Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thực trạng của vấn đề trước khi được áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:

Thực trạng của vấn đề trước khi được áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:

Tải bản đầy đủ - 0trang

+ Khơng biết tóm tắt bài tốn, lúng túng khi nêu câu lời giải, có khi học

sinh nêu lại hỏi của bài tốn. Khơng hiểu thuật ngữ tốn học nên khơng biết nên

cộng hay trừ dẫn đến nói sai, viết sai phép tính, sai đơn vị, viết sai đáp số.

Ví dụ: Khi dạy bài tập 2 trang 118

“Lúc đầu tổ em có 6 bạn, sau đó có thêm 3 bạn nữa. Hỏi tổ em có tất cả mấy

bạn?”

- Một số học sinh chỉ biết làm đúng phép tính và đáp số nhưng chưa biết

viết câu lời giải :

- Có học sinh chỉ biết viết câu lời giải, làm đúng phép tính và đáp số

nhưng chưa viết đúng tên đơn vị (danh số):

- Khi làm bài học sinh chỉ ghi câu lời giải và phép tính còn khơng ghi đáp số:

- Có bài thì nhìn qua tưởng đúng hết nhưng phần viết kết quả của phép tính

có ghi tên đơn vị trong dấu ngoặc, còn ở đáp số thì ghi kết quả với tên đơn vị

cũng có trong dấu ngoặc.

+ Một số ít học sinh khơng hiểu nội dung bài tốn có lời văn dẫn đến

khơng làm được bài.

+ Trình bày bài làm còn chưa sạch đẹp.

+ Một số em làm đúng nhưng khi cô hỏi lại không biết trả lời. Chứng tỏ

các em chưa nắm được một cách chắc chắn cách giải bài tốn có lời văn.

+ Khi về nhà học sinh lại chưa được bố mẹ quan tâm đến bài vở của con

do đi làm vất vả hoặc muốn quan tâm nhưng không biết dạy con sao cho đúng

phương pháp dẫn đến giáo viên rất vất vả khi dạy đến dạng bài tốn có lời văn.

Kết quả điều tra tại lớp 1C- năm học 20117- 2018:

Bài tập số 2 (Trang 118) - Tiết 1 của bài: Giải tốn có lời văn

Lúc đầu tổ em có 6 bạn, sau đó có thêm 3 bạn nữa. Hỏi tổ em có tất

cả mấy bạn?

Tổng

Giỏi

Khá

Đạt yêu cầu

Chưa đạt

số

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

HS

42

12

28,5

10

23,8

11

26,2

9

21,5

Về cách trình bày:

Tổng

số HS

42



HS viết đúng

câu lời giải

SL

%

9

21,5



HS viết đúng

phép tính

SL

%

15

35,7



HS viết đúng

đáp số

SL

%

11

26,2



HS giải đúng cả

3 bước

SL

%

7

16,6



* Nguyên nhân của thực trạng :

+ Về phía học sinh:

Do học sinh mới bắt đầu làm quen với dạng tốn này nên tư duy của các

em còn mang tính trực quan làchủ yếu. Mặt khác ở giai đoạn này các em

chưa đọc thông viết thạo, các em đọc còn đánh vần nên khi đọc xong bài tốn

rồi nhưng các em khơng hiểu bài tốn nói gì, thậm chí có những em đọc đi đọc



lại nhiều lần nhưng vẫn chưa hiểu bài tốn. Vì vậy học sinh khơng làm đúng

dạng tốn có lời văn cũng là điều dễ hiểu .

+ Về phía giáo viên:

Giáo viên chưa chuẩn bị tốt cho các em khi dạy những bài trước. Những

bài nhìn hình vẽ viết phép tính thích hợp, đối với những bài này hầu như học

sinh đều làm được nên giáo viên tỏ ra chủ quan, ít nhấn mạnh hoặc không chú ý

lắm mà chỉ tập trung vào dạy kĩ năng đặt tính, tính tốn của học sinh mà qn

mất rằng đó là những bài tốn làm bước đệm, bước khởi đầu của dạng tốn có

lời văn sau này. Đối với giáo viên dạy lớp 1 khi dạy dạng bài nhìn hình vẽ viết

phép tính thích hợp, cần cho học sinh quan sát tranh tập nêu bài toán và thường

xuyên rèn cho học sinh thói quen nhìn hình vẽ nêu bài tốn. Có thể tập cho

những em học sinh giỏi tập nêu câu trả lời cứ như vậy trong một khoảng thời

gian chuẩn bị như thế thì đến lúc học đến phần bài tốn có lời văn học sinh sẽ

khơng ngỡ ngàng và các em sẽ dễ dàng tiếp thu, hiểu và giải đúng.

