Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
II.Thùc tr¹ng vÊn ®Ò:

II.Thùc tr¹ng vÊn ®Ò:

Tải bản đầy đủ - 0trang

“khó” vừa “khơ”.

- Học sinh thụ động, ít phát biểu ,có chăng cũng chỉ là những học sinh khá

,giỏi hoạt động hoặc các em chỉ bắt buộc trả lời câu hỏi mà khơng có sự liên kết

thành đoạn,diễn đạt lủng củng,ý tưởng nghèo nàn....

c. Thực trạng của trường:

- Trường Tiểu học Ba Đình là trường ở trung tâm thị xã Bỉm Sơn nên số

lượng học sinh tương đối đông, điều kiện sinh hoạt về vật chất cũng tương đối

ổn định. Đa số các em được quan tâm, chăm sóc của gia đình rất tốt, nên khả

năng tiÕp thu bµi tèt. Hơn nữa các em cũng được tiếp xúc môi trường rộng

nên sự bộc lộ mình cũng tương đối tốt. Chỉ có một số ít các em ở khu xa trung

t©m thÞ còn hạn chế về giao tiếp, chưa tự tin về bản thân

Qua khảo sát làm bài Tập làm văn dạng bài kể ngắn lần 1(dựa vào kết quả

đợt kiểm tra định kì giữa học kì 1) kết quả đạt cha cao. C th nh sau:

Kết quả đạt đợc:

S s



Hon thnh



S hs

35



33



T l



94%



Cha hon thnh



S hs



T l



2



6%



Nhìn vào bảng số liƯu ta nhËn thÊy ngay r»ng tØ lƯ học

sinh hồn thành chiếm số nhiều nhưng trên thực chất các em mới chỉ bước vào

ngưỡng hoàn thành.

Điều này cũng dễ hiều bởi vì vốn từ của các em còn nghèo, cơ hội để các

em rèn luyện còn ít. Là một giáo viên đứng lớp Hai, tôi rất băn khoăn làm thế

nào để giúp các em thực hiện được mục tiêu đề ra? Làm thế nào để các em u

thích mơn học? Bản thân tôi luôn sẽ cố gắng trong từng tiết học, ln gần gũi

học sinh để tìm ra biện pháp hữu hiệu nhất, nhằm nâng cao chất lượng học tập

4



của lớp mình. Đây là lý do để tơi chọn đề ti ny.

III. giải pháp thực hiện

Trc tỡnh hỡnh thc t của lớp, cũng là tình hình chung của học sinh lớp Hai,

tơi nghĩ rằng những lời nói, những việc làm, những bài giảng của thầy, cô ảnh

hưởng rất lớn đến các em. làm sao để ngay từ đầu các em có được một nền tảng

tri thức, trang bị cho các em vốn sống, vốn hiểu biết vững chắc. Tất cả những

điều đó đã thơi thúc tơi đi sâu tìm tòi, nghiên cứu và dành nhiều công sức. Tôi

đã tiến hành các giải pháp như sau:

1. Tìm hiểu nội dung chương trình Tập làm văn lớp 2

* Chương trình Tập làm văn lớp Hai gồm ba dạng bài cơ bản:

- Dạng bài: luyện tập về nghi thức lời nói.

- Dạng bài: Trả lời câu hỏi.

- Dạng bài về kể (tả)ngắn.

Ba dạng bài này có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ cho nhau theo trình

tự từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp.

Ví dụ: khi dạy Tập làm văn tuần 1 bài:Tự giới thiệu.Câu và bài(SGK lớp 2

trang 12).Tôi dạy từng bài như sau:

Bài tập 1:Trả lời câu hỏi(Tên em là gì?em quê ở đâu?em học lớp nào?em thích

học mơn nào....?)

-Ở dạng bài này tơi cho các em thực hành giới thiệu về mình sau đó là hỏi bạn

và đáp lại lời bạn.

-Với bài này các em được đứng trước lớp ,được thể hiện mình trước các bạn nen

tơi cho các em thoải mái nói (dựa trên những câu hỏi gợi ý).

