Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THU PHÍ, CHI TRẢ BẢO HIỂM TIỀN GỬI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG THU PHÍ, CHI TRẢ BẢO HIỂM TIỀN GỬI

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THU PHÍ, CHI TRẢ BẢO HIỂM TIỀN GỬI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG THU PHÍ, CHI TRẢ BẢO HIỂM TIỀN GỬI

Tải bản đầy đủ - 0trang

một giới hạn nhất định trong việc chi trả tiền bồi thường và chỉ bồi thường với

những khoản tiền gửi nhất định. Điều này cho thấy sự khác biệt cơ bản giữa bảo

hiểm tiền gửi và cơ chế bảo lãnh trọn gói. Trong cơ chế bảo lãnh trọn gói, khi tổ

chức huy động tiền gửi bị phá sản, Chính phủ đứng ra thanh tốn tồn bộ số tiền

gửi cho người nhận tiền gửi. BHTG là cam kết công khai của tổ chức BHTG đối

với tổ chức tham gia BHTG về việc tổ chức BHTG cam kết trả tiền gửi cho người

gửi tiền tại các tổ chức tham gia BHTG bao gồm phần gốc và lãi, trong trường hợp

tổ chức tham gia BHTG bị chấm dứt hoạt động hoặc mất khả năng thanh tốn cho

người gửi tiền [17]. Cam kết cơng khai này được thể hiện dưới hình thức một hợp

đồng bảo hiểm gồm có ba đối tượng: tổ chức BHTG, tổ chức tham gia BHTG và

người gửi tiền. Việc phát triển hoạt động BHTG về quy mô nhằm nâng cao hiệu

quả của hoạt động tài chính tiền tệ quốc gia trong nền kinh tế phát triển và hội

nhập là một khách quan.

Hoặc BHTG là loại hình bảo hiểm, theo đó bảo đảm nghĩa vụ chi trả trong

tương lai các khoản tiền gửi cho người gửi tiền tại các tổ chức tham gia BHTG khi

các tổ chức này gặp rủi ro dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh tốn [25, tr.36].

BHTG có thể hiểu là một loại hình bảo hiểm với những đặc điểm riêng khác với các

loại hình bảo hiểm khác. Hiện nay pháp luật về BHTG một số nước (My, Hàn

Quốc, Đài Loan...) không đưa ra khái niệm về BHTG nói chung mà chỉ xác định

mục tiêu, mơ hình BHTG, liệt kê các hoạt động của tổ chức BHTG.

Ở nước ta BHTGVN được thành lập trong bối cảnh nền kinh tế nước ta

chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường

định hướng xã hội chủ nghĩa. Pháp lệnh ngân hàng ban hành năm 1990 chuyển hoạt

động của hệ thống ngân hàng từ một cấp sang hai cấp, theo đó Ngân hàng Nhà nước

(NHNN) thực hiện quản lý nhà nước trong hoạt động ngân hàng, các hoạt động kinh

doanh do các TCTD thực hiện. Sự phát triển nhanh về quy mơ, loại hình và hình

thức sơ hữu của các TCTD đã tạo thêm nhiều lựa chọn cho người tiêu dùng nhưng

rủi ro tiềm ẩn cũng tăng lên. Hàng loạt Hợp tác xã tín dụng đổ vỡ đầu thập niên 90

đã để lại hậu quả trong nhiều năm sau đó về mặt kinh tế, chính trị - xã hội tại một số



8



địa phương. Sự không ổn định của hệ thống ngân hàng đã nổi lên như một vấn đề

khó khăn đối với các quốc gia, đặc biệt là ơ các quốc gia đang phát triển và phát

triển, trong đó có Việt Nam. Để đối phó với tình trạng này, Chính phủ nhiều quốc

gia, trong đó có nước ta đã thực hiện những biện pháp để đưa hệ thống ngân hàng

trơ lại trạng thái hoạt động lành mạnh phát triển ổn định. Một trong những biện pháp

