuộc đối tượng được bảo hiểm

và đã cho thấy tác dụng tích cực của hoạt động BHTG tới việc huy động vốn cho

đầu tư, phát triển nói chung.

Hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam còn được thể hiện qua

mức tăng số lượng phí BHTG thu được tại mỗi tổ chức tham gia BHTG Việt Nam;

cụ thể là so với năm 2010, năm 2014 các Ngân hàng thương mại tăng 2,5 lần, các

Quy tín dụng nhân dân tăng 1,4 lần, cơng ty tài chính tăng 1,7 lần. Do tính tiện lợi

và dễ triển khai, hình thức tính phí BHTG theo tỷ lệ phí bảo hiểm đồng hạng rất phù

hợp với thực tế của Việt Nam trong giai đoạn đầu hoạt động của tổ chức BHTG Việt

Nam và khi các yếu tố đánh giá ngân hàng chưa phát triển ơ Việt Nam. Tuy nhiên

cơ chế này đã bộc lộ nhiều bất cập như khơng tạo sự bình đảng giữa các tổ chức

tham gia BHTG và có thể khiến các ngân hàng yếu kém ỷ lại vào sự đóng góp tài

chính từ các ngân hàng lớn hoạt động hiệu quả. Nghị định số 109/2005/NĐ-CP

ngày 24/8/2005 về sửa đổi bổ sung một số điều Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày

01/9/1999 về BHTG cũng đã có quy định mới, theo đó, BHTG Việt Nam có thể áp

dụng mức phí bảo hiểm phải nộp khác nhau giữa các tổ chức nhận tiền gửi, nhưng

đến nay chưa có hướng dẫn thi hành cụ thể cách tính phí này.

Tổng số phí BHTG thu được từ các tổ chức tham gia BHTG trong năm 2011

đạt 1617,9 tỷ đồng (tăng hơn 400 tỷ đồng so với năm 2010). Năm 2012, BHTGVN

đã thu phí của 1.229 tổ chức tham gia BHTG với tổng số phí thực nộp hơn 2.057 tỷ

đồng, tăng hơn 27% so với năm 2011. Tổng số dư tiền gửi thuộc đối tượng được

bảo hiểm khoảng 1,5 triệu tỷ đồng (năm 2011 khoảng 1,1 triệu tỷ đồng). Năm 2013,

BHTGVN đã thu phí của 1.232 tổ chức tham gia BHTG với tổng số phí hơn 2.500

tỷ đồng, tăng hơn 16% so với năm 2012. BHTGVN đang bảo hiểm cho hơn 2 triệu

tỷ đồng gửi tại các tổ chức tham gia BHTG.Tổng số phí BHTG thu được lũy kế đến



71



cuối năm 2013 đạt trên 8.500 tỷ đồng, số thu phí hàng năm tăng trung bình trên

20%. Từ năm 2004, 100% nguồn thu phí BHTG được bổ sung Quy nghiệp vụ

BHTG. Số liệu thu phí BHTG giai đoạn 2001 – 2015 được thể hiện qua bảng 3.2.

Bảng 3.2: Số liệu thu phí BHTG giai đoạn 2001 – 2015

(Đơn vị: tỷ đồng)

Năm



Phí hàng năm



Phí lũy kế



2001



86,3



119,8



2002



106,2



226,0



2003



149,2



375,2



2004



193,0



568,2



2005



253,3



821,5



2006



348,1



1.169,6



2007



481,7



1.651,4



2008



648,7



2.300,0



2009



950,4



3.250,4



2010



1.198,5



4.448,9



2011



1.617,9



6.066,8



2012



2.057,3



8.124,1



2013



2.802,2



10.926,3



2014



3.400,0



14.326,3



2015



4.044,0



18.370,3

(Nguồn: BHTGVN)



Kể từ khi thành lập đến nay, BHTGVN đã chi trả cho 1.793 người gửi tiền và

tham gia Hội đồng thanh lý tài sản của 39 QTDND bị giải thể bắt buộc với tổng số tiền