+ Về phía phụ huynh học sinh:

Một ngun nhân khơng nhỏ có ảnh hưởng đến việc giải tốn có lời văn

của học sinh là do phụ huynh thiếu quan tâm đến việc học của con em mình ở

nhà.

Trên đây là những nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng chất lượng mơn

tốn nói chung và giải tốn có lời văn nói riêng ở lớp 1. Trước thực trạng như

vậy tơi suy nghĩ : “Phải làm gì để thay đổi thực trạng này? Và hướng dẫn các

em giải

tốn có lời văn bằng cách nào?”

Qua nhiều năm dạy lớp 1, tơi đã tìm hiểu, suy nghĩ kết hợp với sự tiếp thu

những đóng góp của tổ chun mơn, của đồng nghiệp, tôi xin đưa ra: “Một số

kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 giải tốn có lời văn.” mà tơi đã thực hiện và

thấy có hiệu quả đối với lớp tôi và với khối 1 của trường.

3. Các giải pháp

3.1. Nắm chắc nội dung chương trình giải tốn có lời văn:

Để dạy tốt mơn Tốn lớp 1 nói chung, “Giải tốn có lời văn ” nói riêng,

điều đầu tiên là mỗi giáo viên phải nắm chắc nội dung chương trình, sách giáo

khoa.

a)Trong chương trình tốn lớp 1 giai đoạn đầu học sinh còn đang học chữ

nên chưa thể đưa ngay “Bài tốn có lời văn”. Mặc dù đến tuần 23, học sinh mới

được chính thức học cách giải “Bài tốn có lời văn” song chúng ta đã ngầm

chuẩn bị từ xa cho việc làm bài này ngay từ bài: “Phép cộng trong phạm vi 3”

(Luyện tập) ở tuần 7.

*Bắt đầu từ tuần 7 cho đến tuần 16 trong hầu hết các tiết dạy về phép cộng

trong phạm vi (không quá) 10 đều có các bài tập thuộc dạng “Nhìn tranh nêu

phép tính” ở đây học sinh được làm quen với việc:

- Xem tranh vẽ.

- Nêu bài toán bằng lời.

- Nêu câu trả lời.



- Điền phép tính thích hợp (với tình huống trong tranh).

* Tiếp theo đó, kể từ tuần 17, học sinh được làm quen với việc đọc tóm tắt

rồi nêu đề tốn bằng lời, sau đó nêu cách giải và tự điền số và phép tính thích

hợp vào dãy năm ơ trống. Ở đây khơng còn tranh vẽ nữa.

* Việc ngầm chuẩn bị cho học sinh các tiền đền để giải tốn có lời văn là

chuẩn bị cho học sinh cả về viết câu lời giải và phép tính. Chính vì vậy ngay sau

các bài tập “Nhìn tranh điền phép tính thích hợp vào dãy 5 ơ trống” chúng ta

chịu khó đặt thêm cho các em những câu hỏi để các em trả lời miệng.

* Tiếp theo, trước khi chính thức học “Giải tốn có lời văn” học sinh được

học bài nói về cấu tạo của một bài tốn có lời văn (gồm hai thành phần chính là

những cái đã cho (đã biết) và những cái phải tìm (chưa biết). Vì vậy có thể giải

thích cho học sinh “Bài tốn là gì?” nêu mục tiêu của tiết này là chỉ giới thiệu

cho các em hai bộ phận của một bài toán:

+ Những cái đã cho (dữ kiện)

+ Và cái phải tìm (câu hỏi)

Bài này giúp các em hiểu sâu hơn về cấu tạo của “Bài tốn có lời văn”.

b) Các loại tốn có lời văn trong chương trình chủ yếu là hai loại tốn

“Thêm- Bớt” thỉnh thoảng có biến tấu một chút:

- Bài toán “Thêm” thành bài toán gộp, chẳng hạn: “An có 4 quả bóng,

Bình có 3 quả bóng. Hỏi cả hai bạn có mấy quả bóng? dạng này khá phổ biến.