đó là Luật Bảo hiểm tiền gửi và hình thành tổ chức BHTG Việt Nam. Khoản 1 Điều 4

Luật BHTG năm 2012 của Việt Nam định nghĩa về BHTG như sau: “BHTG là sự

bảo đảm hoàn trả tiền gửi cho người được bảo hiểm tiền gửi trong hạn mức trả tiền

bảo hiểm khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi lâm vào tình trạng mất khả năng chi

trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản”. Hay nói cách khác, BHTG là việc tổ

chức BHTG cam kết với tổ chức tham gia BHTG về việc sẽ thanh toán một khoản

tiền (hạn mức chi trả bảo hiểm tùy theo quy định pháp luật của mỗi nước) cho người

gửi tiền, khi tổ chức tham gia BHTG bị mất khả năng thanh toán và chấm dứt hoạt

động. Cam kết này được thực hiện bằng hợp đồng bảo hiểm. Trong quan hệ này bao

gồm ba chủ thể đó là: người được BHTG, tổ chức tham gia BHTG và tổ chức BHTG.

b/ Vai trò của bảo hiểm tiền gửi

Trong hoạt động ngân hàng, nếu niềm tin của người gửi tiền vào hệ thống tài

chính – ngân hàng bị khủng hoảng, điều đó khơng chỉ ảnh hương đến hoạt động của

một tổ chức tín dụng đơn lẻ mà còn tác động đến tồn bộ nền kinh tế. Một quốc gia

có rất nhiều kênh huy động vốn khác nhau: huy động từ nguồn vốn đầu tư trực tiếp

nước ngoài; huy động từ các nguồn viện trợ của nước ngoài và các tổ chức phi

Chính phủ… Thế nhưng để nền kinh tế quốc gia thực sự có thể phát triển ổn định

lâu dài thì nguồn vốn đó phải là nguồn vốn trong nước, được huy động từ chính nội

lực của quốc gia. Nguồn vốn được huy động từ vốn tiết kiệm trong dân cư khơng

những lớn mà còn có tính ổn định cao, thời hạn dài và cũng là nguồn vốn ổn định

cho đầu tư phát triển dài hạn. Nhưng tiền gửi của dân cư lại phụ thuộc vào sự phát

triển của hệ thống ngân hàng, nếu ngân hàng hoạt động tốt, hiệu quả, đảm bảo an

toàn cho các khoản tiền gửi của người dân, đồng thời lại có thể trả lãi thỏa đáng, tạo

các điều kiện thuận lợi cho việc gửi tiền và rút tiền thì chắc chắn ngân hàng đó sẽ

huy động được tối đa tiền gửi từ dân cư.



9



Để góp phần tạo dựng và củng cố niềm tin của dân chúng vào ngân hàng

đồng thời thúc đẩy sự phát triển chung của hệ thống ngân hàng, BHTG ra đời với

các vai trò cụ thể:

Thứ nhất, BHTG có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ người gửi tiền, nâng

cao niềm tin của công chúng đối với hệ thống tài chính quốc gia. Việc bảo vệ người

gửi tiền mà trên hết là những người gửi tiền nhỏ lẻ, ít hiểu biết về tài chính. Khi

người dân thiếu lòng tin vào hệ thống tài chính – ngân hàng thì trước hết hệ thống

tài chính ngân hàng sẽ bị ảnh hương và sau đó là tồn bộ nền kinh tế của quốc gia

cũng bị ảnh hương nghiêm trọng. Người dân sẽ phản ứng bằng cách như rút tiền ồ

ạt từ hệ thống ngân hàng, chuyển sang đầu cơ tích trữ các loại tài sản khác như

vàng, ngoại tệ,… khiến cho dòng tiền khơng được đổ vào sản xuất, Chính phủ khó

kiểm sốt thị trường và gặp vướng mắc trong điều hành chính sách tiền tệ quốc gia.

Bơi lẽ trong nền kinh tế thị trường, bảo bệ người tiêu dùng nói chung và người gửi

tiền nói riêng là yêu cầu đặt ra đối với mỗi chính phủ. Bảo vệ người tiêu dùng là để

đảm bảo quyền lợi của người dân trong xã hội dân sự. Do đó, BHTG là một cơng cụ

tài chính hữu hiệu được hầu hết các chính phủ sử dụng để bảo vệ tạo sự an toàn cho

người gửi tiền. BHTG giúp xây dựng niềm tin của công chúng đối với hệ thống tài

chính ngân hàng và đó là u cầu đặt ra đối với bất kỳ Chính Phủ nào trên thế giới.

