Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
NỘI DUNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG THU PHÍ VÀ CHI TRẢ BẢO HIỂM TIỀN GỬI CỦA CƠ QUAN BẢO HIỂM TIỀN GỬI

NỘI DUNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG THU PHÍ VÀ CHI TRẢ BẢO HIỂM TIỀN GỬI CỦA CƠ QUAN BẢO HIỂM TIỀN GỬI

Tải bản đầy đủ - 0trang

nộp chậm để đưa ra các biện pháp pháp lý nhằm đảm bảo các tổ chức tham gia

BHTG nộp đầy đủ theo đúng quy định.

Để đảm bảo thu phí BHTG được chính xác, đúng quy định, những năm vừa

qua BHTG Việt Nam đã tích cực thực hiện nhiều biện pháp như ban hành hướng

dẫn quy định tính và nộp phí áp dụng đối với các tổ chức tham gia BHTG, kiểm tra

tại chỗ việc tính và nộp phí của tổ chức tham gia BHTG, xử lý kịp thời những

trường hợp vi phạm nên thời gian qua hoạt động thu phí BHTG đã đạt được những

kết quả đáng khích lệ.

Để đảm bảo an toàn của hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín

dụng, thực hiện chức năng của mình, Ngân hàng Nhà nước đã áp dụng việc kiểm

sốt đặc biệt đối với các tổ chức tín dụng có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả

năng thanh toán. Bảo đảm quyền lợi của người gửi tiền và giữ vững sự ổn định, an

toàn hệ thống là nguyên tắc xuyên suốt của quy trình tái cơ cấu các tổ chức tín dụng

(TCTD) được thể hiện trong Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức

tín dụng (có hiệu lực thi hành từ 15/1/2018). Theo quy định thì tổ chức tín dụng

được kiểm sốt đặc biệt là việc một tổ chức tín dụng bị đặt dưới sự kiểm soát trực

tiếp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam do có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất

khả năng thanh toán hoặc vi phạm nghiêm trọng pháp luật dẫn đến nguy cơ mất an

toàn hoạt động [16]. Trong trường hợp Tổ chức tín dụng được kiểm sốt đặc biệt

được thì sẽ được miễn nộp phí bảo hiểm tiền gửi, phí tham gia Quy bảo đảm an tồn

hệ thống quy tín dụng nhân dân [22].

Có thể nói, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật TCTD là bước tiến quan

trọng về mặt pháp lý trong việc tiếp tục thúc đẩy tái cơ cấu các TCTD, đảm bảo cho

hoạt động tài chính, ngân hàng an tồn, hiệu quả. Đồng thời, sửa đổi, bổ sung này

cũng đặt ra cho Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trách nhiệm lớn hơn để có thể tham gia

sâu hơn trong q trình tái cơ cấu các TCTD và thực hiện sứ mệnh góp phần đảm

bảo an tồn hệ thống các TCTD, bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người gửi tiền. Điều

này đòi hỏi tồn hệ thống Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam phải sẵn sàng nguồn lực về

con người, nâng cao hơn nữa hoạt động nghiệp vụ, năng lực tài chính, hệ thống

cơng nghệ thơng tin... để hồn thành sứ mệnh của mình.



42



2.1.2. Quy định pháp luật về mức thu phí và cách tính phí bảo hiểm tiền gửi

BHTGVN đang thu phí từ các tổ chức tham gia BHTG với mức phí đồng hạng

là 0,15% tính trên số dư tiền gửi bình quân của các loại tiền gửi được bảo hiểm tại tổ

chức tham gia BHTG. Hoạt động thu phí BHTG sẽ hình thành lên quy BHTG.