- Bài toán “Bớt” thành bài toán tìm số hạng, chẳng hạn: “Lớp 1A có 35

bạn, trong đó có 20 bạn nữ. Hỏi lớp 1A có bao nhiêu bạn nam?”, dạng này ít gặp

vì hơi khó (trước đây dạy ở lớp 2).

3.2. Dạy “Giải tốn có lời văn” ở lớp 1:

3.2.1. Một số dạng tốn có lời văn ở lớp 1:

a) Điền phép tính thích hợp: Học sinh chỉ việc nhìn tranh và trả lời câu hỏi

rồi điền phép tính.

Ví dụ như tranh minh họa bài tập 4/b (sách giáo khoa trang 69):

b) Viết số thích hợp vào chỗ chấm để có bài tốn:

Bài tốn: Có … bạn, có thêm … bạn đang đi tới. Hỏi tất cả có bao nhiêu bạn?

Với bài này, học sinh chỉ việc nhìn tranh trả lời câu hỏi của giáo viên rồi

điền vào số vào đề bài thành bài tốn có lời văn

c) Yêu cầu học sinh điền số vào tóm tắt và tìm lời giải, phép tính rồi điền

vào đáp số.

Ví dụ: Lúc đầu tổ em có 6 bạn, sau đó có thêm 3 bạn nữa. Hỏi tổ em có tất cả

mấy bạn?

Tóm tắt

Bài giải

Có :…… bạn

…………………………………

Thêm :…… bạn

………………………………..

Có tất cả :…… bạn?

Đáp số:…. bạn.

d) Điền số vào tóm tắt rồi tự tìm lời giải và giải:

Ví dụ (bài 1 trang 121/ Tốn 1):

Trong vườn có 12 cây chuối, bố trồng thêm 3 cây chuối. Hỏi có tất cả bao



nhiêu cây chuối ?

Tóm tắt



:…… cây

Thêm

:…… cây

Có tất cả :…… cây ?

e) u cầu học sinh tự tóm tắt và tìm cách giải:

Ví dụ như bài số 4 (trang 135):

Lớp 1A vẽ được 20 bức tranh, lớp 1B vẽ được 30 bức tranh. Hỏi cả hai lớp

vẽ được bao nhiêu bức tranh?

Nhìn chung những dạng tốn trên cũng phù hợp với học sinh những cũng

có phần

gây khó khăn cho một số học sinh trung bình, học sinh yếu. Đây cũng là yêu cầu

đối với giáo viên làm sao cho học sinh hiểu được bài tốn và giải được thơng

qua bước phân tích đề bài sau đây.

3.2.2. Nhận biết cấu tạo bài tốn có lời văn:

Tiết 84: Bài tốn có lời văn. Học sinh được học với đề tốn chưa hồn thiện.

Tiếp tục sử dụng kĩ năng quan sát tranh, học sinh đã rất thành thạo ở giai đoạn 2

vậy nên hoàn thiện nốt đề bài tốn là điều khơng khó đối với học sinh lớp tôi.

Tiếp tục tôi giảng để học sinh nắm chắc một bài tốn có lời văn ở lớp 1 gồm 2

phần: phần cho biết, phần hỏi.

Gồm 4 bài tốn có u cầu khác nhau:

* Viết số thích hợp vào chỗ chấm để có bài tốn:

Bài tốn 1: Có …bạn, có thêm… bạn đang đi tới. Hỏi có tất cả bao nhiêu bạn ?

Bài tốn 2: Có … con, có thêm … con thỏ đang chạy tới. Hỏi có tất cả bao

nhiêu con thỏ ?

* Bài tốn còn thiếu câu hỏi (cái cần tìm):

Bài tốn 3: Viết tiếp câu hỏi để có bài tốn.

Có 1 gà mẹ và có 7 gà con.

Hỏi ………………………………………………….?

* Bài tốn còn thiếu cả số cả câu hỏi (cái đã cho và cái cần tìm)

Bài tốn 4: Có … con chim đậu trên cành, có thêm….con chim bay đến.

Hỏi ………………………………………………….?