26,78 tỷ đồng. Việc chi trả tiền bảo hiểm kịp thời đã thể hiện vai trò của BHTGVN

trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền, tạo lập niềm tin của người

dân, ngăn ngừa ảnh hương đổ vỡ dây chuyền trong hệ thống ngân hàng. Trong 03 năm

2014, 2015, 2016 gần đây, chưa phát sinh thêm trường hợp TCTD nào rơi vào tình

trạng mất khả năng thanh tốn, mất khả năng chi trả. Tuy nhiên, BHTGVN vẫn luôn

sát sao theo dõi tình hình tại các TCTD yếu kém (chủ yếu là các QTDND) và chủ động



72



sẵn sàng về tài chính cũng như phương án chi trả khi các TCTD đó đổ vỡ.

Bảng 3.3: Số QTDND và số lượng sổ tiết kiệm đã được BHTG chi trả

Số sổ

được chi

trả



Số người

được chi trả



Số tiền được

chi trả

(1.000 đồng)



STT



Năm



Số đơn vị

được chi trả



1



2001



21



1047



817



6,432,415



2



2002



8



618



416



6,747,775



3



2003



2



73



67



1,068,140



4



2004



2



177



124



2,089,495



5



2007



1



19



16



477,058



6



2008



2



116



69



1,606,504



7



2009



1



13



10



372,323



6



2011



1



112



103



3,044,812



7



2013



1



206



171



4,939,966



Cộng



39



2.381



1.793



26,778,488

(Nguồn: BHTGVN)



BHTGVN đã chi trả với 2381 sổ tiết kiệm, đây là con số không quá lớn

nhưng đã xây dựng được uy tín của BHTGVN trong mắt cơng chúng, góp phần ổn

định tình hình tài chính – ngân hàng trong nước thời gian qua.

3.1.2. Ưu điểm

* Về hoạt động thu phí BHTG

Sau hơn mười lăm năm triển khai hoạt động BHTG, Việt Nam đã thành cơng

trong việc thu phí BHTG đồng hạng. Điều đó được thể hiện ơ các khía cạnh sau: (1)

Mức độ đóng góp tương đối hài hòa giữa các đối tác tham gia BHTG; (2) Không tạo

nên trách nhiệm tài chính quá lớn đối với các tổ chức tham gia BHTG; (3) Phù hợp

với điều kiện và mức độ phát triển Ngân hàng ơ Việt Nam.

Cho tới nay, BHTGVN có hơn 1000 tổ chức tham gia BHTG gồm 6 loại

hình khách hàng có chênh lệch lớn về trình độ phát triển, qui mô và phạm vi hoạt

động. Với thực tế khách hàng có khác biệt lớn như vậy, để đảm bảo phí đồng

hạng tạo nên được đối xử tương đối cơng bằng về đóng góp tài chính với các



73



khách hàng là một yêu cầu rất khó. Mặc dù vậy, quy định tính phí BHTG đóng

góp thường xun áp dụng thời gian qua, trên cơ sơ lựa chọn số dư tiền gửi tính

phí là tiền gửi được bảo hiểm, tạo nên sự đối xử tương đối công bằng về đóng

góp tài chính giữa các tổ chức tham gia BHTG và đồng thời có hỗ trợ đối với tổ

chức mới tham gia vào lĩnh vực kinh doanh ngân hàng. Đây có thể được đánh giá

là thành cơng lớn của việc áp dụng phí BHTG đồng hạng trong những năm đầu

triển khai chính sách BHTG.