Hiện nay trên thế giới có hai hình thức lập quy đó là lập quy trước và lập quy

sau. Lập quy trước đó là việc định kỳ thu phí nhằm mục đích tích lũy nguồn vốn để

đáp ứng các nghĩa vụ trong tương lai (ví dụ trả tiền bảo hiểm) và trang trải các chi

phí hoạt động và các chi phí khác có liên quan của tổ chức BHTG. Lập quy sau là

các hệ thống trong đó nguồn vốn để chi cho các nghĩa vụ BHTG chỉ được thu từ các

ngân hàng còn lại sau khi một ngân hàng đổ vỡ. Dù là quy lập trước hay lập sau thì

về nguyên tắc, quy BHTG phải đủ để chi trả cho những rủi ro phát sinh do thực hiện

nghĩa vụ BHTG. Tuy nhiên, mức đủ của quy cần phù hợp với khả năng đóng góp

của các tổ chức tham gia BHTG. Nhiều tổ chức BHTG xác định trước mức mục tiêu

cho quy BHTG nhằm tích lũy vốn quy trong một thời gian cụ thể. Mức mục tiêu có

thể là một con số xác định hoặc là một khoảng. Mức mục tiêu này cần được xác

định rõ ràng, trong trường hợp an toàn hệ thống và quy mơ quy đã đạt tới mức quy

định thì có thể miễn hoặc giảm phí, ngược lại trong trường hợp khủng hoảng thì rủi

ro mang tính hệ thống thì có thể thay đổi mức phí cho phù hợp. Ví dụ tại My năm

1996 quy định rằng nếu tỷ lệ dự trữ quy BHTG vượt q 1,25%, FDIC khơng được

phép thu phí bảo hiểm đối với các ngân hàng nằm trong nhóm rủi ro thấp nhất.

Trong giai đoạn 1996 - 2006, tỷ lệ này cao hơn 1,25% nên các ngân hàng không

phải đóng phí bảo hiểm vì phần lớn các ngân hàng nằm trong nhóm rủi ro thấp nhất.

Luật cải cách BHTG năm 2005 đã có thay đổi về việc thiết lập phí bảo hiểm. Đặc

biệt, Đạo luật đưa ra tỷ lệ dự trữ quy định từ 1,15% đến 1,5%, thay vì 1,25%. Khi tỷ

lệ vượt mức 1,5% và/hoặc 1,35%, phần thặng dư được hoàn lại cho các ngân hàng

sẽ tương ứng 100% và/hoặc 50%; nếu tỷ lệ ơ dưới mức 1,15%, FDIC phải khơi

phục lại quy và nâng mức phí bảo hiểm tới một mức đủ để trơ về tỷ lệ dự trữ quy

định trong vòng 5 năm.



43



Phí BHTG là nguồn tài chính quan trọng bổ sung vào Quy dự phòng nghiệp

vụ để Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam thực hiện tốt các hoạt động nghiệp vụ bảo hiểm

tiền gửi và chi trả cho người gửi tiền.

Theo khảo sát thường niên của Hiệp hội BHTG Quốc tế (IADI) năm 2014,

có khoảng trên 60% tổ chức BHTG chỉ áp dụng thu phí đồng hạng, gần 30% chỉ áp

dụng thu phí phân biệt (hay còn gọi là thu phí BHTG trên cơ sơ kết quả đánh giá và

phân loại các tổ chức tham gia BHTG), và khoảng 10% áp dụng song song cả 2

hình thức phí trên. My là một trong những nước đã áp dụng phương pháp thu phí

phân biệt, trong khi một số nước khác như Nhật Bản, Ấn Độ, Thái Lan… hiện vẫn

đang thu phí đồng hạng.

Phương pháp tính phí BHTG Việt Nam hiện nay:

Hiện nay BHTG Việt Nam đang áp dụng phương pháp tính phí đồng hạng.

Cơ sơ tính phí BHTG là số dư bình qn tiền gửi được bảo hiểm và mức phí

BHTG theo quy định. Số dư bình qn tiền gửi được bảo hiểm là tồn bộ số dư tiền

gửi bình quân của các loại tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG của

quý trước liền kề q thu phí.