- Dạy dạng tốn này tôi phải xác định làm thế nào giúp các em điền đủ được

các dữ kiện (cái đã cho và cái cần tìm) còn thiếu của bài tốn và bước đầu các

em hiểu được bài tốn có lời văn là phải đủ các dữ kiện; đâu là cái đã cho và đâu

là cái cần tìm.

Bước 1: GV đặt câu hỏi - HS trả lời và điền số còn thiếu vào chỗ chấm để có

bài tốn. Giáo viên kết hợp dùng phấn màu ghi số còn thiếu vào bài tốn mẫu

trên bảng lớp.

Bước 2: Hướng dẫn các em xác định cái đã cho và cái cần tìm. (dữ kiện và yêu

cầu bài toán). Dùng phấn màu gạch chân dữ kiện và từ quan trọng (tất cả) của

bài tốn.

Sau khi hồn thành 4 bài toán giáo viên nên cho các em đọc lại và xác



định bài 1 và bài 2 thiếu cái đã cho; bài 3 thiếu cái cần tìm; bài 4 thiếu cả cái đã

cho và cái cần tìm. Qua đó giúp các em hiều được đây là dạng tốn có lời văn

phải có đủ dữ kiện.

3.2.3. Quy trình giải tốn có lời văn:

Gồm các bước:

- Tìm hiểu bài tốn.

- Tóm tắt bài tốn.

- Tìm đường lối (cách) giải bài tốn

- Trình bày bài giải (gồm 3 phần: câu lời giải, phép tính, đáp số).

- Kiểm tra lại bài giải

Ví dụ 1: Dạy bài: Giải bài tốn có lời văn

Bài 1 trang 117: An có 4 quả bóng, Bình có 3 quả bóng. Hỏi cả hai bạn có mấy

quả bóng ?

Bước 1: Tìm hiểu bài

Tơi u cầu học sinh:

- Quan sát tranh minh hoạ trong SGK

- Đọc bài toán.

- Đặt câu hỏi tìm hiểu bài:

+ Bài tốn cho biết gì? (An có 4 quả bóng)

+ Bài tốn còn cho biết gì nữa? (Bình có 3 quả bóng)

+ Bài tốn u cầu tìm gì? (Cả hai bạn có mấy quả bóng?)

Tơi gạch chân dữ kiện, u cầu của bài tốn.

Bước 2: Tóm tắt bài tốn.

Tơi hướng dẫn để học sinh hồn thiện tóm tắt của bài toán. Lúc này học sinh

chỉ cần dựa vào bài tốn cho biết gì và bài tốn hỏi gì là đã hồn thiện tóm tắt.

An có

: 4 quả bóng.

Bình có

: 3 quả bóng.

Cả hai bạn có: . . . quả bóng ?

- Yêu cầu học sinh đọc lại tóm tắt.

Bước 3: Tìm đường lối (cách) giải bài tốn

a) Hướng dẫn học sinh viết lời giải:

Tôi hỏi học sinh: Dựa vào đâu ta viết được lời giải của bài tốn ?

Học sinh: Dựa vào câu hỏi của bài tốn

Tơi nhấn mạnh cho học sinh: Bài tốn hỏi cái gì thì trả lời ngay các đó.

Tơi có thể hướng dẫn các em viết câu lời giải theo một số cách sau:

Cách 1: Hướng dẫn cho HS chọn cách viết câu lời giải gần với câu hỏi nhất đó là:

- Đọc kĩ câu hỏi.

- Bỏ chữ Hỏi đầu câu hỏi.

- Thay chữ mấy bằng chữ số.

- Thêm vào cuối câu chữ là và dấu hai chấm

Để có câu lời giải: “Cả hai bạn có số quả bóng là:”

Cách 2: Đưa từ “quả bóng” ở cuối câu hỏi lên đầu thay thế cho từ “Hỏi” và



thêm từ Số (ở đầu câu), là ở cuối câu để có “Số quả bóng hai bạn có tất cả là”

Cách 3: Dựa vào dòng cuối cùng của câu tóm tắt coi đó là “từ khố” của câu lời

giải rồi thêm thắt chút ít. Ví dụ: Từ dòng cuối của tóm tắt “ Cả hai bạn có :

….quả bóng ?”. Học sinh viết câu lời giải: “Cả hai bạn có là:”