Ưu điểm nổi bật của việc thu phí BHTG đồng hạng là thuận lợi trong triển

khai. Vì tất cả các tổ chức tham gia BHTG đều được áp dụng chung một tỷ lệ phí

BHTG đóng góp như nhau nên nhu cầu phải đánh giá chính xác tình hình hoạt động

của tổ chức tham gia BHTG là khơng nhất thiết trong việc xem xét trách nhiệm tài

chính của tổ chức tham gia BHTG đối với tổ chức BHTG. Ưu điểm này đã tạo nên

điều kiện thuận lợi rất lớn cho các tổ chức BHTG đặc biệt là trong giai đoạn đầu

mới triển khai hoạt động BHTG. Vì thế đa số các hệ thống BHTG trên thế giới đều

khơi đầu bằng việc áp dụng đóng góp tài chính theo tỷ lệ phí BHTG đồng hạng.

Nguồn vốn hoạt động của BHTGVN được hình thành từ vốn điều lệ do nhà

nước cấp, quy dự phòng nghiệp vụ hình thành từ nguồn thu phí bảo hiểm, các quy

khác được trích lập theo chế độ. Quy dự phòng nghiệp vụ được hình thành từ các

nguồn như thu nhập từ hoạt động đầu tư nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi sau khi trích

một phần để trang trải chi phí hoạt động của BHTGVN, các khoản tiền bảo hiểm

khơng có người nhận theo quy định, số tiền còn lại (nếu có) từ việc thanh lý tài sản

của tổ chức tham gia BHTG, chênh lệch thu chi tài chính còn lại hàng năm sau khi

trích lập quy đầu tư phát triển và quy khen thương, phúc lợi theo quy định; quy đầu

tư phát triển. Nguồn vốn quy tạo cơ sơ cho việc xử lý ngân hàng đổ vỡ và chi trả

tiền bảo hiểm cho người gửi tiền, đồng thời giảm sức ép đối với ngân sách nhà nước

trong trường hợp tổ chức tín dụng gặp khó khăn.

* Về hoạt động chi trả BHTG

BHTGVN thực hiện nhiệm vụ chi trả tiền bảo hiểm tối đa 50 triệu đồng

(trước khi có Quyết định 21/2017/QĐ-TTg ngày 15/6/2017 – chi trả tiền bảo hiểm



74



tối đa 75 triệu đồng) cho một người gửi tiền tại một tổ chức nhận tiền gửi. Tính đến

hết năm 2016, BHTGVN đang bảo vệ cho hơn 3 triệu tỷ đồng tiền gửi của người

gửi tiền tại 1.266 tổ chức tham gia BHTG, bao gồm 94 NHTM, 01 NHHTX, 1.168

QTDND và 03 tổ chức tài chính vi mô. Thời gian qua, BHTGVN đã chi trả kịp thời

theo quy định cho 1.828 người gửi tiền tại 39 tổ chức tín dụng, với tổng số tiền chi

trả là 26,778 tỷ đồng (tính đến 31/12/2015).

BHTG Việt Nam đã thực hiện chi trả kịp thời và đầy đủ cho 33 quy Tín dụng

nhân dân bị giải thể, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền, góp phần quan

trọng trong ngăn chặn ảnh hương dây chuyền đối với hoạt động của tổ chức tín

dụng, ổn định chính trị xã hội. Với 33 quy Tín dụng nhân dân gặp khó khăn khơng

thể có giải pháp tháo gỡ để tiếp tục duy trì hoạt động đã được chấm dứt hoạt động

kịp thời và không gây ảnh hương tới các ngân hàng khác. Mặc dù số lượng người

được chi trả bảo hiểm không nhiều nhưng chính điều này đã cho thấy tác dụng tích

cực của BHTG Việt Nam trong cơng tác ổn định tài chính quốc gia. Tính đến năm

2014, trong tổng số 905 quy Tín dụng nhân dân có tới 891 quy Tín dụng nhân dân

hoạt động bình thường, chiếm tỷ lệ 98,5%, 14 quy hoạt động yếu kém và khơng có

quy nào có nguy cơ mất khả năng thanh tốn. Ngân hàng có khó khăn phải chấm

dứt hoạt động sẽ được BHTG Việt Nam giải quyết chi trả tiền bảo hiểm cho người

gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm một cách nhanh gọn bằng chính nguồn vốn