* Cơng thức tính phí BHTG định kỳ hàng quý: P =



S0  S3

 S1  S2

m

2

x

3

4



Trong đó:

- P là số phí BHTG phải nộp của quý thu phí;

- S0 là số dư tiền gửi được bảo hiểm đầu tháng thứ nhất của quý trước liền kề

quý thu phí;

- S1, S2, S3 là số dư tiền gửi được bảo hiểm cuối các tháng thứ nhất, thứ hai,

thứ ba của quý trước liền kề quý thu phí;

- m là mức phí BHTG phải nộp.

Ví dụ: P là số phí BHTG phải nộp của q II/2015 thì: So là số dư tiền gửi

được bảo hiểm ngày đầu tháng 01/2015; S1 là số dư tiền gửi được bảo hiểm ngày

cuối tháng 01/2015; S2 là số dư tiền gửi được bảo hiểm ngày cuối tháng 02/2015;

S3 là số dư tiền gửi được bảo hiểm ngày cuối tháng 3/2015.



44



* Công thức tính phí BHTG kỳ phí đầu tiên của tổ chức tham gia BHTG mới

n



thành lập và hoạt động: P =



m



 Si 360

i 1



Trong đó:

- P: là số phí BHTG phải nộp của quý đầu tiên.

- Si: là số dư tiền gửi được bảo hiểm ngày thứ i (i=1 →n; S1 là số dư tiền gửi

được bảo hiểm cuối ngày đầu tiên nhận tiền gửi; Sn là số dư tiền gửi được bảo hiểm

ngày cuối cùng của quý đầu tiên).

- m: là mức phí BHTG phải nộp.

* Lưu ý: Riêng cách tính phí đối với TCTGBHTG sau sáp nhập, hợp nhất cụ

thể như sau:

Tổ chức tham gia BHTG sau sáp nhập, hợp nhất áp dụng cơng thức tính phí

BHTG định kỳ hàng quý, trong đó S0 là tổng số dư tiền gửi được bảo hiểm của các

tổ chức tham gia BHTG tham gia sáp nhập, hợp nhất đầu tháng thứ nhất của quý

trước liền kề quý thu phí; S1, S2, S3 là tổng số dư tiền gửi được bảo hiểm của các tổ

chức tham gia BHTG tham gia sáp nhập, hợp nhất cuối các tháng thứ nhất, tháng

thứ hai, tháng thứ ba của quý trước liền kề quý thu phí.

Để tính phí BHTG chính xác cần phải xác định được các loại tiền gửi được

bảo hiểm và không được bảo hiểm.

Những loại tiền gửi được bảo hiểm (theo điều 18, Luật BHTG) là tiền gửi

bằng đồng Việt Nam của cá nhân gửi tại tổ chức tham gia BHTG dưới hình thức

tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi khơng kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi, kỳ

phiếu, tín phiếu.

Những loại tiền gửi không được bảo hiểm (theo điều 19, Luật BHTG)

- Tiền gửi tại tổ chức tín dụng của cá nhân là người sơ hữu trên 5% vốn điều

lệ của chính tổ chức tín dụng đó.

- Tiền gửi tại tổ chức tín dụng của cá nhân là thành viên Hội đồng thành viên,

thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm sốt, Tổng giám đốc (Giám

đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của chính tổ chức tín dụng đó; tiền gửi tại



45



chi nhánh ngân hàng nước ngoài của cá nhân là Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó

Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của chính chi nhánh ngân hàng nước ngồi đó.

- Tiền mua các giấy tờ có giá vơ danh do tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi

phát hành.