Bài tập 2:Sau khi làm được bài tập 1 sang bài tập 2 các em vận dung những điều

đã học ở bài 1 nói lại những điều các em biết về bạn.

-Bài này các em được thực hành kĩ năng nói về bạn của mình.

Bài tập 3:Kể lại nội dung mỗi bức tranh bằng 1 đến 2 câu để tạo thành 1 câu

chuyện

- Với dạng bài này hệ thống bài tập được nâng lên dần,từ dễ đến khó.

5



- Đế làm được bài này các em phải có vốn kiến thức đã được học ở 2 bài trước.

2.Dạy tốt các bài tập ở các tuần đầu để làm nền tản vững chắc học các bài

khó hơn ở các tuần tiếp theo.

- Như chúng ta đã biết ở các tuần 1,5,8.Các em chủ yếu làm các dạng bài tập

như “trả lời câu hỏi”

-Đến các tuần tiếp theo các dạng bài tạp được nâng lên.Như vậy muốn học sinh

làm tốt các dạng bài tập ở những tuần 10,13,15,16,34.Tôi đã chú trọng dạy học

sinh ở những bài đầu nói đủ câu,rõ ý bằng chính lời của học sinh.Sau các tuần

đầu tơi nâng dần kiến thức theo chương trình SGK bên cạnh đó tơi ln động

viên khích lệ các em nói thành câu.

Ví dụ:Khi dạy bài “nói lời cảm ơn,xin lỗi” tuần 4(SGK trang 38).Tôi thực hiện

như sau:

Bài tập 1:Nội dung yeu cầu “nói lời cảm ơn ” của em trong các trường hợp:

- Bạn cùng lớp cho em đi chung áo mưa.

- Cô giáo cho em mượn quyển sách.

- Em bé nhặt hộ em chiếc bút rơi.

Với mỗi tình huống học sinh trả lời tơi ln uốn nắn kịp thời

+Tình huống 1: Học sinh nói”cảm ơn”.

GV:Bạn nói lời cảm ơn đã dược chưa?Câu nói đã hay chưa?

Em hãy trả lời đầy đủ hơn:Tớ cảm ơn bạn rất nhiều.

+Tình huống 2:Học sinh nói:Em cảm ơn cơ.

GV:Bạn trả lời đúng chưa?Em nào có cách nói cảm ơn

khác:Em cảm ơn cơ rất nhiều.

+Tình huống 3:Học sinh trả lời:Cảm ơn em.

GV:Em nào có cách nói khác đầy đủ hơn:Chị cảm ơn em nhiều lắm.

Bài tập 2:Nói lời “xin lỗi”của em trong các trường hợp:

- Em lỡ bước ,giẫm vào chân bạn.

- Em mải chơi,quên làm việc mẹ đã dặn.

- Em đùa nghịch,va phải một cụ già.

6



Giống như bài tập 1 tôi cho học sinh đứng lên nói rồi học sinh khác nhận xét

và sửa lỗi cho bạn mình. Cứ như thế làm cho các em có thói quen phải trả lời đủ

câu. Trả lời câu hay, đủ ý. Đây cũng là cơ sở giúp các em biết cách tiếp cận với

dạng bài Tập làm văn kể ngắn.

Bài tập 3:Yêu cầu của bài là nói 3 đến 4 câu về nội dung mỗi bức

tranh.Trong đó dùng lời “cảm ơn,xin lỗi”

- Đây là dạng bài kể theo tranh.Với dạng này trước tiên tôi cho học sinh

quan sát bức tranh,dựa theo tranh để nói lời”cảm ơn,xin lỗi”

- GV gợi ý học sinh với bức tranh nào thì cần phải nói lời “cảm ơn” (bức

tranh 1 )với bức tranh nào thì nói lời”xin lỗi”(bức tranh 2).

- Với dạng bài này ngồi những câu học sinh nói bằng ngơn ngữ của mình

tơi còn gợi ý thêm cho học sinh các từ ngữ,câu văn hay để học sinh nói

bằng nhiều câu khác nhau.Khi thực hiện bao giờ tôi cũng cho học sinh

khá giỏi thực hiện trước sau đó cho học sinh cả lớp tiến hành.