tích luy của cộng đồng các tổ chức tham gia BHTG. Cơ chế chi trả tương đối đơn

giản và kịp thời mà BHTG Việt Nam thực hiện đã tạo điều kiện cho các ngân hàng

mạnh dạn chấm dứt hoạt động nếu điều đó là cần thiết và không gây ảnh hương bất

lợi đến các ngân hàng khác và người gửi tiền. Điều đó thực sự đã góp phần củng cố

niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng. Nhờ đó, hiện tượng rút tiền ồ ạt tại các

tổ chức huy động tiền gửi khác do ảnh hương của các Quy tín dụng bị đóng cửa đã

không xảy ra. Thời gian qua, dù số người gửi tiền mà Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

đã chi trả bảo hiểm không nhiều, nhưng tác dụng của việc đảm bảo quyền lợi của

những người gửi tiền là rất đáng kể, tránh lặp lại tình trạng bất ổn xã hội đã xảy ra

làm gần 8000 Hợp tác xã, Quy tín dụng đóng cửa trên phạm vi cả nước trong giai



75



đoạn 1988 - 1990 khi chưa có hoạt động bảo hiểm tiền gửi. Từ đó cho thấy dân

chúng đã tin tương hơn vào hệ thống ngân hàng Việt Nam khi có Bảo hiểm tiền gửi

Việt Nam. Với cơ chế hoạt động bảo hiểm tiền gửi là lấy nguồn thu từ số đơng để

tài trợ rủi ro của số ít, hoạt động Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã tạo điều kiện thuận

lợi cho các ngân hàng có quy mơ hoạt động hạn chế, đặc biệt là quy Tín dụng nhân

dân có khó khăn và khơng có giải pháp tháo gỡ để tiếp tục hoạt động duy trì, đã

được chấm dứt hoạt động một cách kịp thời, rút lui khỏi thị trường một cách êm

thấm và không gây ảnh hương đến các ngân hàng khác. Ngoài ra, Bảo hiểm tiền gửi

Việt Nam với hoạt động của mình đã tạo niềm tin họ sẽ nhận lại được số tiền gửi

của mình trong mọi trường hợp (dù ngân hàng làm ăn hiệu quả hay bị phá sản), qua

đó tạo sự yên tâm cho người gửi tiền khi gửi tiền tại các tổ chức huy động tiền gửi.

Như vậy, vơ hình chung, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tạo ra yếu tố đảm bảo cho các

ngân hàng trong hoạt động huy động tiền gửi. Thực tế cho thấy, từ khi Bảo hiểm

tiền gửi Việt Nam ra đời, tổng lượng tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm huy động

được liên tục tăng qua các năm. Nếu như năm 2000, tổng lượng tiền gửi thuộc đối

tượng được bảo hiểm chỉ là 45 nghìn tỷ đồng thì đến năm 2014, con số này đã lên

tới 2 triệu tỷ đồng, điều này chứng tỏ vai trò tích cực của Bảo hiểm tiền gửi Việt

Nam trong việc củng cố niềm tin của dân chúng và thúc đây huy động vốn nhàn rỗi

trong dân cư, đồng thời cũng thể hiện nhận thức của người dân trong việc bảo vệ

tiền gửi của mình thơng qua việc gửi các loại tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm.

Vai trò và các hình thức tuyên truyền tác dụng của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã

phát huy tác dụng.

Chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền là biện pháp cuối cùng khi tổ chức

tham gia BHTG chấm dứt hoạt động, đó là một trong những nội dung hoạt động

quan trọng của BHTG Việt Nam. BHTGVN chủ động xây dựng các phương án chi

trả tiền bảo hiểm để thanh toán cho người gửi tiền và thực hiện đầy đủ trách nhiệm

chi trả tiền gửi được bảo hiểm cho người gửi tiền tại các tổ chức tham gia BHTG

theo đúng quy định. Công tác chi trả được tiến hành nhanh chóng, kịp thời, đúng

quy trình thủ tục, khơng xảy ra sai sót, khiếu kiện, góp phần giữ vững an ninh kinh



76



tế - chính trị - xã hội.