Thu phí trên cơ sơ rủi ro là một bước tiến cần thiết để khẳng định sự phát

triển của hoạt động BHTG tại Việt Nam. Tuy nhiên khó khăn lớn nhất là phải đưa ra

được phương pháp tính phí mang tính thuyết phục cao, đảm bảo các điều kiện tạo ra

sự công bằng giữa các tổ chức tín dụng, theo thơng lệ quốc tế và phù hợp với điều

kiện đặc thù của Việt Nam. Vấn đề này đã được BHTGVN nghiên cứu và xây dựng

đề án thu phí BHTG theo mức độ rủi ro. Với những tính năng vượt trội, mơ hình tổ

chức BHTG có thể giảm thiểu rủi ro, góp phần thúc đẩy nhanh q trình hiện đại

hóa và hội nhập quốc tế, đảm bảo tính ổn định và an tồn hệ thống.

Hoạt động thu phí BHTG tại hầu hết các quốc gia có triển khai chính sách

BHTG, phí BHTG là nguồn tài chính quan trọng, tích lũy vốn đảm bảo cho mục

đích hoạt động BHTG. Hiện nay trên thế giới tỷ lệ phí BHTG mà mỗi tổ chức tham

gia BHTG áp dụng để tính phí được chia làm hai loại: tỷ lệ phí BHTG đồng hạng và

tỷ lệ phí BHTG theo mức độ rủi ro. Mức phí BHTG đồng hạng: tất cả các tổ chức

tham gia BHTG khơng phân biệt loại hình sơ hữu, quy mô hoạt động, hiệu quả kinh

doanh, mức độ rủi ro,... đều áp chung mức phí cố định (thường tính theo % trên

tổng số dư tiền gửi). Ưu điểm nổi bật của phí BHTG đồng hạng là thuận lợi trong

triển khai. Tuy nhiên, phí BHTG đồng hạng cũng có một số hạn chế nhất định, đó là

sẽ tạo ra khả năng xảy ra các biểu hiện ỷ lại xét về góc độ quản lý rủi ro trong hoạt

động của các tổ chức tham gia BHTG (do áp dụng một tỷ lệ phí như nhau), khơng

có tác dụng khuyến khích các ngân hàng thi đua hoạt động tốt, an toàn cao để được

áp dụng tỷ lệ phí BHTG thấp.

Hệ thống phí điều chỉnh theo mức độ rủi ro: là hệ thống phí trong đó các tổ

chức tham gia BHTG đóng góp phí cho tổ chức BHTG theo nguyên tắc tỷ lệ phí

phải nộp tăng nếu hoạt động của tổ chức tham gia BHTG hoạt động kém hiệu quả,

nguy cơ rủi ro cao và ngược lại. Thông thường các quốc gia khi mới thành lập tổ



46



chức BHTG áp dụng phí bảo hiểm đồng hạng, sau đó mới chuyển sang phí theo rủi

ro. Có một số trường hợp ngoại lệ, tổ chức BHTG thực hiện phí theo rủi ro ngay từ

đầu (BHTG Argentina vào năm 1995, BHTG Malaysia...). Một khi quốc gia quyết

định áp dụng các khoản nộp phí BHTG theo rủi ro, các nước này phải hội đủ nguồn

lực để triển khai hệ thống đó thành cơng. Các nguồn lực này gồm có: đủ thông tin

về nguy cơ rủi ro của những tổ chức nhận tiền gửi và đủ số lượng nhân viên có năng

lực và cơng cụ phân tích hiệu quả. Thực tế cho thấy việc áp dụng hệ thống phí theo

mức độ rủi ro có vai trò tích cực trong việc hạn chế các ngân hàng hướng tới các

hoạt động rủi ro cao hơn. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm và mục tiêu đã được

đề cập ơ trên, hệ thống phí theo rủi ro cũng có những nhược điểm nhất định. Cụ thể,

tổ chức tham gia BHTG hoạt động yếu kém, rủi ro cao lại phải chịu mức phí cao

hơn và như vậy, áp lực rủi ro tiếp tục tăng cao đối với nhóm tổ chức này. Để khắc

phục điều này, các quốc gia triển khai hệ thống phí rủi ro khi các ngân hàng đang

hoạt động tốt.

