Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Giai đoạn cấp tính : Đa số người nhiễm HIV trong giai đoạn đầu thường không có biểu hiện gì ra bên ngoài để người khác có thể biết được. Khi HIV xâm nhập vào cơ thể, chúng tấn công các tế bào miễn dịch CD4 và dựa vào ca

- Giai đoạn cấp tính : Đa số người nhiễm HIV trong giai đoạn đầu thường không có biểu hiện gì ra bên ngoài để người khác có thể biết được. Khi HIV xâm nhập vào cơ thể, chúng tấn công các tế bào miễn dịch CD4 và dựa vào ca

Tải bản đầy đủ - 0trang

nhiễm HIV/AIDS, đó là sự coi thường, xa lánh, từ chối và trừng phạt họ. Kỳ thị

hình thành trên cơ sở xã hội do đó cần có những giải pháp mang tính xã hội để

chống lại nó nhằm thay đổi thái độ và hành vi.

- Kỳ thị người nhiễm HIV là thái độ khinh thường hay thiếu tôn trọng người

khác vì biết hoặc nghi ngờ người đó nhiễm HIV hoặc vì người đó có quan hệ

gần gũi với người nhiễm HIV hoặc bị nghi ngờ nhiễm HIV.

3.2. Biểu hiện cuả kỳ thị

-Tại cơ sở y tế: Miễn cưỡng khi tiếp xúc với người bệnh nhiễm HIV; Trì hỗn

điều trị, chậm phục vụ người nhiễm HIV hoặc không phẫu thuật cho người

nhiễm HIV; Từ chối điều trị; Đùn đẩy người bệnh nhiễm HIV;…

- Tại gia đình có người nhiễm HIV: Gây quan hệ căng thẳng từ chối lảng tránh

hoặc ly thân cho ăn ở riêng. Không cho hoặc cấm người nhiễm bệnh dùng chung

các vật dụng trong gia đình; Bắt người nhiễm HIV ở nơi khác hoặc đổi ra khỏi

nhà,…

- Tại cộng đồng: Hạn chế người nhiễm HIV đến các nơi cơng cộng, giải trí, thể

thao, nhà vệ sinh, các dịch vụ công cộng; Tẩy chay không mua hàng của người

nhiễm HIV hoặc của gia đình người nhiễm HIV; Xua đuổi người nhiễm HIV ra

khỏi cộng đồng,…

- Tại nơi làm việc: Lấy máu xét nghiệm HIV trước khi tuyển dụng hoặc trong

q trình lao động nhưng khơng nói là để xét nghiệm HIV; Cho nghỉ ốm nghỉ

việc khi người lao động bị nhiễm HIV cho dù họ vẫn còn khả năng lao động;

Dùng bồi thường vật chất để thuyết phục người nhiễm HIV xin người việc,…

- Tại trường học: Bắt các học sinh nhiễm HIV ngồi riêng bàn học; Các bạn học

chưa hiểu rõ về HIV dẫn đến việc không dám gần gũi, xa lánh người nhiễm HIV,

làm họ cảm thấy bị cô lập, tự ti hơn về bản thân; Phụ huynh học sinh gây sức ép

không cho các em nhiễm HIV được tiếp tục đi học vì sợ lây nhiễm sang con em

họ; Giáo viên kỳ thị học sinh nhiễm, không tạo cơ hội cho các em học tập; Nhà

trường tạo lý do để các học sinh nhiễm HIV buộc phải thôi học.