3.1.3. Hạn chế

* Hạn chế của pháp luật trong hoạt động thu phí BHTG

Bên cạnh những ưu điểm đã nêu trên, phí BHTG đồng hạng bộc lộ một số

hạn chế cơ bản cần được nghiên cứu, có kế hoạch khắc phục mà nguyên nhân chủ

yếu của nó xuất phát từ chính nội tại từ hệ thống bộ máy tài chính – ngân hàng hiện

nay của Việt Nam.

Tỷ lệ phí BHTG như nhau áp dụng chung cho tất cả khách hàng tham gia

BHTG sẽ tạo nên khả năng xảy ra các biểu hiện ỷ lại, xét về góc độ quản lý rủi ro

trong hoạt động của các tổ chức tham gia BHTG và đồng thời khơng có tác dụng

khuyến khích các Ngân hàng thi đua hoạt động tốt, an toàn cao để được áp dụng tỷ

lệ phí BHTG thấp. Đã từng có nghiên cứu chỉ ra rằng, đối với các hệ thống BHTG

áp dụng tỷ lệ phí BHTG đồng hạng, động lực thúc đẩy ngân hàng chấp nhận rủi ro

cao hơn trong hoạt động càng trơ lên mạnh mẽ hơn [28, tr.2]. Hơn nữa, nhiều tổ

chức BHTG cũng đánh giá phí BHTG là một trong các tín hiệu cơng bố đối với thị

trường về tình hình hoạt động của tổ chức tham gia BHTG, đặc biệt là mức độ rủi ro

trong kinh doanh để tự xây dựng các kế hoạch điều chỉnh đảm bảo an tồn hơn.

Điều đó cần đặt ra yêu cầu cần xem xét, từng bước chuyển sang phí BHTG theo

mức độ rủi ro (hệ thống phí phân biệt).

Phương pháp thu phí đồng hạng bộc lộ một số bất cập, như: mang tính “cào

bằng”, khơng khuyến khích, thúc đẩy cạnh tranh giữa các tổ chức nhận tiền gửi,

không đảm bảo nguyên tắc thị trường (TCTD nào rủi ro cao thì phải đóng phí cao

và ngược lại). Điều đó sẽ dẫn tới hệ quả không đảm bảo công bằng giữa các TCTD,

không tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các TCTD và không tạo động lực cho

các TCTD cố gắng nỗ lực cải thiện hoạt động và nâng cao tính minh bạch cho tổ

chức và tăng cường khả năng thích nghi cũng như cạnh tranh trên thị trường...

Một trong các nghĩa vụ của tổ chức tham gia BHTG là nộp phí BHTG. Tổ

chức tham gia BHTG phải tuân thủ quy định của pháp luật về mức phí BHTG, thủ

tục nộp phí BHTG. Trường hợp vi phạm nghĩa vụ nộp phí BHTG, tổ chức tham gia



77



BHTG có thể phải gánh chịu các biện pháp chế tài pháp lý do pháp luật quy định.