Cách 4: Sau khi học sinh tính xong: 4 + 3 = 7 (quả bóng). Giáo viên chỉ vào 7

rồi hỏi: “ 7 quả bóng này là của ai? ” (số bóng của hai bạn có tất cả). Từ câu trả

lời của học sinh ta giúp các em chỉnh sửa thành câu lời giải: “Số bóng của hai

bạn có tất cả là”…

Vậy là có rất nhiều câu lời giải khác nhau, yêu cầu học sinh chọn câu lời giải

thích hợp nhất, khơng nên bắt học sinh nhất nhất phải viết theo lời giải theo một

kiểu.

b) Hướng dẫn học sinh viết phép tính:

Tơi nêu tiếp: “Muốn biết cả hai bạn có mấy quả bóng ta làm phép tính gì? (tính

cộng); Mấy cộng với mấy? (4 + 3 = 7) hoặc 4 cộng 3 bằng mấy? (4 + 3 = 7);

Tiếp tục tôi gợi ý để học sinh nêu tiếp “ 7 này là 7 quả bóng” nên ta viết “quả

bóng” vào dấu ngoặc đơn: 4 + 3 = 7 (quả bóng).

Lưu ý bài tốn hỏi cái gì thì ghi tên đơn vị cái đó (Ví dụ: hỏi cả hai bạn có

mấy quả bóng ? Tên đơn vị (quả bóng) hoặc hỏi có tất cả bao nhiêu con vịt ?

Tên đơn vị (con vịt)….

c) Hướng dẫn học sinh viết đáp số:

Tôi cho học sinh biết: đáp số viết kết quả của phép tính, danh số khơng cần viết

trong ngoặc đơn

Bước 4: Trình bày bài giải:

Bài giải

Cả hai bạn có số quả bóng là:

4 + 3 = 7 (quả bóng)

Đáp số: 7 quả bóng

Bước 5: Kiểm tra lại bài giải

Sau khi học sinh làm bài xong yêu cầu các em kiểm tra lại bài xem đã

đúng chưa (có thể quan sát tranh lại để kiểm tra)

Ví dụ 2: Bài tập 2 (trang 169- Toán 1)

Bài toán : Một thanh gỗ dài 97 cm, bố em cưa bớt đi 2 cm. Hỏi thanh gỗ còn lại

dài bao nhiêu xăng-ti- mét?

* Thực hiện theo 4 bước hướng dẫn giải bài tốn có lời văn trên như sau:

Bước 1: Tìm hiểu đề bài

- Cho học sinh đọc đề nhiều lần để xác định dạng bài tập.

* Đối với học sinh khá, giỏi có thể hỏi:

Bài tốn cho biết gì? (Một thanh gỗ dài 97 cm, bố em cưa bớt 2 cm).

Bài toán hỏi gì? Hay bài tốn u cầu gì? (Thanh gỗ còn lại dài bao nhiêu xăngti-mét ?)

* Đối với học sinh yếu có thể hỏi:

+ Thanh gỗ dài bao nhiêu xăng-ti-mét? (97cm)

+ Bố em cưa bớt bao nhiêu xăng-ti-mét? (2cm)

+ Bài tốn hỏi gì? (Thanh gỗ còn lại dài bao nhiêu xăng- ti- mét?)



Bước 2: Tóm tắt bài tốn

(Có thể hướng dẫn học sinh tóm tắt bằng lời, bằng sơ đồ đoạn thẳng hoặc bằng

hình vẽ)

Tóm tắt

Thanh gỗ : 97 cm

Cưa bớt : 2 cm

Còn lại

: … cm?

Bước 3: Hướng dẫn cách giải và tìm lời giải:

- Đối với học sinh khá giỏi:

+ Bài tốn hỏi gì? (Thanh gỗ còn lại dài bao nhiêu xăng- ti- mét?)

+ Muốn biết thanh gỗ còn lại dài bao nhiêu ta làm thế nào? (lấy: 97 - 2 = 95

(cm)

- Đối với học sinh yếu cần hỏi :

+ Bài tốn cho ta biết những gì? (Một thanh gỗ dài 97 cm, bố em cưa bớt 2 cm)

+ Bài tốn hỏi gì? (Thanh gỗ còn lại dài bao nhiêu xăng- ti- mét?)