8



4. Đặc điểm tâm sinh lý, nhu cầu của học sinh nhiễm HIV trong trường học

4.1. Đặc điểm tâm, sinh lý của học sinh nhiễm HIV trong trường học

Ở lứa tuổi đang còn ngồi trên ghế nhà trường, các em học sinh còn nhiều

điều chưa hiểu hết về cuộc sống và xã hội xung quanh. Trẻ em, học sinh là

những đối tượng khá nhạy cảm trong các mối quan hệ. Nhất là các em học sinh

nhiễm HIV khi các em tự ti về bản thân, có nhiều nỡi lo sợ và dần nhạy cảm với

tất cả hành động, cử chỉ của mọi người. Cụ thể hơn các em có các biểu hiện tâm

sinh lý:

-Lo sợ: Khi mắc căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS thông thường các em học sinh

thường có cảm giác lo sợ. Khơng chỉ lo sợ về căn bệnh mà còn lo sợ về tinh

thần. các em sợ mọi người thương cảm, nhìn mình với ánh mắt khác. Nỗi sợ

ngày lớn dần dẫn đến việc trầm cảm, ngại giao tiếp với mọi người.

- Sự cô đơn, buồn tủi: Học sinh nhiễm HIV ở trường học có khá nhiều trường

hợp bị sự cô lập từ bạn bè, thầy cô, sự xa lánh và kỳ thị của các bậc phụ huynh,

cán bộ quản lý nhà trường. Các em luôn lo sợ về mọi người xung quanh. Và sự

cô đơn, buồn tủi dần hình thành khi các em phải chịu những miệt thị đó. Những

hành động hay cử chỉ nhỏ như tránh xa khi các em tới lớp, không ngồi cạnh

cùng, bịt khẩu trang khi nói chuyện cùng,… Những điều này làm các em cảm

thấy cơ đơn, bị cô lập và tủi nhục.

- Mặc cảm: Sự tự ti về bản than và căn bệnh mình đang mang trong người dẫn

đến việc các học sinh nhiễm HIV tự tạo vỏ bọc khác biệt các bạn học còn lại.

Các em khơng tự tin khi giao tiếp với mọi người xung quanh và ngay cả những

người thân thiết.

- Bên cạnh đó, học sinh nhiễm HIV còn có nhiều biểu hiện cảm xúc khác nhau

tùy vào từng trường hợp trong môi trường sống khác nhau. Có một số trường

hợp sẽ chán nản, muốn từ bỏ, cũng có những trường hợp chấp nhận và hy vọng

tốt hơn cho bản thân,…



9



4.2. Nhu cầu của học sinh nhiễm HIV trong trường học

Học sinh bị nhiễm HIV có nhu cầu cấp thiết nhất là nhu cầu cần được bảo

vệ, tránh những kỳ thị, phân biệt đối xử với các bạn học cũng như sự kỳ thị của

thầy cô, các bậc phụ huynh,…

Bên cạnh đó, các em có nhu cầu được học tập, bình đăng như các bạn đồng

trang lứa. Các em mang trong mình căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS nhưng cũng cần

được tôn trọng, được hưởng các quyền lợi của bản thân. Các em cũng có nhu

cầu tới lớp, nhu cầu bình đẳng trong học tập, hoạt động ngoại khóa.

Ở một số trường hợp học sinh nhiễm HIV/AIDS sinh hoạt và học tập trong

mơi trường chưa tốt thì các em còn có nhu cầu hỡ trợ về tâm lý, tinh thần. Cần

quan tâm, giúp đỡ để các em giảm bớt sự mặc cảm, tự ti, những lối nghĩ tiêu cực

để lâu dài có thể dẫn tới trầm cảm và các hậu quả đáng tiếc xảy ra trong cuộc

sống.

Một nhu cầu mà các em học sinh nhiễm HIV/AIDS khá quan tâm là về các

hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức về HIV, Phòng chống lây nhiễm

HIV trong trường học. Từ đó có thể nâng cao hiệu quả học tập, mọi người xung

quanh và bạn bè,thầy cô hiểu rõ hơn về HIV và có những hành động quan tâm

tới các em hơn, giảm bớt kỳ thị.

5. Chính sách, pháp luật về phòng, chống kỳ thị đối với người nhiễm

HIV/AIDS

Một số chính sách, luật pháp về phòng, chống kỳ thị đối với người nhiễm

HIV/AIDS:

- Tuyên bố cam kết về HIV/AIDS, 2001 "Khủng hoảng toàn cầu-Hành động

toàn cầu". (Được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua theo Nghị quyết S26/2 ngày 27/6/2001).