Có hai vấn đề nổi cộm đó là về việc tính phí BHTG và việc nộp chậm, nộp thiếu phí

BHTG. Hiện nay, phí BHTG được áp dụng với mức 0,15% trên tổng số dư tiền gửi

được bảo hiểm cho tất cả các tổ chức tham gia BHTG. Mức thu phí này đã được

thực hiện từ năm 2005 trên cơ sơ quy định tại Nghị định số 89/1999/NĐ - CP ngày

01/9/1999 về BHTG và Nghị định số 09/2005/NĐ - CP ngày 24/8/2005 sửa đổi, bổ

sung một số điều của Nghị định số 89/1999/NĐ - CP tiếp tục có hiệu lực thi hành

cho đến khi Thủ tướng Chính phủ ban hành các quy định về khung phí theo quy

định của Luật BHTG năm 2012. Việc áp dụng mức phí đồng hạng chỉ phù hợp trong

giai đoạn đầu triển khai hệ thống BHTG khi tổ chức BHTG chưa có đủ các nguồn

lực cần thiết vì hệ thống phí BHTG đồng hạng dễ quản lý, dễ tính và thu phí. Tuy

nhiên, hạn chế của việc áp dụng mức phí đồng hạng là không công bằng, tiềm ẩn rủi

ro đạo đức và hạn chế sự cạnh tranh giữa các tổ chức tham gia BHTG trong việc

nâng cao chất lượng hoạt động để hương mức phí thấp. Điều này có hạn chế là cào

bằng, khơng đảm bảo ngun tắc thị trường theo đó tổ chức tín dụng nào có mức độ

rủi ro cao thì phải đóng phí cao và ngược lại. Khắc phục điều đó, Luật BHTG năm

2012 quy định như sau: “Thủ tướng Chính phủ quy định khung phí BHTG theo đề

nghị của NHNN. Căn cứ vào khung phí BHTG, NHNN quy định mức phí BHTG cụ

thể đối với tổ chức tham gia BHTG trên cơ sở kết quả đánh giá và phân loại các tổ

chức này”. Quy định này cũng phù hợp với xu hướng quốc tế là chuyển từ mô hình

phí đồng hạng sang áp dụng mơ hình phí theo rủi ro. Tuy nhiên, việc này cũng phải

được nghiên cứu ky lưỡng, đặc biệt là phải xem xét hoàn thiện hệ thống đánh giá

xếp hạng các tổ chức tín dụng theo phương pháp CAMELS (Hệ thống phân tích

CAMELS được áp dụng nhằm đánh giá độ an toàn, khả năng sinh lời và thanh

khoản của ngân hàng), phân tích theo chỉ tiêu CAMELS dựa trên 6 yếu tố cơ bản

được sử dụng để đánh giá hoạt động của một ngân hàng, đó là: Mức độ an tồn vốn,

Chất lượng tài sản có, Quản lý, Lợi nhuận, Thanh khoản và Mức độ nhạy cảm thị

trường.

Đây là căn cứ quan trọng để triển khai thu phí BHTG theo mức độ rủi ro.



78



Đồng thời, một yếu tố cần cân nhắc khi triển khai thu phí BHTG theo mức độ rủi

ro là trách nhiệm bảo mật thông tin đánh giá xếp hạng, tránh trường hợp lợi dụng

để cạnh tranh không lành mạnh gây tổn hại đến hệ thống ngân hàng. Đây cũng là

vấn đề đổi mới chính sách BHTG tại Việt Nam và cũng sẽ được ban hành trong

thời gian tới.

Ngồi ra còn một số hạn chế khác như:

- Luật BHTG chưa quy định về việc xử lý số tiền nợ phí BHTG, nợ tiền phạt

nộp chậm phí BHTG của tổ chức tham gia BHTG đến thời điểm phát sinh nghĩa vụ

trả tiền bảo hiểm; trong khi đó thực tế đến thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo

hiểm, BHTGVN không thu được các khoản nợ phí BHTG, nợ tiền phạt nộp chậm

phí BHTG của tổ chức tham gia BHTG.

- Luật BHTG và các văn bản dưới Luật chưa có quy định về việc gia hạn thời

hạn nộp phí BHTG; việc miễn, giảm phạt chậm nộp phí BHTG đối với tổ chức tham

gia BHTG trong một số trường hợp đặc biệt; trong khi đó trên thực tế phát sinh nhiều

tình huống cần có những cơ chế gia hạn, giảm tiền phí, giảm tiền phạt dẫn đến việc

quản lý phí gặp nhiều khó khăn như trường hợp tổ chức tham gia BHTG lâm vào tình

trạng mất thanh khoản, khơng có tiền nộp phí đúng theo quy định.