+ Muốn biết thanh gỗ còn lại dài bao nhiêu ta làm phép tính gì ? (phép tính trừ)

+ Vì sao? (vì có từ “còn lại”)

+ Gọi học sinh nêu phép tính trừ? (97 - 2 = 95 (cm)

- Tìm lời giải cho bài tốn là dựa vào câu hỏi: Hỏi thanh gỗ còn lại dài bao

nhiêu xăng- ti- mét? Chúng sẽ bỏ đi tiếng “hỏi” và “bao nhiêu xăng –ti- mét”

thêm từ “là” thì ta được lời giải như sau: “Thanh gỗ còn lại dài số xăng ti mét

là:”

Bước 4: Trình bày bài giải

Bài giải

Thanh gỗ còn lại dài số xăng ti mét là:

97 - 2 = 95 (cm)

Đáp số: 95 cm.

Bước 5: Kiểm tra lại bài giải

*Đối với giải bài tốn theo tóm tắt:

Tơi cho học sinh đọc tóm tắt đề tốn, nhìn tóm tắt nêu đề tốn, phân tích

đề và giải bài toán như trên.

3.3. Sử dụng tốt các phương pháp dạy học trong dạy giải tốn có lời văn:

a. Phương pháp trực quan: Giáo viên tổ chức, hướng dẫn học sinh hoạt

động trực tiếp trên các hiện tượng, sự vật cụ thể để dựa vào đó nắm bắt được

kiến thức, kĩ năng của mơn Tốn.

b. Phương pháp thực hành luyện tập: là phương pháp dạy học liên quan

đến hoạt động thực hành luyện tập các kiến thức, kĩ năng của môn học, chiếm

50% tổng thời gian dạy học Tốn. Vì vậy phương pháp này được thường xuyên

sử dụng trong dạy học Tốn nói chung và dạy giải tốn có lời văn nói riêng. Cụ

thể cho học sinh luyện tập ở: + Làm trên bảng lớp

+ Làm trên bảng con của học sinh.

+ Luyện tập Toán trong vở .

+ Làm trong phiếu học tập.



c. Phương pháp gợi mở vấn đáp: là phương pháp sử dụng một hệ thống các câu

hỏi để hướng dẫn học sinh suy nghĩ, lần lượt trả lời từng câu hỏi, từng bước dần

đến cách trình bày bài tốn có lời văn.

d. Phương pháp giảng giải minh hoạ: Phương pháp này dùng lời nói để giải

thích, kết hợp với các phương tiện trực quan để hỗ trợ cho việc giải thích.

đ. phương pháp tổ chức trò chơi học tập:

Đối với học sinh lớp 1 các em vừa chuyển sang một môi trường mới được

học tất cả các môn học, trong khi đó ở Mầm non các em chủ yếu là được vui

chơi. Cho nên khi tiếp thu kiến thức mới các em chưa hứng thú, say mê, dễ

nhàm chán. Vì vậy tổ chức trò chơi học tập trong các mơn học nói chung và mơn

Tốn nói riêng là rất cần thiết, bỡi vì sau khi học sinh đã nỗ lực tự giác giải

quyết các nhiệm vụ của bài học, nếu giáo viên chuyển sang một hình thức tổ

chức học tập mới (trò chơi học tập) thì các em được chuyển từ trạng thái “căng

thẳng” sang một trạng thái ‘hưng phấn” sẽ phù hợp với độ tuổi các em hơn. Để

tổ chức trò chơi học tập mang lại kết quả thì giáo viên cần biết tổ chức trò chơi

vào lúc nào trong mỗi tiết dạy, thiết kế trò chơi phải đảm bảo những u cầu gì,

cách tổ chức trò chơi ra sao, chuẩn bị các đồ dùng, thiết bị phục vụ cho trò chơi

để đạt được hiệu quả và đem lại sự hứng thú say mê học tập cho học sinh.

e. Tổ chức cho học sinh học nhóm cộng tác:

Trước khi giải một bài tốn có lời văn giáo viên có thể cho học sinh tự

suy nghĩ tìm ra cách giải bài tốn sau đó có thể thảo luận trong nhóm xem cách

giải đã chính xác chưa, có cần sự giúp đỡ của bạn khơng, rồi mới trình bày bài

giải.