- Các hướng dẫn quốc tế về HIV/AIDS và quyền con người (1996).

- Tuyên bố về “Những hành động then chốt để tiếp tục thực hiện Chương trình

hành động của Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển” (1999).



10



-Tuyên bố chính trị và các sáng kiến và hành động tiếp theo nhằm thực hiện các

cam kết được đưa ra tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội

(2000).

- Chương trình về HIV/AIDS của Liên hợp quốc đồng tổ chức ở Giơnevơ trong

các ngày từ 23 đến 25/9/1996.

6. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội tại Thành phố Hòa Bình.

- Về đặc điểm tự nhiên: Là một tỉnh miền núi ở phía Bắc nước ta, cách Hà Nội

khoảng 76 km về phía Tây. Ranh giới thành phố Hòa Bình, phía Bắc giáp huyện

Thanh Sơn (tỉnh Phú Thọ), phía Đơng giáp các huyện Kỳ Sơn và Kim Bơi, phía

Nam giáp huyện Cao Phong, phía Tây giáp huyện Đà Bắc. Tổng diện tích tự

nhiên của thành phố là 14.784 ha (chiếm 2,9% diện tích tồn tỉnh), dân số trung

bình là trên 96.667 người (chiếm 10,2% dân số toàn tỉnh), mật độ dân số là 608

người/km2. Thành phố Hồ Bình có địa hình núi chiếm ưu thế (chiếm 75% diện

tích tự nhiên), phân bố bao quanh và ôm trọn khu vực trung tâm. Phần chuyển

tiếp là kiểu địa hình đồi, có độ cao trung bình 100 - 150 m. Tiếp đến là phần

trung tâm thành phố, có địa hình tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho việc xây

dựng và phát triển đô thị.

- Về kinh tế: Cùng với những nét văn hóa đặc sắc, thành phố Hòa Bình còn được

biết đến là một thành phố trẻ, năng động, với những tiềm năng lớn trong phát

triển kinh tế. hiện nay thành phố Hòa Bình đã có những chiến lược lâu dài trong

thu hút đầu tư, phát triển kinh tế. Hiện nay thành phố Hòa Bình đã có 700

doanh nghiệp và 1.800 hộ kinh doanh cá thể, 11 hợp tác xã hoạt động sản xuất,

kinh doanh hiệu quả trên các lĩnh vực.

- Về văn hóa – xã hội: Ở thành phố Hòa Bình phổ biến nhiều phong trào bình

đẳng xã hội. Cá băng rôn tuyên truyền về các dịch bênh, các nét văn hóa, truyền

thống tỉnh nhà được đơng đảo mọi người dân quan tâm. Các hình thức tuyên

truyền, thông báo ngày càng đa dạng hơn từ phát tờ rơi, băng rôn, các cuộc thi

hay các hội diễn,…



11



II. Thực trạng kỳ thị với học sinh nhiễm HIV tại Trường trung học cơ sở

Ngơ Quyền, Thành phố Hòa Bình.

1. Thực trạng và đời sống của học sinh nhiễm HIV tại Thành phố Hòa Bình

Theo số liệu thống kê, tháng 4/1997, TP Hòa Bình phát hiện người đầu tiên

nhiễm HIV/AIDS tại phường Hữu Nghị. Năm 2005, số người nhiễm HIV/AIDS

lũy tích là 198 trường hợp (tử vong 58 người); năm 2010 lũy tích 383 trường

hợp (tử vong 155 người); năm 2014 lũy tích 369 trường hợp (tử vong 196

người). Nguy cơ lây nhiễm chủ yếu qua đường tiêm chích chiếm 71,3%; qua

đường tình dục 17,8%; lây truyền từ mẹ sang con 1,3%; khơng rõ ngun nhân

9,6%. Nhóm tuổi mắc chủ yếu từ 20 - 49 tuổi chiếm 98%; tỷ lệ nam mắc chiếm

94%, nữ 6%. Trên thực tế, số người nhiễm HIV mới có chiều hướng giảm nhưng

tổng số người đang nhiễm còn ở mức cao. Hiện đã có 14/15 xã, phường của

thành phố có người nhiễm HIV.