- Luật BHTG và các văn bản dưới Luật chưa quy định thời điểm thực hiện

tính phí BHTG kỳ thu phí quý đầu tiên áp dụng đối với tổ chức thuộc đối tượng

tham gia BHTG bắt buộc nhưng khai trương hoạt động huy động vốn một thời gian

mới nộp hồ sơ xin cấp Chứng nhận tham gia BHTG dẫn đến thực tế có nhiều cách

hiểu khác nhau về thời điểm tính phí kỳ thu phí đầu tiên.

- Tại Khoản 2 Điều 21 Luật BHTG quy định “…tổ chức bảo hiểm tiền gửi

có trách nhiệm thơng báo và truy thu số phí còn thiếu hoặc thối thu đối với số phí

nộp thừa trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày phát hiện”. Việc xác định ngày phát

hiện để tính thời hạn 15 ngày gặp khó khăn do trên thực tế khi tiến hành kiểm tra,

phát hiện có sai phạm, BHTGVN lập biên bản kiểm tra và kết luận kiểm tra. Như

vậy có 2 mốc thời gian để tính là ngày phát hiện đó là ngày thơng qua biên bản

kiểm tra và ngày ký ban hành kết luận kiểm tra. Vấn đề này chưa được quy định tại



79



Luật BHTG hay các văn bản dưới Luật.

* Hạn chế của pháp luật trong hoạt động chi trả BHTG

Trong trường hợp gặp khó khăn về tài chính mà có nguy cơ mất khả năng

thanh tốn nhưng chưa đến mức bị đặt trong tình trạng kiểm sốt đặc biệt, tổ chức

tham gia bảo hiểm có thể được tổ chức BHTG cho vay hỗ trợ, bảo lãnh cho các

khoản vay đặc biệt, mua lại nợ đối với những khoản nợ có bảo đảm bằng tài sản.

Trong trường hợp buộc phải thanh lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm vì lý do

mất khả năng thanh toán, tổ chức BHTG sẽ thực hiện việc chi trả cho người thụ

hương thay cho tổ chức tham gia BHTG.

Về thủ tục trả tiền và hạn mức thanh toán bảo hiểm. Điều 26 Luật BHTG

năm 2012 quy định thủ tục trả tiền bảo hiểm, tuy nhiên, hồ sơ đề nghị chi trả

chưa quy định rõ ràng, đồng thời các trường hợp nhận tiền theo ủy quyền, tiền

thừa kế, tiền gửi của người mất tích cũng chưa được đề cập đầy đủ. Hơn nữa, về

hạn mức trả tiền bảo hiểm được áp dụng từ năm 2005 cho đến trước thời điểm

ngày 05/8/2017, ngày Quyết định 21/2017/QĐ-TTg ngày 15/6/2017 có hiệu lực

với hạn mức chi trả là 50 triệu đồng (áp dụng trong thời gian hơn 10 năm), sau

thời điểm ngày có hiệu lực của Quyết định số 21 thì hạn mức chi trả tiền bảo

hiểm nâng lên tối đa 75 triệu đồng, trong khi thu nhập bình quân đầu người cũng

như tốc độ lạm phát và quy mô phát triển của nền kinh tế ngày càng tăng, nhận

thấy rằng mặc dù hạn mức đã tăng thêm lên 25 triệu đồng nữa nhưng hạn mức

này khơng hề hấp dẫn để có thể tạo được động lực thu hút nguồn tiền gửi vào các

TCTD. Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, hệ thống tài chính – ngân hàng còn

nhiều bấp bênh và rủi ro thì việc củng cố niềm tin cho người gửi tiền là một việc

làm cần thiết, điều này đồng nghĩa với việc chúng ta cần nâng cao hơn nữa hạn

mức trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền khi nền kinh tế gặp khó khăn nhằm

tăng niềm tin của người dân vào hệ thống ngân hàng.