3.4. Sử dụng hợp lý, có hiệu quả đồ dùng dạy học, đặc biệt là đồ dùng

trực quan:

- Dạy giải toán có lời văn giáo viên cho học sinh quan sát đồ dùng trực

quan đem lại hứng thú cho học sinh. Lớp học thoải mái, vui vẻ, giờ học đạt hiệu

quả cao. Học sinh ham thích học tốn.

- Học sinh được học tập qua ứng dụng công nghệ thông tin bằng hình ảnh

được trình chiếu một cách sinh động tạo sự hứng thú cho các em tập trung hơn.

Tuy nhiên giáo viên không nên lạm dụng quá vào việc dạy học.

3.5. Tích cực, kiên trì và chủ động, sáng tạo đổi mới phương pháp dạy học.

- Chuẩn bị bài trước khi lên lớp rất quan trọng nên việc xây dựng mục tiêu

bài học cũng như sắp xếp, tổ chức các hoạt động dạy - học cần được coi trọng.

- Ngoài ra giáo viên cần mạnh dạn trao đổi những vấn đề khó, những vấn

đề mới với ban giám hiệu, đồng nghiệp để được tư vấn.

- Trong giảng dạy có nhiều học sinh nhận thức chậm. Giáo viên phải kiên

trì, khơng nên khắt khe mà nên tạo điều kiện cho các em được tham gia vào các

hoạt động học tập, được chia sẻ để tự tin hơn…

- Giáo viên tích cực đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá học sinh

thường xuyên trao đổi với giáo viên trong tổ, tổ chức các chuyên đề, sinh hoạt

chuyên môn mới, chia sẻ, giải quyết kịp thời các khó khăn.

- Tăng cường khảo sát chất lượng học sinh ngay tại các giờ học, buổi học,



tuần học.

- Chấm bài thường xuyên, có thể nhận xét trực tiếp hoặc ghi nhận xét vào

vở học sinh, động viên học sinh kịp thời.

3.6. Cách đánh giá học sinh:

Cách đánh giá trong dạy học Toán cần phải đánh giá toàn bộ kiến thức kĩ

năng cơ bản của học sinh. Giáo viên cần đổi mới cách đánh giá nhằm thúc đẩy

quá trình dạy học cá nhân. Đồng thời động viên, khuyến khích động viên học

sinh chăm học, tự tin hứng thú trong học tập, khi đánh giá giáo viên cần lưu ý

đánh giá cần đảm bảo tính khách quan cơng bằng, đánh giá học sinh theo quy

định, theo hướng động viên có sự chú ý tới sự phát triển của mỗi học sinh, phối

hợp các hình thức kiểm tra đánh giá để đánh giá đúng việc nắm kiến thức và kĩ

năng trình bày, diễn đạt của học sinh. Ngồi việc giáo viên đánh giá, giáo viên

cần tổ chức cho học sinh tự đánh giá mình và đánh giá bạn.

Ví dụ: khi dạy bài tập 2 (trang 169- Toán 1)

Bài toán: Một thanh gỗ dài 97 cm, bố em cưa bớt đi 2 cm. Hỏi thanh gỗ còn lại

dài bao nhiêu xăng-ti- mét?

Sau khi học sinh làm xong bài tập 2 ở sách giáo khoa, giáo viên cho học

sinh đổi vở để các em đánh giá nhận xét lẫn nhau. Bằng cách khác giáo viên

cho học sinh tự đánh giá bài của mình thơng qua việc huy động kết quả và chữa

bài của giáo viên trước lớp.

3.7. Dự giờ thăm lớp:

Khi dạy giải tốn có lời văn tơi hay đi dự giờ và khảo sát học sinh, sau đó

tơi cùng đồng nghiệp nghiên cứu bài làm trên giấy của học sinh, phân tích tiết

dạy tìm ra và cùng nhau phân tích nguyên nhân học sinh mắc sai lầm hoặc

không nắm được bài để rút ra kinh nghiệm nâng cao chất lượng cho học sinh.

3.8. Phối hợp chặt chẽ với phụ huynh học sinh:

- Thường xuyên liên hệ trao đổi thông tin đa chiều giữa gia đình với nhà

trường để quan tâm, giúp đỡ và có biện pháp kịp thời giúp học sinh học khơng bị

sa sút.