Thực tiễn cho thấy, khi mà người dân khơng tin tương vào hệ thống tài chính

ngân hàng thì trước hết hệ thống tài chính ngân hàng sẽ bị ảnh hương và sau đó là

tồn bộ nền kinh tế của quốc gia cũng bị ảnh hương nghiêm trọng. Một minh chứng

cho thấy cuộc khủng hoảng tài chính My từ năm 2008 đến nay chính là cuộc khủng

hoảng niềm tin của người dân vào khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương

mại, họ đã rút tiền ồ ạt, không gửi tiền vào các ngân hàng nữa và điều này đã chứng

minh rõ nét vai trò của người gửi tiền đối với sự tồn tại, sự phát triển của hệ thống

ngân hàng. Lịch sử hoạt động tài chính ngân hàng đã xảy ra khá nhiều vụ rút tiền ồ

ạt, gây ra sự tê liệt và đổ vỡ của các ngân hàng như ơ My vào những năm 1920 1930 hay ơ châu Á năm 1997 và gần đây nhất là Anh, My (ngân hàng Northern Rock

của Anh và ngân hàng Contrywide của My). Do đó, nền kinh tế của các quốc gia

này đã bị chao đảo bơi hệ quả của khủng hồng tài chính - ngân hàng này.



10



Ở My, từ năm 1929 đến năm 1933 khi chưa ra đời cơ quan Bảo hiểm tiền gửi

liên bang My (FDIC) đã có tới 4000 ngân hàng bị đổ vỡ, nhưng nhờ có FDIC năm

1934 chỉ có 9 ngân hàng phá sản. BHTG xây dựng và củng cố niềm tin của công

chúng đối với hệ thống ngân hàng thương mại hiện nay thông qua một số hoạt động

như: Cung cấp đầy đủ hơn cho công chúng thông tin các ngân hàng; thực hiện các

nghiệp vụ kiểm tra, giám sát rủi ro đối với tổ chức tham gia BHTG; hỗ trợ các tổ

chức tham gia BHTG khi gặp khó khăn về tài chính nhằm phục hồi hoạt động của tổ

chức đó; Xử lý TCTD bị đổ vỡ; góp phần thúc đẩy và đảm bảo hoạt động tài chính,

ngân hàng phát triển an tồn, lành mạnh và nâng cao kỷ cương thị trường.

Thứ hai, hoạt động BHTG góp phần tái cấu trúc hệ thống ngân hàng. Trong

nền kinh tế thị trường, việc cạnh tranh khốc liệt giữa các ngân hàng là điều không

tránh khỏi và sự đào thải những ngân hàng yếu kém là điều tất yếu. Tuy nhiên, sự

đổ vỡ dây truyền khác với sự đổ vỡ cá biệt, sự đổ vỡ của một vài ngân hàng có thể

ảnh hương xấu đến hệ thống ngân hàng của một quốc gia. Do vậy, cơ chế tiếp nhận

và xử lý các ngân hàng “đổ vỡ” của BHTG đảm bảo cho quá trình “chọn lọc tự

nhiên” trên thực tế của các ngân hàng diễn ra suôn sẻ mà cũng không ảnh hương

đến an ninh của nền kinh tế cũng như giảm thiểu sự rối loạn của thị trường tài

chính.

Thứ ba, BHTG còn góp phần vào việc xử lý khủng hoảng tài chính, ngân

hàng. Một trong những nguyên nhân gây ra khủng hoảng tài chính, ngân hàng là

xuất hiện hiện tượng rút tiền hàng loạt. Trong khi đó hoạt động tài chính ngân hàng

là hoạt động mang tính nhạy cảm và lan truyền cao, do vậy hiện tượng đó có thể

xảy ra bất cứ lúc nào và đơi khi không hề xuất phát từ nguyên nhân do tổ chức tín

dụng đó hoạt động yếu kém. Trong trường hợp này, BHTG có thể phát huy tác dụng

triệt để giúp ngăn chặn hiện tượng đó. Như ta thấy, ơ một quốc gia, nếu hệ thống

BHTG hoạt động hiệu quả thì việc xử lý khủng hoảng tài chính ơ quốc gia đó sẽ tốt

hơn và ngược lại.

Như vậy, có thể thấy vai trò của hoạt động BHTG đối với huy động tiền gửi

tiết kiệm thơng qua hệ thống ngân hàng có tầm quan trọng đặc biệt, nhất là đối với

những nước có nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển lớn trong khi vốn huy động tiết



11



kiệm còn hạn chế.