Theo điều 20 và 21 Luật bảo hiểm tiền gửi, Thủ tướng Chính phủ quy định

khung phí bảo hiểm tiền gửi theo đề nghị của Ngân hàng Nhà nước. Ngân hàng Nhà

nước quy định mức phí bảo hiểm tiền gửi cụ thể đối với tổ chức tham gia bảo hiểm

tiền gửi trên cơ sơ kết quả đánh giá và phân loại tổ chức này.

Đến cuối năm 2016 có 1.255 tổ chức tham gia BHTG, tăng 26 tổ chức tham

gia BHTG so với cuối năm 2012. Nhìn chung, các tổ chức tham gia BHTG thực

hiện nghiêm túc việc tính và nộp phí BHTG theo quy định, tổng số phí thu được từ

năm 2013 đến hết năm 2016 là 15.129 tỷ đồng. Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã tích

cực đơn đốc, hướng dẫn, giải đáp các vướng mắc và xử lý kịp thời các vi phạm

trong việc tính và nộp phí bảo hiểm tiền gửi.

2.1.3. Quy định pháp luật về trình tự, thủ tục thu phí bảo hiểm tiền gửi

Phí BHTG được tính và nộp định kỳ hàng quý trong năm tài chính. Chậm

nhất vào ngày 20 của tháng đầu tiên quý thu phí, tổ chức tham gia BHTG phải nộp

đủ phí BHTG cho BHTGVN. Trường hợp ngày cuối cùng của thời hạn nộp phí

trùng vào ngày Lễ, Tết, ngày nghỉ cuối tuần thì tổ chức tham gia BHTG được nộp



47



vào ngày làm việc tiếp theo ngay sau ngày nghỉ Lễ, Tết, ngày nghỉ cuối tuần đó.

Số dư tiền gửi được bảo hiểm, phí BHTG và phí nộp thiếu, nộp chậm, được

làm tròn đến đơn vị nghìn đồng theo nguyên tắc: Lớn hơn hoặc bằng 500 đồng làm

tròn lên 1000 đồng; Nhỏ hơn 500 đồng làm tròn về 0 đồng.

- Xử phạt chậm nộp phí BHTG: Tổ chức tham gia BHTG nộp phí BHTG

chậm hoặc nộp khơng đầy đủ số phí phải nộp theo quy định thì ngồi việc phải nộp

đủ số phí BHTG còn thiếu, phải chịu phạt mỗi ngày nộp chậm bằng 0,05% số tiền

nộp chậm.

- Trường hợp BHTGVN phát hiện sự thiếu chính xác trong việc tính và nộp

phí BHTG, thì BHTGVN có trách nhiệm thơng báo và truy thu số phí còn thiếu

hoặc thối thu đối với số phí nộp thừa trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày phát hiện.

- Xử lý các trường hợp không chấp hành quy định về nộp phí BHTG:

+ Sau thời hạn 30 ngày, kể từ ngày phải nộp phí BHTG mà tổ chức tham gia

BHTG khơng nộp hoặc nộp khơng đầy đủ phí BHTG và tiền phạt, thì BHTGVN có

văn bản đề nghị NHNNVN trích tài khoản của tổ chức tham gia BHTG tại NHNNVN

để nộp phí BHTG và tiền phạt. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận văn bản đề

nghị của BHTGVN, NHNNVN có trách nhiệm xử lý.

+ Trong trường hợp tổ chức tham gia BHTG không nộp hoặc nộp khơng đầy

đủ phí BHTG mà NHNNVN phải trích tài khoản của tổ chức tham gia BHTG để

nộp phí theo quy định đến lần thứ hai thì BHTGVN có văn bản đề nghị NHNNVN

đình chỉ hoặc tạm đình chỉ hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tham gia BHTG.