Tỉnh Hòa Bình có 1.923 người nghiện ma túy, so với năm 2014 giảm 10

người, nhưng 8/11 huyện, thành phố lại có số người nghiện ma túy tăng, đó là:

TP Hòa Bình tăng 34 người; huyện Lạc Sơn tăng 16 người; Yên Thủy tăng 9

người; Cao Phong tăng 12 người; Lương Sơn tăng 6 người; Kỳ Sơn tăng 8

người; Đà Bắc tăng 4 người.

Ông Lâm Ngọc Tĩnh, Giám đốc Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh

Hòa Bình cho biết: Đến tháng 8/2015, lũy tích số người nhiễm HIV là 2.149

người, trong đó còn sống 1.314 người. Tất cả 11 huyện, thành phố, 138/210 xã,

phường, thị trấn có người nghiện ma túy và 161/210 xã, phường, thị trấn có

người nhiễm HIV. Trong 8 tháng năm 2015, Hòa Bình phát hiện mới 20 trường

hợp nhiễm HIV, 11 người chuyển AIDS, tử vong 16 người. Địa bàn có người

nghiện ma túy, HIV nhiều nhất là TP Hòa Bình có 706 người nghiện, Mai Châu

560 người, Lương Sơn 276 người, Lạc Sơn 134 người... Tệ nạn ma túy, căn bệnh

HIV/AIDS đã len lỏi về các xóm bản vùng sâu, vùng cao, vùng kinh tế đặc biệt

khó khăn, dân trí thấp. Ma túy, HIV như con thuồng luồng, quấy đảo, làm tan

12



cửa nát nhà, khơng ít người đã khuynh gia, bại sản, con có cha khơng mẹ, có mẹ

thì khơng cha. Thậm chí con cái mất cả cha lẫn mẹ, bố mẹ gieo cả cái chết cho

con.

TP Hòa Bình dẫn đầu toàn tỉnh về số người nghiện ma túy và HIV. Tháng

4/1997, TP Hòa Bình phát hiện ca đầu tiên nhiễm HIV/AIDS, năm 2005 số ca

nhiễm HIV/AIDS đã tăng lên 198 người (tử vong 58 người), năm 2010 lũy tích

ca nhiễm là 383 (tử vong 135 người), năm 2014, số lũy tích là 369 người (tử

vong 196 người). Nguy cơ lây nhiễm qua đường tiêm chích chiếm 71,3%; qua

đường tình dục 17,8%; lây truyền từ mẹ sang con 1,3%; không rõ nguyên nhân

9,6%. Đối tượng nghiện ma túy phần lớn là lứa tuổi thanh thiếu niên và độ tuổi

nhiễm HIV/AIDS từ 20 - 49 tuổi chiếm 98%, trong đó tỷ lệ nam giới chiếm

94%.

2. Thực trạng kỳ thị với học sinh nhiễm HIV tại Trường trung học cơ sở

Ngô Quyền, thành phố Hòa Bình.

Hiện nay, số người nhiễm HIV ở Hòa Bình vẫn còn gia tăng. Trong số đó

đối tượng chủ yếu là đối tượng lứa tuổi vị thành niên nhiễm HIV và hiện các em

đang là những học sinh trường trung học sơ sở và trường trung học phổ thơng

hoặc đã bỏ học. Cụ thể có năm trường học đã phát hiện có học sinh bị nhiễm

HIV đặc biệt là Trường trung học cơ sở Ngô Quyền.