1.1.1.2. Chủ thể của quan hệ bảo hiểm tiền gửi

Như đã nêu ơ trên, hoạt động BHTG được thực hiện với ba chủ thể: tổ chức

BHTG, tổ chức tham gia BHTG và người được BHTG.

a/ Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi

Người tham gia BHTG ơ đây chính là tổ chức tham gia BHTG. Chủ thể

(người) tham gia bảo hiểm là tổ chức, cá nhân đứng ra yêu cầu bảo hiểm và giao kết

hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm. Theo quy định của pháp luật, người

tham gia bảo hiểm cần có các điều kiện nhất định như năng lực chủ thể, bảo đảm

được các quy định về quyền lợi có thể được bảo hiểm. Trong hoạt động BHTG, chủ

thể tham gia BHTG là TCTD hoặc tổ chức tài chính khác được thành lập theo quy

định của pháp luật, nhận tiền gửi của cá nhân, tổ chức trong xã hội tham gia quan hệ

bảo hiểm tiền gửi với tổ chức BHTG.

Tương ứng với hai mơ hình BHTG bắt buộc và tự nguyện trên thế giới hiện

nay là hai mức độ tham gia BHTG của các tổ chức tham gia BHTG. Tùy thuộc vào

mục đích của hệ thống bảo hiểm tiền gửi ơ mỗi nước mà sự tham gia bảo hiểm là

bắt buộc hay tự nguyện. Có hai giới hạn về tổ chức tham gia BHTG: Thứ nhất, nếu

mục đích của BHTG chỉ nhằm bảo vệ hệ thống thanh toán thì đối tượng tham gia

BHTG chỉ nên giới hạn ơ các ngân hàng thương mại và các tổ chức nhận tiền gửi

được phép mơ các tài khoản thanh toán. Thứ hai, nếu mục đích của hệ thống BHTG

đa dạng hơn, khơng chỉ là bảo vệ hệ thống thanh tốn mà còn bảo vệ người gửi tiền

nhỏ, khuyến khích người dân tiết kiệm, ổn định hệ thống tài chính thì sự tham gia

BHTG là bắt buộc đối với mọi tổ chức có nhận tiền gửi.

Với một hệ thống BHTG cơng khai thì sự tham gia của các tổ chức tín dụng

này là bắt buộc nhằm tạo sân chơi bình đẳng cho các TCTD. Việc tham gia BHTG

bắt buộc cũng sẽ tạo nguồn vốn cho tổ chức BHTG. Hơn nữa, rủi ro sẽ được phân

bổ cho các đối tượng đa dạng hơn, tránh tình trạng chỉ có ngân hàng và các TCTD

yếu kém mới mua BHTG còn các ngân hàng, tổ chức tín dụng hoạt động tốt thì

khơng mua bảo hiểm. Từ đó giảm mức độ rủi ro của bản thân tổ chức BHTG và



12



gánh nặng của Chính phủ trong việc hỗ trợ tài chính chi trả bảo hiểm. Qua đó ta có

thể thấy rõ vai trò của BHTG và rõ ràng việc bắt buộc tham gia BHTG là quyền và

lợi ích khơng chỉ của tổ chức nhận tiền gửi mà còn thể hiện một nền kinh tế phát

triển của một quốc gia.

Tuy nhiên, trong một hệ thống BHTG không công khai, khơng bắt buộc thì

việc xác định đối tượng tham gia BHTG thường rất khó khăn. Các TCTD hoạt động

tốt, có uy tín và khả năng tài chính tốt rõ ràng thường có xu hướng khơng muốn

tham gia BHTG. Việc làm này giúp cho TCTD tiết kiệm một khoản phí trong q

trình hoạt động nhưng khơng hề làm giảm những lợi ích gián tiếp mà tổ chức đó

được hương lợi từ các hoạt động BHTG. Trong khi đó, các TCTD hoạt động yếu

kém và tiềm ẩn nhiều rủi ro lớn vẫn là những tổ chức hăng hái đóng phí và tham gia

hệ thống này bơi nếu rủi ro xảy ra thì những TCTD yếu, kém này sẽ được những hỗ

trợ nhất định về tài chính mà bản thân tổ chức này không thể giải quyết được. Và

rắc rối sẽ xảy ra đối với hệ thống BHTG khơng cơng khai này đó là khi có q

nhiều tổ chức tín dụng yếu kém tham gia BHTG và đổ vỡ dẫn đến sự kiện BHTG.