Về vấn đề thời hạn nộp phí BHTG, Luật BHTG năm 2012 vẫn kế thừa

những quy định trước đây, theo đó phí BHTG được tính và nộp định kì hàng q

trong năm tài chính; tổ chức tham gia BHTG phải nộp phí BHTG cho Bảo hiểm

tiền gửi Việt Nam chậm nhất vào ngày 20 tháng đầu tiên của quý kế tiếp. Có thể

thấy rằng, việc xác định mức phí và thời hạn nộp phí đối với các tổ chức tham

gia bảo hiểm tiền gửi đã được pháp luật Việt Nam quy định rõ ràng và cụ thể.

Trong trường hợp tổ chức tham gia BHTG vi phạm thời hạn nộp phí bảo hiểm thì

ngồi việc phải nộp đủ số phí còn thiếu thì còn phải chịu phạt mỗi ngày nộp



48



chậm bằng 0,05% số tiền nộp chậm, trước đây mức phạt này là 0,1% (Điều 8

Nghị định số 89/1999/NĐ-CP).

Sau thời hạn nộp phí bảo hiểm tiền gửi 30 ngày mà tổ chức tham gia BHTGVN

có quyền đề nghị NHNN trích tài khoản của tổ chức tham gia BHTG tại NHNN để

nộp phí bảo hiểm và tiền phạt. Trước đây, pháp luật quy định trong trường hợp tài

khoản của tổ chức tham gia BHTG không đủ số dư để thực hiện việc trích nộp nêu

trên thì tổ chức BHTGVN có văn bản báo cáo NHNN Việt Nam và nếu trong 03

tháng tổ chức tham gia BHTG khơng nộp đủ phí bảo hiểm thì BHTGVN có quyền

thu hồi chứng nhận BHTG của tổ chức tham gia bảo hiểm. Theo quy định mới của

Luật BHTG thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của tổ

chức BHTG về việc trích tài khoản của tổ chức tham gia BHTG để nộp phí BHTG

thì NHNN có trách nhiệm phải xử lý. Điều này phần nào thể hiện được vị thế độc

lập tương đối của tổ chức BHTG với

NHNN khi hai cơ quan này cùng chia sẻ trách nhiệm trong việc thực hiện

chức năng hoạt động của mình chứ khơng đơn thuần là quan hệ hành chính như

trước đây. Còn trường hợp tổ chức BHTG có văn bản đề nghị NHNN đình chỉ hoặc

tạm đình chỉ hoạt động tiền gửi thì phải sau khi tổ chức tham gia BHTG không nộp

hoặc nộp không đầy đủ phí BHTG mà NHNN phải trích từ tài khoản của tổ chức đó

để nộp phí lần thứ hai. Ngồi ra luật mới có quy định thêm cho tổ chức BHTG có

trách nhiệm xử lý trong trường hợp có sự thiếu chính xác trong việc tính và nộp phí,

theo đó tổ chức BHTG có trách nhiệm thơng báo và truy thu số phí còn thiếu hoặc

thối thu đối với số phí nộp thừa trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày phát hiện có sự

thiếu chính xác. Điều này sẽ góp phần hạn chế sai sót trong việc tính và nộp phí

BHTG, từ đó góp phần nâng cao trách nhiệm của đội ngũ nhân lực làm cơng tác

tính và thu phí BHTG.

2.1.4. Quy định pháp luật về giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt

động thu phí bảo hiểm tiền gửi

Hoạt động thu phí BHTG cũng như các hoạt động khác của BHTG đều chứa

đựng nguy cơ phát sinh nhiều loại tranh chấp giữa các chủ thể. Tranh chấp phát sinh



49



khi các chủ thể trong quan hệ BHTG mâu thuẫn, bất đồng về việc thực hiện quyền

và nghĩa vụ pháp lý của họ [11, tr.174].