- Phối hợp với gia đình và người đỡ đầu của học sinh, có những thơng tin

trao đổi kịp thời để giáo dục học sinh về những kiến thức mơn tốn mà các em

chưa đạt được, tư vấn phương pháp dạy và kiểm soát học sinh.

- Khi giao bài về nhà dạng giải tốn có lời văn tơi thấy các em còn lúng

túng, tơi đã mời cha mẹ học sinh đến cùng dự giờ xem con học bài, cùng giáo

viên giúp đỡ học sinh trong thời gian đầu mới học giải tốn có lời văn. Muốn

học sinh thực hiện tốt các yêu cầu trước hết mỗi bậc cha mẹ, thầy cô phải trở

thành tấm gương về nghị lực trong mắt trẻ.

4. Kết quả đạt được:

So với thời gian đầu lớp tơi có nhiều em còn làm sai, chưa biết trình bày

câu lời giải, chưa làm đúng phép tính, đáp số thì sau khi áp dụng “Một số kinh

nghiệm giúp học sinh lớp 1 giải tốn có lời văn” vào việc dạy tốn có lời văn tơi

thấy đa số các em đã nắm được trình tự các bước để giải bài tốn có lời văn. Đến

cuối năm học 2018- 2019, tôi ra đề cho học sinh làm bài như sau:



Minh có 10 cái kẹo, bố cho Minh thêm 10 cái kẹo nữa. Hỏi Minh có tất cả

bao nhiêu cái kẹo ?

Lớp tôi đạt kết quả như sau:

Tổng

Giỏi

Khá

Đạt yêu cầu

Chưa đạt

số

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

HS

42

20

47,6

15

35,7

7

16,7

0

0

Về cách trình bày:

Tổng số HS

42 em

Bài khảo sát

đầu Bài tập

số 2 (Trang

118)



HS viết đúng HS viết đúng HS viết đúng

câu lời giải

phép tính

đáp số



HS giải đúng

cả 3 bước



SL



%



SL



%



SL



%



SL



%



10



23,8



15



35,7



5



11,9



12



28,6



III. PHẦN KẾT LUẬN

1. Kết luận:

Việc hình thành kĩ năng giải tốn có lời văn cho học sinh lớp 1 là một việc

hết sức quan trọng. Nó tạo nền móng để học sinh giải toán ở các lớp trên với bài

tốn có nhiều lời giải, nhiều phép tính. Đó là con đường tốt nhất để trẻ chiếm

lĩnh những thao tác trí tuệ nhằm phát triển chính bản thân mình .

Qua việc nghiên cứu và áp dụng một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1

giải tốn có lời văn, tơi thấy học sinh học tập tích cực, sơi nổi hơn. Học sinh

nắm bài một cách chủ động và bền vững hơn. Tơi thấy học sinh biết giải và trình

bày bài giải bài tốn có lời văn có một phép cộng hoặc một phép trừ thành thạo

và đạt kết quả khá cao.

Sáng kiến này được áp dụng tại trường Tiểu học Ngọc Trạo- Bỉm Sơn.

Đối tượng áp dụng là các lớp khối 1, đặc biệt là học sinh lớp 1C.

Nếu biết vận dụng linh hoạt thì “Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1

giải tốn có lời văn” có thể áp dụng tất các lớp ở khối 1 trong các trường tiểu

học và có thể áp dụng một phần đối với học sinh lớp trên của bậc tiểu học.

2. Kiến nghị, đề xuất:

Để nâng cao hơn nữa chất lượng dạy giải tốn có lời văn cho học sinh lớp

1, tơi có một số kiến nghị sau:

- Cần có thêm tài liệu tham khảo, nâng cao cho giáo viên và học sinh để bổ

sung phương pháp dạy, đáp ứng nhu cầu dạy– học.

- Tổ chức nhiều hơn nữa các buổi sinh hoạt chuyên môn để học hỏi kinh

nghiệm của các đồng nghiệp.

- Duy trì tốt việc thao giảng, thăm lớp, dự giờ giáo viên trong trường.

- Các cấp lãnh đạo thường xuyên, quan tâm hơn nữa tới giáo viên và học



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thực trạng của vấn đề trước khi được áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×