Khi đó, nguyên tắc bảo hiểm nói chung là số đơng bù số ít bị phá vỡ và áp lực tài

chính dồn vào tổ chức BHTG. Vì vậy, việc xác định phạm vi và giới hạn đối tượng

tham gia BHTG cũng như áp dụng nguyên tắc bắt buộc tham gia BHTG đối với tất cả

các tổ chức được phép nhận tiền gửi của công chúng là điều vô cùng cần thiết. Việc

làm này sẽ tạo ra cơ chế hỗ trợ chéo giữa các tổ chức thành viên tham gia BHTG.

Chủ thể tham gia BHTG là các TCTD và các tổ chức tài chính khác có nhận

tiền gửi của cá nhân, tổ chức trong xã hội. Pháp luật của hầu hết các nước đều quy

định các tổ chức này phải tham gia BHTG. Nói cách khác, chủ thể tham gia BHTG

theo cách thức bắt buộc. Việc các tổ chức nhận tiền gửi sử dụng tiền gửi huy động

từ công chúng nhằm thực hiện các hoạt động tín dụng và các hoạt động kinh doanh

khác để tìm kiếm lợi nhuận có thể gặp rủi ro, từ đó dẫn đến gây thiệt hại về tài sản

của người gửi tiền do vậy quy định các tổ chức tham gia BHTG bắt buộc phải nộp

phí BHTG trong trường hợp này là thực sự cần thiết nhằm đảm bảo quyền lợi hợp

pháp cho người gửi tiền. Từ quy định này cũng thấy được sự khác biệt giữa hoạt



13



động bảo hiểm thương mại với hoạt động BHTG. Trong hoạt động bảo hiểm thương

mại thì còn tùy thuộc vào nhận thức vào rủi ro đối với con người hoặc tài sản mà cá

nhân, tổ chức có thể tham gia bảo hiểm hoặc không tham gia. Việc tham gia bảo

hiểm thương mại khơng có sự ràng buộc mà hồn toàn xuất phát từ sự tự nguyện

tham gia quan hệ bảo hiểm, tự do thể hiện ý chí của mình trên cơ sơ pháp luật nhằm

đạt các mục tiêu của mình. Cùng với sự bắt buộc tham gia khi nhận tiền gửi là sự

bắt buộc nộp phí đối với các khoản tiền gửi được bảo hiểm. Đây là một đặc điểm

đặc trưng trong quan hệ BHTG.

b/ Người được bảo hiểm tiền gửi

Khi nghiên cứu các chủ thể tham gia quan hệ BHTG, cần thiết phải phân biệt

chủ thể tham gia BHTG với chủ thể thụ hương từ hoạt động này. Khác với quan hệ

bảo hiểm thương mại hay quan hệ bảo hiểm xã hội, chủ thể thụ hương trong quan

hệ BHTG không phải là chủ thể tham gia BHTG – chủ thể đã nộp phí BHTG – mà

là người gửi tiền tại các tổ chức tham gia BHTG. Người gửi tiền tại các tổ chức tài

chính nhận tiền gửi có thể là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác. Mục đích gửi tiền

của các chủ thể cũng rất đa dạng như để thực hiện nghĩa vụ thanh tốn, tiết kiệm,

tích lũy... Sơ dĩ chủ thể được hương quyền lợi bảo hiểm không phải là các tổ chức

tham gia BHTG đã nộp phí BHTG theo quy định của pháp luật BHTG mà chính là

những cá nhân gửi tiền tại các tổ chức nhận tiền gửi tham gia BHTG là do mục tiêu

ban đầu của BHTG là bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền nhỏ lẻ, thường gửi tiền để

tiết kiệm, ít có khả năng tiếp cận và phân tích thơng tin thị trường, về hoạt động của

tổ chức nhận tiền gửi nên những đối tượng này dễ gặp rủi ro. Đây cũng có thể được

coi là một chính sách đãi ngộ của mỗi quốc gia nhằm khuyến khích, hỗ trợ loại hình

các doanh nghiệp, tổ chức nhỏ và vừa này phát triển. Trong bất cứ quan hệ bảo hiểm

nào thì việc xác định chủ thể được thụ hương quyền lợi bảo hiểm khi có sự kiện bảo

hiểm phát sinh cũng là vấn đề vô cùng quan trọng, việc xác định chủ thể được thụ

hương quyền lợi bảo hiểm phụ thuộc vào việc xác định đối tượng được bảo hiểm.