Tranh chấp phát sinh từ hoạt động thu phí BHTG chủ yếu là tranh chấp giữa

tổ chức BHTG và tổ chức tham gia BHTG liên quan đến việc xác định mức phí

BHTG, thu phí BHTG, nghĩa vụ đóng phí BHTG của tổ chức tín dụng. Tranh chấp

này chưa được đề cập trong các văn bản pháp luật về hoạt động BHTG, Luật trọng

tài thương mại năm 2010, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tranh chấp phát sinh từ

hoạt động BHTG rất đặc trưng nên cần đòi hỏi phải có những phương thức giải

quyết tranh chấp phù hợp. Mặc dù các văn bản pháp luật chưa đề cập đến việc giải

quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thu phí BHTG, tuy nhiên có thể thấy

rằng dù áp dụng phương thức giải quyết tranh chấp nào cũng cần đảm bảo các yêu

cầu như: phù hợp với tính chất của quan hệ tranh chấp, đảm bảo tối đa quyền của

các bên tranh chấp, duy trì sự ổn định hoạt động của ngành tài chính – ngân hàng

bằng các tạo niềm tin cho người gửi tiền. Từ những yêu cầu đặt ra đó, mặc dù pháp

luật khơng cụ thể hóa cách giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thu phí

BHTG nhưng có thể áp dụng phương thức giải quyết tranh chấp như:

+ Xác định là tranh chấp mang tính chất hành chính: bên bị vi phạm có thể

khiếu nại hoặc khiếu kiện hành chính để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải

quyết như Ngân hàng nhà nước Việt Nam mà cụ thể là Thống đốc Ngân hàng Nhà

nước hoặc áp dụng cơ chế tài phán hành chính tại Tòa án hành chính.

+ Xác định là tranh chấp mang tính chất dân sự: các bên tranh chấp có thể

lựa chọn phương thức thương lượng, hòa giải hoặc giải quyết bằng tổ chức tài phán

Nhà nước như tại Tòa án hoặc Trọng tài thương mại. Việc áp dụng phương thức giải

quyết bằng thương lượng, hòa giải, Trọng tài thương mại thể hiện việc đề cao quyền

tự định đoạt của các bên tranh chấp.

Tại Luật BHTG Việt Nam không quy định cụ thể loại tranh chấp nào được

giải quyết bằng phương thức cụ thể nào. Tuy nhiên, Điều 36 Luật BHTG có nói đến

việc khiếu nại về BHTG, qua Điều luật thì việc giải quyết khiếu nại đối với quyết

định, hành vi hành chính về BHTG được thực hiện theo quy định của pháp luật về

khiếu nại. Việc giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi của tổ chức BHTG



50



là tổ chức BHTG hoặc Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hoặc có thể khơi

kiện tại Tòa án [20].

Thiết nghĩ, việc giải quyết các tranh chấp trong hoạt động BHTG cũng như

hoạt động thu phí BHTG cần được quy định cụ thể trong pháp luật về BHTG để có

cơ chế giải quyết đúng đắn nhất, phù hợp nhất, hiệu quả nhất khi các bên xảy ra

tranh chấp trong hoạt động BHTG.

2.2. Pháp luật điều chỉnh hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi

2.2.1. Quy định pháp luật về điều kiện thực hiện việc chi trả bảo hiểm tiền gửi

Hoạt động trả tiền bảo hiểm của BHTGVN được quy định rõ ràng bơi các

văn bản pháp quy đã được Thủ tướng Chính phủ, Thống đốc NHNN ban hành từ khi

thành lập tổ chức này. Hiện nay, các vấn đề liên quan đến trả tiền bảo hiểm được quy

định tại Luật BHTG (Luật số 06/2012/QH13) được ban hành ngày 18/6/2012, có hiệu

lực từ ngày 01/01/2013; Nghị định số 68/2013/NĐ-CP ngày 28/6/2013 của Chính phủ

quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật BHTG; Quyết định số 1394/QĐ-TTg

ngày 13/8/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập BHTG Việt Nam và quy

định chức năng, nhiệm vụ của BHTG Việt Nam; Điều lệ về tổ chức và hoạt động

của BHTG Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 1395/QĐ-TTg ngày

13/8/2013 của Thủ tướng Chính phủ.