Trường trung học cơ sở Ngô Quyền là một trường cấp 2 nằm ở phường

Chăm Mát của Thành phố Hòa Bình. Tồn trường có 4 em học sinh nhiễm HIV

đang theo học tại các lớp khác nhau, trong đó có 3 em bị nhiễm HIV từ mẹ sang

và 1 em do bạn bè xấu rủ rê tiêm chích và dẫn tới bị lây nhiễm HIV qua bơm

kim tiêm có dính máu của người nhiễm. Là vùng chủ yếu làm nghề nông, thông

tin kiến thức về HIV/AIDS của người dân còn nhiều hạn chế, thông tin tuyên

truyền chưa được mọi người dân chú trọng nhiều do phần lớn thời gian mọi

người đều ở đồng ruộng từ đó có những suy nghĩ sai lệch, những hành vi chưa

đúng gây tổn thương tới nhóm học sinh nhiễm HIV đang theo học tại trường.



13



Tại trường còn tồn tại khá nhiều bất cập chưa giải quyết được trong q

trình phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS tại trường học. Vẫn còn sự kỳ thị đối

với các học sinh nhiễm HIV.

Để giảm sự kỳ thị, ngành giáo dục đã đề ra nhiều biện pháp và nỗ lực

thực hiện, tuy nhiên những cố gắng của riêng ngành là chưa đủ mà cần sự quan

tâm chỉ đạo và hỗ trợ hơn nữa từ cấp ủy, chính quyền, các ngành liên quan và

các tổ chức, đồn thể chính trị xã hội...

2.1. Sự kỳ thị của bạn bè đối với học sinh nhiễm HIV tại Trường trung học

cơ sở Ngơ Quyền

Trường học thường được ví là ngôi nhà thứ 2 của những người đang theo

học tại nơi đây. Là nơi đáp ứng nhu cầu tới trường, nhu cầu quyền lợi của mỗi

học sinh. Đặc biệt đối với những người nhiễm HIV/AIDS lại trở nên quan trọng

và cân thiết hơn.Tại Trường trung học cơ sở Ngô Quyền hiện nay có 4 học sinh

nhiễm HIV/AIDS. Mỡi em có những hồn cảnh khác nhau.

Các em học sinh đang theo học tại đây vẫn còn là những cơ cậu chưa tới

tuổi trăng tròn, còn bốc đồng, chưa hiểu được các hành vi của bản thân, cũng

như chưa thấu hiểu được cho các bạn cùng trang lứa nhưng mang trong mình

căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS.

Do bản thân các bạn học sinh còn chưa đủ trưởng thành, chưa đủ chính

chắn để hiểu hết về HIV cũng như các con đường lây nhiễm HIV từ đó có những

suy nghĩ sai lệch. Phần lớn các em học sinh theo học tại trường đều biết rõ về 4

bạn nhiễm HIV và có những cái nhìn còn thiếu thiện cảm. Một số em còn có

những lời nói chưa đúng hay những lời trêu chọc các bạn nhiễm HIV.

Không chỉ trong giờ ra chơi, ngay cả trong các buổi học, vẫn còn tồn tại

việc xa lánh, không muốn ngồi chung với các bạn nhiễm HIV. Hay ánh nhìn xa

lạ, ngại tiếp xúc với các bạn đó vì sợ ngồi chung hay nói chuyện chung cũng sẽ

nhiễm HIV giống các bạn.

Cụ thể như trường hợp của em T. học tại lớp 6a, em bị nhiễm HIV từ lúc

vừa sinh ra. Là một học sinh khá rụt rè và tự ti về bản thân, qua sự động viên của