Hạn mức chi trả Bảo hiểm tiền gửi thấp, tỷ lệ dự trữ thấp. Mức chi trả tối đa

của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam hiện tại là quá thấp không đảm bảo được niềm tin

của người gửi khi có biến cố xảy ra. Hiện tại, hạn mức chi trả của nước ta là 75 triệu



80



Đồng vẫn thấp hơn nhiều so với các nước khác trong khu vực (như Philipin, hay

Singapore là nước không giới hạn mức chi trả). Việc xác định hạn mức chi trả cho

người gửi tiền một cách hợp lý trong trường hợp tổ chức nhận tiền gửi gặp khó khăn

hoặc đổ vỡ là hết sức quan trọng. Nếu xét về khía cạnh tác động trực tiếp tới quyền

lợi của người gửi tiền, tổ chức nhận tiền gửi và thị trường tài chính, mức độ tổ chức

BHTG chi trả phải đảm bảo tác động được tối đa tới càng nhiều người gửi tiền và

càng nhiều số tiền gửi càng tốt. Tuy nhiên, nếu xét theo khía cạnh tác động gián tiếp,

nếu như mức cam kết chi trả quá cao quá rộng có thể dẫn tới sự thờ ơ, ỷ lại của người

dân trong việc đánh giá tín nhiệm, chất lượng của các tổ chức tín dụng để gửi tiền.

Bên cạnh đó, cũng sẽ dễ dẫn đến các hành vi lạm dụng lợi dụng chính sách, vi phạm

chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp mà không chú ý nâng cao hiệu quả hoạt động và

củng cố hệ thống quản trị rủi ro của các tổ chức nhận tiền gửi. Từ đó, lại làm cho rủi

ro mất khả năng thanh toán, đổ vỡ của các tổ chức nhận tiền gửi cũng như hệ thống

ngày càng cao. Vì vậy, hầu hết các quốc gia đều rất chú trọng xác định mức này hợp

lý cho từng thời kỳ.

Thực tiễn cho thấy hầu hết các nước trên thế giới đang có xu hướng tăng hạn

mức trả tiền bảo hiểm ngày một cao hơn và thậm chí trong thời kỳ khủng hoảng,

nhiều nước đã cam kết trả toàn bộ 100% số tiền gửi. Điều này đã tạo được tâm lý rất

ổn định của người gửi tiền và trong thực tế, quyền lợi người gửi tiền đã được bảo vệ

một cách tuyệt đối. Hơn nữa, BHTGVN hiện không bảo hiểm cho các khoản tiền

gửi bằng ngoại tệ hoặc vàng. Trong khi đó theo thống kê gần nhất của ngân hàng

Nhà nước, hệ thống ngân hàng thương mại đang giữ hộ người dân khoảng 30 tỷ

USD và 100 tấn vàng. Do khơng được bảo hiểm nên người dân có tâm lý muốn rút

ngoại tệ và vàng ra khỏi ngân hàng khi có bất ổn trong nền kinh tế. Ngân hàng

khơng thể ngay lập tức quy đổi những khoản đầu tư vào bất động sản, hàng hóa và

tài sản sinh lợi khác thành vàng và USD để trả cho người dân, thanh khoản cạn kiệt

có thể dẫn đến sự sụp đổ hàng loạt của hệ thống ngân hàng trong nước.

Như vậy, những quy định về mức chi trả tối đa của Bảo hiểm tiền gửi hiện

nay đã không phát huy được những yếu tố hỗ trợ trong tình hình tài chính bất ổn.

Khi kinh tế Việt Nam đang được kỳ vọng tiếp tục phát triển sẽ làm cho thu nhập dân



81



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Ở VIỆT NAM VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×