3.Dạy bài Tả ngắn trong giờ Tập làm văn

-Khi viết đoạn văn dù ngắn hay dài cũng phải đầy đủ 3 phần:

+Phần mở bài

+Phần triển khai đoạn

+Phần kết.

- Viết câu mở đầu: Giới thiệu đối tượng cần viết(Có thể diễn đạt bằng một câu).

- Phát triển đoạn văn: Kể về đối tượng: Có thể dựa theo gợi ý, mỗi gợi ý có

thể diễn đạt 2, 3 câu tùy theo năng lực học sinh.

- Câu kết thúc: Có thể viết một câu thường là nói về tình cảm, suy nghĩ ,

mong ước của em về đối tượng được nêu trong bài hoặc nêu ý nghĩa, ích lợi của

đối tượng đó đối với cuộc sống, với mọi người.

Ví dụ: Viết về một con vật:

- Con vật em định kể là con vật gì? Nó sống ở đâu?

- Hình dáng nó như thế nào?

- Hoạt động của nó có gì nổi bật? Nó đem lại lợi ích gì?

7



- Tình cảm của em đối với con vật đó?



Câu mở đầu: Giới thiệu



Nhà em có ni một con chó tên là Ki Ki.



con chó



Phát triển: Kể về con chó



Nó có bộ lơng màu vàng mượt như tơ. Đơi

mắt của nó rất sáng và đôi tai vểnh lên trông

mới đáng yêu làm sao! Nó thường nằm trước

cửa để giữ nhà.



Câu kết thúc: Tình cảm của

em đối với con chó này.



Hằng ngày, em thường cho nó ăn. Em rất yêu

quý con chó của nhà em.



4: Tăng cường củng cố,mở rộng kiến thức cho học sinh.

Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần liên hệ những nội dung kiến

thức có liên quan đến các chủ đề học tập trong các phân môn Tập đọc, Luyện

từ và câu ,chính tả với phân mơn Tập làm văn, để cung cấp thêm vốn hiểu

biết, vốn từ ngữ về sự vật, hiện tượng xoay quanh các chủ đề để học sinh có kiến

thức, khơng bỡ ngỡ khi gặp những đề bài mới chưa được luyện tập trên lớp.

Giúp học sinh có hiểu biết về đề tài, vận dụng kỹ năng thực hành để bài viết đạt

kết quả.

Ví dụ:

Khi học về chủ đề “ Ông bà”, “Cha mẹ”, “Anh em” (từ tuần 10 đến tuần

16), với rất nhiều những bài đọc thắm đượm tình cảm thương yêu trong gia đình,

cùng với những tiết học phân mơn Luyện từ và câu cung cấp, mở rộng vốn từ

8



ngữ cho học sinh, ngoài việc giúp học sinh hiểu rõ và nắm chắc người thân của

mình là những ai, ngồi việc khai thác và giáo dục tình cảm cho học sinh thơng

qua các nhân vật trong bài Tập đọc, nhấn mạnh cái hay, cái đẹp của nội dung

bài, hướng cho học sinh liên hệ đến bản thân, gia đình, người thân của mình, tơi

còn cung cấp thêm từ ngữ, hướng dẫn các em hệ thống lại, lựa chọn, ghi nhớ các

từ ngữ phù hợp với đề tài (ông bà, cha mẹ, anh em) để chuẩn bị cho bài làm văn

sắp tới (viết về người thân), tơi ln nói với các em sự cần thiết phải học thuộc

và lựa chọn những từ ngữ đã học để các em vận dụng vào bài tập làm văn, khơi

gợi và kích thích tinh thần học tập của các em.

+ Cụ thể là khi dạy phân môn Tập đọc đặc biệt là luyện đọc. Vì đọc hay, đọc

đúng giúp các em nắn chắc nội dung bài . Hơn nữa, đọc diễn cảm thì các em mới

cảm nhận được cái hay, cái đẹp của bài Tập đọc đó. Đọc tốt, đọc hay giúp cho

các em tự tin hơn trong học tập.