Khoản 8 Điều 13 Luật BHTG quy định “Chi trả tiền bảo hiểm cho người

được BHTG…” là một trong những nghĩa vụ của tổ chức BHTG.

Các vấn đề cụ thể về trả tiền bảo hiểm được quy định tại Mục 4 Chương III

Luật BHTG gồm: Điều 22 về thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm, Điều

23 về thời hạn trả tiền bảo hiểm, Điều 24 về hạn mức trả tiền bảo hiểm, Điều 25 về

số tiền bảo hiểm được trả, Điều 26 về thủ tục trả tiền bảo hiểm, Điều 27 về xử lý số

tiền gửi vượt hạn mức trả tiền bảo hiểm, Điều 28 về thu hồi số tiền bảo hiểm phải

trả từ tổ chức tham gia BHTG.

Khoản 8 Điều 3 Quyết định số 1394/QĐ-TTg, khoản 3 Điều 8 và khoản 8

Điều 9 Điều lệ về tổ chức và hoạt động của BHTG Việt Nam quy định: “Chi trả và

ủy quyền chi trả tiền bảo hiểm cho người được BHTG theo quy định của Luật BHTG



51



và các văn bản pháp luật có liên quan” là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn, nội

dung hoạt động của BHTGVN.

Khoản 12 Luật BHTG và khoản 12 Quyết định số 1394/QĐ-TTg, khoản 6

Điều 8 và khoản 12 Điều 9 Điều lệ về tổ chức và hoạt động của BHTGVN ban hành

kèm theo Quyết định số 1395/QĐ-TTg quy định về nhiệm vụ, quyền hạn, nội dung

hoạt động của BHTGVN:

Tiếp nhận hỗ trợ theo ngun tắc có hồn trả từ ngân sách nhà

nước theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ hoặc vay của TCTD, tổ

chức khác có bảo lãnh của Chính phủ trong trường hợp nguồn vốn của

tổ chức BHTG tạm thời không đủ để trả tiền bảo hiểm; tiếp nhận các

nguồn tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài để tăng

cường năng lực hoạt động.

Thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm (được hướng dẫn bơi Điều 8

Thông tư 24/2014/TT-NHNN:

1. Nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm phát sinh kể từ thời điểm Ngân hàng

Nhà nước có văn bản chấm dứt kiểm sốt đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt

áp dụng hoặc văn bản không áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng

thanh tốn mà tổ chức tín dụng là tổ chức tham gia BHTG vẫn lâm vào

tình trạng phá sản hoặc Ngân hàng Nhà nước có văn bản xác định chi

nhánh ngân hàng nước ngoài là tổ chức tham gia BHTG mất khả năng chi

trả tiền gửi cho người gửi tiền. 2. Tại văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt

hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc văn bản không áp dụng các biện

pháp phục hồi khả năng thanh toán quy định tại khoản 1 Điều này phải

nêu rõ việc tổ chức tín dụng khơng khơi phục được khả năng thanh tốn

(lâm vào tình trạng phá sản) để làm cơ sơ cho việc trả tiền BHTG.

Từ những quy định trên có thể thấy pháp luật về BHTG quy định rất rõ khi

nào được chi trả BHTG cho người gửi tiền.

Chi trả tiền gửi được bảo hiềm là biện pháp cuối cùng mà tổ chức BHTG tiến

hành để bảo vệ người gửi tiền và góp phần đảm bảo sự phát triển an toàn, lành



52



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NỘI DUNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG THU PHÍ VÀ CHI TRẢ BẢO HIỂM TIỀN GỬI CỦA CƠ QUAN BẢO HIỂM TIỀN GỬI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×