Hiện nay trên thế giới phổ biến có hai cách xác định đối tượng được BHTG:

Cách thứ nhất dựa trên tiêu chí loại tiền gửi. Điển hình là pháp luật BHTG của Canada,



14



theo đó, hệ thống BHTG của quốc gia này chỉ thực hiện bảo hiểm đối với các loại tiền

gửi sau: tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán và tiền gửi có kỳ hạn. Cách xác định thứ

hai phổ biến hơn và được hầu hết các quốc gia trên thế giới áp dụng hiện nay đó là căn

cứ vào người gửi tiền. Theo đó, BHTG sẽ bảo hiểm cho khoản tiền gửi của những

nhóm đối tượng có hạn chế nhất định trong việc tiếp cận nền kinh tế nói chung và tiếp

cận, thu thập, phân tích thơng tin về hoạt động và điều hành của các tổ chức huy động

tiền gửi nói riêng. Những người này hầu hết là những người lao động có thu nhập thấp,

sử dụng tiền tiết kiệm của mình gửi vào tổ chức huy động tiền gửi nhằm lấy lãi trên

cơ sơ niềm tin dành cho các tổ chức đó. Pháp luật của hầu hết các quốc gia đều đưa ra

danh sách các đối tượng được thụ hương quyền lợi bảo hiểm khi có tiền gửi được bảo

hiểm tại các TCTD tham gia BHTG.

Để hoạt động BHTG hiệu quả và nhắm đến đúng đối tượng cần bảo hiểm,

một số quốc gia đã áp dụng kết hợp cả hai tiêu chí xác định trên đó là cả loại tiền

gửi và đối tượng gửi tiền. Ví dụ như pháp luật về BHTG của Việt Nam quy định:

chỉ bảo hiểm đối với các loại tiền gửi là đồng Việt Nam của cá nhân gửi tại tổ chức

tham gia bảo hiểm tiền gửi dưới hình thức tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ

hạn, tiền gửi tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu của cá nhân...; và

không áp dụng cho các loại tiền gửi tại tổ chức tín dụng của cá nhân là người sơ

hữu trên 5% vốn điều lệ của chính TCTD đó,... Mặc dù được hương quyền và lợi

ích thơng qua hoạt động BHTG nhưng dưới góc độ pháp lý, chủ thể được hương

quyền lợi BHTG lại không liên quan đến những quy định hay có bất cứ nghĩa vụ

nào phải thực hiện trong quá trình thực thi nghiệp vụ BHTG.

c/ Tổ chức bảo hiểm tiền gửi

Tổ chức BHTG được pháp luật quy định có tư cách pháp nhân, có các quyền

và nghĩa vụ pháp lý trong quan hệ pháp luật BHTG. Các quyền và nghĩa vụ pháp lý

này được quy định trong văn bản pháp luật về hoạt động BHTG. Tùy theo quy định

pháp luật của các quốc gia, tổ chức BHTG có thể chỉ thực hiện hoạt động bảo hiểm

thuần túy hoặc tổ chức còn có quyền kiểm tra, giám sát tổ chức tham gia BHTG,

cảnh báo sớm những rủi ro có nguy cơ xảy ra đối với tổ chức tham gia BHTG, hỗ

trợ tài chính cho tổ chức tham gia BHTG... Tổ chức BHTG thực hiện hoạt động thu



15



phí và chi trả BHTG theo quy định của pháp luật.