Khi bắt đầu bài Tập đọc bao giờ tôi cũng chú trọng phần đọc mẫu và luyện

đọc cho học sinh. Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài, tơi thường khuyến khích

học sinh suy nghĩ trả lời câu hỏi theo cảm nhận riêng của mình.Các em có thể

thêm bớt từ ngữ sao cho hay nhưng nội dung không thay đổi.Nếu các em nắm

vững nội dung bài học thì rất nhanh thuộc chuyện, thuận lợi cho tiết kể chuyện

hôm sau.

+ Đối với phân môn Luyện từ và câu:sinh lớp 2 chưa được học về lý thuyết, ngữ

pháp, các khái niệm từ và câu được hình thành thơng qua thực hành luyện tập.

Chính vì vậy, việc tăng cường sử dụng ngơn ngữ rất cần thiết trong giờ học Tập

làm văn. Bằng cách cho học sinh trao đổi với giáo viên ,học sinh trao đổi với

học sinh thông qua giao tiếp ngôn ngữ để học sinh có thêm vốn ngơn ngữ cho

bản thân.Thêm vào đó nó còn giúp học sinh nhận ra cấu tạo câu, nhằm giúp các

em khi viết câu đúng, đủ bộ phận, diễn đạt ý rõ ràng, dễ hiểu.

Ví dụ:

Dựa vào các mẫu câu được học trong phân môn Luyện từ và câu: “ Ai – là

gì?”, “ Ai – làm gì?”, “ Ai – như thế nào?”, GV hướng dẫn HS nhận biết những

9



vấn đề sau:

- Câu văn của em viết ra đã đủ hai bộ phận chưa: Bộ phận trả lời cho câu

hỏi Ai?( hoặc Cái gì?/ Con gì)?, bộ phận trả lời cho câu hỏi Là gì (hoặc Làm gì?/

Như thế nào? ( Đó chính là đảm bảo về hình thức cấu tạo).

- Người đọc, người nghe có hiểu nội dung chưa? (Đảm bảo về mặt nghĩa)

Trên cơ sở đó, giáo viên hướng dẫn học sinh viết dấu chấm câu phù hợp khi hết

câu.

+ Đối với phân mơn Chính tả: Ngồi ra tơi đặc biệt chú trọng học tốt phân mơn

Chính tả. Vì rằng nếu viết văn mà sai lỗi chính tả thì còn gì là văn. Vậy nên tôi

rất coi trọng và thường xuyên luyện rèn cho học sinh viết đúng chính tả. Khơng

những tơi quan tâm sửa lỗi cho học sinh trong từng bài học mà tơi còn quan tâm

đến chữ viết ,cách trình bày của học sinh.Vì nếu em nào viết chữ đẹp,trình bày

rõ ràng sạch,đẹp,viết đúng chính tả thì chứng tỏ em đó có khả năng viết văn tốt.

5 .Thực hiện nghiêm túc việc chấm và chữa bài

Đây là việc làm hết sức cần thiết, giúp học sinh nhận ra lỗi sai để điều

chỉnh, sửa chữa, hoàn chỉnh bài văn. Học sinh lớp 2 chưa được học và luyện tập

nhiều về từ ngữ, ngữ pháp, chắc chắn trong bài viết của các em sẽ rất nhiều lỗi

sai. Trong quá trình chấm bài, giáo viên phát hiện, giúp học sinh khắc phục, biết

lựa chọn, thay thế các từ ngữ cho phù hợp. Đối với những bài làm có ý hay

nhưng chưa hồn chỉnh, giáo viên giúp học sinh gọt giũa, trau chuốt thêm cho

bài văn được hấp dẫn hơn.

Khi sửa bài, giáo viên nên giới thiệu những bài làm hay ở năm học trước,

hoặc những bài hay của học sinh trong lớp cho các em tham khảo. Từ đó, giúp

các em nhận thấy sự khác nhau về cách diễn đạt trong cùng một đề tài để các em

hiểu rằng, những bài làm thể hiện sự suy nghĩ độc lập của cá nhân luôn được

khích lệ và tơn trọng.