Đối với hoạt động thu phí bảo hiểm tiền gửi thì chủ thể thực hiện nghiệp vụ

thu phí chính là tổ chức tài chính nhà nước có tên gọi tương đối khác nhau tùy theo

pháp luật của từng quốc gia. Đó có thể là cơ quan BHTG trực thuộc Chính phủ như quy định của pháp luật về hoạt động BHTG của Việt Nam hoặc Tổng Công ty

(Công ty) BHTG như ơ các nước như Canada, Hoa Kỳ,…

Hoạt động chi trả BHTG là hoạt động thể hiện mối quan hệ giữa cơ quan

BHTG và người gửi tiền. Nói như vậy là bơi vì hoạt động chi trả BHTG là hoạt động

mà ơ đó trách nhiệm chi trả BHTG là của cơ quan BHTG còn người thụ hương chính

là người gửi tiền chứ khơng phải là người nộp phí BHTG – tổ chức tham gia BHTG.

Đây là điểm đặc trưng để phân biệt giữa BHTG với bảo hiểm thương mại mà ơ đó

người thụ hương cũng chính là người nộp phí bảo hiểm.

Hoạt động chi trả BHTG là hoạt động mà tổ chức BHTG thực hiện cam kết

thanh toán cho người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm, bao gồm cả gốc và

lãi, theo một mức độ nhất định, tùy thuộc vào quy định về hạn mức chi trả của tổ

chức BHTG ơ mỗi quốc gia. Mục đích của hoạt động này là nhằm đảm bảo quyền

lợi cho người gửi tiền cả về mặt giá trị lẫn hình thức. Về mặt giá trị, mức độ chi trả

sẽ phụ thuộc vào chính sách BHTG của mỗi quốc gia khi xem xét đến các chỉ tiêu

như GDP bình quân đầu người, lạm phát... nhằm hạn chế rủi ro đạo đức trong hoạt

động BHTG. Về mặt hình thức, hoạt động chi trả được thực hiện kịp thời, thuận tiện

và an toàn. Đây là hoạt động sẽ ảnh hương trực tiếp đến tâm lý của người gửi tiền,

niềm tin của họ đối với tổ chức tham gia BHTG cũng như với tổ chức BHTG và do

đó, ảnh hương tới tính an tồn của tồn bộ hệ thống tài chính.

Ngay từ khi mới ra đời, mục đích của tổ chức bảo hiểm tiền gửi (BHTG) là

bảo vệ người gửi tiền, góp phần đảm bảo sự phát triển an tồn, lành mạnh hoạt động

ngân hàng. Q trình hoạt động và phát triển của hệ thống BHTG tại các quốc gia

trên thế giới cho thấy việc tổ chức trả tiền bảo hiểm một cách hiệu quả là một trong

những điểm quan trọng trong việc xây dựng một hệ thống BHTG hiệu quả. Trả tiền

bảo hiểm của tổ chức BHTG là nghiệp vụ quan trọng của tổ chức BHTG; thể hiện

trách nhiệm, quyền hạn giữa tổ chức BHTG với tổ chức tham gia BHTG, với người



16



gửi tiền, với hệ thống ngân hàng và toàn xã hội. Khi hoạt động chi trả của tổ chức

BHTG kịp thời, giúp quyền lợi của người gửi tiền được đảm bảo, tạo tâm lý an tâm

đối với người dân có tiền gửi, ngăn chặn được việc rút tiền hàng loạt tại các tổ chức

tham gia BHTG khác, góp phần đảm bảo cho hệ thống ngân hàng hoạt động được

ổn định. Từ đó, khẳng định được tầm quan trọng và ảnh hương của tổ chức BHTG

đối với an toàn hệ thống ngân hàng.

1.1.1.3. Các loại tiền gửi được bảo hiểm tiền gửi

Pháp luật về BHTG ơ các nước thường quy định rất rõ ràng về các loại tiền

được bảo hiểm, không được bảo hiểm để tránh những cách hiểu không thống nhất

về loại tiền gửi được bảo hiểm. Điều 4 Luật BHTG của Đài Loan quy định về các

loại tiền gửi là đối tượng được bảo hiểm như: Tiền gửi bằng Séc; Tiền gửi có kỳ

hạn; Tiền gửi không kỳ hạn; Tiền gửi tiết kiệm; Các quy tín thác và các loại tiền gửi

khác mà được các cơ quan chức năng có thẩm quyền cơng nhận là có thể bảo hiểm

(những khoản tiền gửi và quy tín thác bằng nội tệ của Đại Loan).