6 .Phối hợp với phụ huynh học sinh

Để học sinh học phân môn Tập làm văn của lớp đạt kết quả tốt, giáo viên

cần làm tốt công tác tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh để cùng xây dựng tốt

nề nếp tự học và chuẩn bị bài ở nhà. Cụ thể như sau:

- Trong cuộc họp phụ huynh đầu năm, tôi thông báo kết quả học tập cũng

như kết quả khảo sát của các em về mọi mặt nhất là việc học phân môn Tập làm

văn của từng em, sau đó tơi tun truyền cho phụ huynh biết về vai trò quan

10



trọng của phân mơn Tập làm văn nói riêng cũng như mơn Tiếng Việt nói chung.

- Hướng dẫn phụ huynh trong việc mua sắm đồ dùng học tập của học sinh

về bút, vở viết, sách giáo khoa, các tài liệu tham khảo cũng như việc đọc thêm

sách, báo ở nhà.

- Phổ biến cho phụ huynh biết các tiêu chuẩn cụ thể khi xếp loại học lực

của học sinh từng học kỳ, cả năm học đối với mơn Tiếng Việt mà phân mơn Tập

làm văn đóng vai trò quan trọng.

- Hướng dẫn phụ huynh dựa vào các câu hỏi gợi ý giúp học sinh quan sát,

tìm hiểu bài, chuẩn bị bài ở nhà. Phụ huynh kiểm tra và thường xuyên quan tâm

sửa chữa các sai sót về bài viết cho con em mình.

- Yêu cầu phụ huynh tạo góc học tập yên tĩnh, có đủ ánh sáng, bàn ghế

đúng với tầm của các em khi ngồi học ở nhà. Phụ huynh biết khích lệ tinh thần

học tập của các em, …

iv. kiĨm nghiƯm

Sau khi sử dụng các giải pháp trên, tôi nhận thấy kết quả học tập phân

mơn Tập làm văn của lớp tơi có nhiều tiến bộ, các em thích thú, háo hức, chờ

đợi đến phân mơn Tập làm văn để thể hiện mình trước bạn bè và thầy cô giáo.

Các em rất tự tin mỗi khi khám phá, viết đoạn văn theo cách riêng của mình. Với

niềm đam mê đó, bài viết của các em đạt yêu cầu rất cao. Nhiều em diễn đạt trôi

chảy, gãy gọn, rõ ràng và hấp dẫn, phong phú hơn trong môn Tập làm văn.

Nhiều em học giỏi hơn và chất lượng môn Tiếng Việt rất khả quan. Cụ thể như

sau:

Sĩ số



Hoàn thành

Số hs



35



34



Chưa hoàn thành



Tỉ lệ

97%



Số hs



1



Tỉ lệ

3%



- Lí do một em chưa hồn thành vì sức khỏe em này khơng được tốt nên em ít

tham gia các buổi học trên lớp.



11



Hầu hết các em đã bước vào ngưỡng hoàn thành với hành trang đầy đủ kiến

thức và k nng.

Túm li Nhìn vào các bảng kết quả trên cho thấy cách tổ

chức học sinh viết đoạn ngắn theo hớng đã trình bày ở trên

giúp học sinh có kĩ năng viết đoạn chắc chắn, thành thạo,

chất lợng đoạn văn viết của học sinh tăng lên rõ rệt qua từng

đợt kiểm tra. Nếu nh đợt 1 tỉ lệ hc sinh chưa hồn thành cđa líp

thùc nghiƯm vÉn cßn 2 em( đạt 6.%) Đến đợt 2 tỉ lệ lệ cỏc em

cha hồn thành khơng còn nữa(trừ em học sinh bị ốm khụng ti lp thng

xuyờn).

Mặt khác qua quá trình dạy thực nghiệm trên lớp 2G tôi thấy

giờ học diễn ra sôi nổi. Học sinh tiêp thu bài một cách chủ

động. Song điều đáng nói hơn cả là hiện tợng nói câu không

rõ, nghĩa không trọn ý không còn nữa. Học sinh đã biết dùng

những từ ngữ giàu hình ảnh, câu viết khá sinh động. Khi viết

về các con vật và con ngời xung quanh mình. Thời gian hoàn

thành đoạn viết trong các lần kiểm tra cũng nhanh hơn so với

lớp đối chứng.