Hoặc theo Luật công ty BHTG Canada, tại Điều 12 có quy định cơng ty

BHTG sẽ bảo hiểm các khoản tiền gửi tại các tổ chức thành viên trừ các trường hợp

sau: Tiền gửi khơng được thanh tốn trong Canada hoặc khơng bằng tiền Canada;

Khoản tiền gửi mà Hoàng gia Canada là bên được ưu tiên trả nợ; Bất kỳ khoản tiền

nào vượt quá 60 nghìn đơ la.

Như vậy, pháp luật các nước thường chỉ bảo hiểm cho tiền gửi bằng nội tệ,

tiền gửi bằng ngoại tệ, tiền gửi liên ngân hàng, tiền gửi của các cơ quan nhà nước

không được bảo hiểm.

Tại Việt Nam, theo Luật BHTG thì các loại tiền được bảo hiểm được quy

định rõ tại Điều 18, như: Tiền gửi được bảo hiểm là tiền gửi bằng đồng Việt Nam

của cá nhân gửi tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi dưới hình thức tiền gửi có kỳ

hạn, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín

phiếu và các hình thức tiền gửi khác theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng,

trừ các loại tiền gửi quy định tại Điều 19 của Luật này (Điều 18 Luật BHTG 2012).

Tuy nhiên, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật (Nghị định 68/2013/NĐ-CP



17



và Thơng tư 24/2014/TT-NHNN) khơng quy định rõ về hình thức tiền gửi khác là

những hình thức nào (trái phiếu, tiền gửi của cá nhân có đăng ký kinh doanh, tiền

ký quy, tiền gửi trong tài khoản thanh tốn… có phải là hình thức tiền gửi khác

thuộc tiền gửi được bảo hiểm hay khơng). Vì vậy, một số tổ chức tham gia BHTG

cũng như trong nội bộ BHTGVN còn có các quan điểm khác nhau trong việc xác

định về tiền gửi được bảo hiểm. Ngoài ra, khi xác định tiền mua trái phiếu có ghi

danh của cá nhân thuộc tiền gửi được bảo hiểm cũng khó khăn trong việc tính và

thu phí trong trường hợp có sự chuyển đổi chủ sơ hữu trái phiếu từ cá nhân cho tổ

chức và ngược lại.

Như vậy, tiền gửi dùng để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của người gửi

tiền như tiền gửi để ký quy, ký cược, đặt cọc không được bảo hiểm. Cùng với đó, tiền

gửi bằng ngoại tệ, pháp luật Việt Nam vẫn giữ nguyên quan điểm không để ngoại tệ

là đối tượng của BHTG. Việc bảo hiểm cho các loại tiền bằng nội tệ cũng do phần lớn

các giao dịch được thực hiện bằng nội tệ. Đây là một trong các biện pháp bảo vệ đồng

nội tệ, chống đơ la hóa và hỗ trợ cho chính sách quản lý ngoại hối của quốc gia. Tuy

nhiên, đây cũng là rào cản của thu hút vốn đầu tư nước ngoài, của hội nhập kinh tế

quốc tế. Nếu mơ rộng đối tượng được BHTG là ngoại tệ có thể tạo cơ hội cho các

ngân hàng thu hút được nguồn ngoại tệ lớn trong nhân dân, khuyến khích lượng kiều

hối lớn từ nước ngoài chuyển về cho đầu tư, phát triển kinh tế nước nhà.

1.1.2. Khái niệm, mục đích, mơ hình hoạt động thu phí bảo hiểm tiền gửi

1.1.2.1. Khái niệm về hoạt động thu phí bảo hiểm tiền gửi

Trước hết chúng ta cần hiểu Phí bảo hiểm là gì? Có thể hiểu Phí bảo hiểm là

khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải đóng cho doanh nghiệp bảo hiểm theo thời

hạn và phương thức do các bên thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

Phí bảo hiểm được xem là một nguồn thu tài chính vơ cùng quan trọng để

tích lũy vốn và đảm bảo hoạt động của tổ chức. Còn trong hoạt động BHTG thì Phí

BHTG được hiểu như thế nào?

Theo luật BHTGVN: Phí BHTG là khoản tiền mà tổ chức tham gia bảo hiểm

tiền gửi phải nộp cho tổ chức BHTG để bảo hiểm cho tiền gửi của người được



18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THU PHÍ, CHI TRẢ BẢO HIỂM TIỀN GỬI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG THU PHÍ, CHI TRẢ BẢO HIỂM TIỀN GỬI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×