Điều đó chứng tỏ cách dạy viết đoạn văn theo hớng đã

trình bày ở trên đã đem lại kết quả đầy khả quan, cần đợc

phát triển để thực sự nâng cao chất lợng viết đoạn nói riêng

và học Tiếng Việt nói chung cho học sinh lớp 2.



12



C. Phần kết luận

Quá quá trình nghiên cứu phơng pháp dạy học sinh viết

đoạn văn ngắn ở học sinh lớp 2, tôi đã rút ra đợc những bài học

kinh nghiệm sau:

Trớc hết ngời giáo viên phải tâm huyêt với nghề, luôn tìm

tòi, học hỏi, tao đổi kiến thức, cập nhập với những vấn đề mới

của xã hội để có phơng pháp dạy phù hợp.

Nắm chắc nội dung chơng trình sách giáo khoa Tiếng

việt 2 nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng. Đặc biệt

cần nắm chắc, hiểu rõ những vấn đề, kiến thức đổi mới của

Tiếng Việt 2 so với chơng trình cải cách giáo dục từ đó có

những sáng tạo, cải tiến về mặt phơng pháp sao cho phù hợp với

từng bài dạy cụ thể, từng đối tợng học sinh.

Cần xác định rõ mục đích yêu cầu của bài dạy, các

bớc dạy viết đoạn văn ngắn cho học sinh.

Thờng xuyên dự giờ, quan sát, tìm hiểu thực tế đê rút ra u nhợc điểm của phơng pháp giảng dạy mình đang thực hiện

từ đó có hớng khắc phục.

Phải có phơng tiện tối thiểu cần thiết phục vụ bài

giảng.Tranh minh hoạ, bảng phụ. Song cần lu ý rằng: Hãy sử

dụng triệt để đồ dùng sẵn có nh: Tranh minh hoạ trong sách

giáo khoa, cảnh tự nhiên xung quanh trẻ.

Dạy học bằng phơng pháp trên khơi dậy hứng thú học tập

lòng say mê ham thích học hỏi của học sinh, cần làm cho học

sinh cảm thấy mỗi giờ học nh một buổi đi thăm quan, khám

phá những điều mới lạ có trong cuộc sống xung quanh các em

không nên gò ép các em theo một khuôn thớc nhất định mà

cần phát huy tính sáng tạo, chủ động của học sinh.



13



Qua nghiên cứu thực trạng dạy học viết đoạn văn ngắn ở

lớp 2 tôi thấy việc rèn học sinh kĩ năng viết đoạn là việc làm vô

cùng quan trọng. Công việc này đòi hỏi ngời giáo viên phải linh

hoạt, sáng tạo song cũng cần kiên trì, chịu khó trong suốt quá

trình giảng dạy Tập làm văn nói chung và dạy học sinh viết

đoạn văn nói riêng. Việc dạy học sinh viết đoạn văn ngắn theo

hớng nêu trên đã đem tới sự tiến bộ vợt bậc không chỉ ở riêng

phân môn Tập làm văn mà trong các giờ kể chuỵên ngôn ngữ

kể của các em cũng sát thực và giàu hình ảnh hơn

Trên đây là kinh nghiệm của tôi nhằm nâng cao chất lợng viết đoạn trong phân môn Tập làm văn nói riêng và chất lợng học Tiếng Việt ở tiểu học nói chung. Trong khi viết không

tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Tôi rất mong đợc sự đóng

góp của các nhà nghiên cứu các cấp lãnh đạo và các đồng

nghiệp.

Bỉm sơn, ngày 25 tháng 3



Xác nhận của thủ trởng đơn vị



năm 2015

Tôi xin cam đoan đây là skkn

của mình viết, không sao

chép nội dung của ngời khác.

Ngời viết



Nguyn Th Thỳy



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

II.Thùc tr¹ng vÊn ®Ò:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×