14



gia đình, em T. đã cố gắng đến lớp theo học cùng bạn bè mong muốn thay đổi

cuộc sống tươi đẹp hơn. Nhưng các bạn trong lớp em còn thường xuyên trêu

chọc T. và không chơi với T. Trong một lần cơ giáo giao bài tập nhóm chia theo

các dãy bàn trong lớp học. T. xung phong hỗ trợ các bạn làm bài, nhưng các bạn

từ chối, không cho T. tham gia hoạt động nhóm cùng vì sợ T. sẽ làm các bạn

nhiễm bệnh theo. Hay lúc ra chơi, T. nhìn các bạn nơ đùa cùng nhau rất vui vẻ

muốn được một lần tham gia cùng các bạn, nhưng sự xa lánh, cô lập của các bạn

làm T. ngày càng tự ti hơn về bản thân. T. dần ít giao tiếp với mọi người hơn, có

ngày T. còn sợ đến lớp phải bắt gặp ánh mắt chỉ trích của các bạn và T. dần rơi

vào trầm cảm.

Ta có thể thấy sự kỳ thị của bạn bè đối với những học sinh nhiễm HIV

đang theo học tại trường học là một vấn đề cần được mọi người quan tâm hơn.

Nếu không hỗ trợ nâng cao kiến thức kịp thời cho các bạn học sinh thì sẽ gây

nên nhiều hậu quả khơng tốt trong cuộc sống của chính các em học sinh bị

nhiễm HIV.

2.2. Sự kỳ thị của thầy, cô giáo đối với học sinh nhiễm HIV tại Trường trung

học cơ sở Ngô Quyền.

Thầy, cô là những người cha, người mẹ đáng quý của mỗi người học

sinh. Tuy nhiên tại Trường trung học cơ sở Ngơ Quyền vẫn còn tồn tại sự chưa

quan tâm, hay sự kỳ thị từ thầy, cô giáo đối với những học sinh nhiễm HIV tại

trường.

Đối với thầy, cô giáo là những người được cung cấp khá đầy đủ thơng

tin về căn bệnh HIV. Song vẫn còn có một vài lần trong hoạt động học tập tại

trường còn tồn tại sự kỳ thị trong lời nói, hành động của cô giáo.

Đối với em L. học sinh lớp 7c nhiễm HIV do lây từ mẹ sang. Cô H. là

cô giáo chủ nhiệm của L năm nay. Cô H. cũng hiểu hồn cảnh của L. qua thơng

tin của cơ chủ nhiệm cũ. Tuy nhiên sự hiểu biết và sự cảm thơng khác nhau nên

đã có một vài lần cơ H. vẫn còn có hành động kỳ thị đối với L. Có một lần L. và

một bạn cùng lớp cùng khơng học thuộc bài, cô H. cũng hỏi rõ lý do của từng

15



người và phạt L. và bạn học kia vì lỗi bài cũ. Bạn của L. chỉ bị cô H. cho đứng ở

góc lớp nếu đọc thuộc được sẽ được về chỡ. Còn L. thì phải về chép phạt để nhớ

bài lâu hơn. L. cũng tự nhận thấy những lần cơ H. nhìn L. rất lâu, những lúc đấy

L. rất lo sợ khi nhìn vào ánh mắt của cơ. Cũng trong buổi học gần đây, khi đến

lượt nhóm L. làm trực nhật nhưng do một bạn ốm nên làm chậm giờ vào lớp. Cơ

H. trách phạt cả nhóm rút kinh nghiệm lần sau và phạt thêm L. phải ở lại dọn lớp

trước lúc ra về của buổi học do L. đi đổ rác muộn. Lúc đấy L. rất tủi thân vì các

bạn cùng nhóm làm muộn dẫn tới L. hồn thành cơng việc muộn. Từ đo L.

thường khơng dám nhìn cơ H. và thường ngồi góc im lặng mỡi lần đến giờ học

của cô.

Học sinh rất nhạy cảm với hành động của mọi người. Và học sinh nhiễm

HIV càng rất quan tâm tới những cử chỉ, hành vi dù nhỏ nhất của mỗi người đối

với họ. Cho dù cô H. đã hiểu biết có thơng tin rõ ràng về việc lây nhiễm HIV

nhưng do bản thân còn định kiến với dịch bệnh HIV từ đó còn xảy ra những tình

huống làm tổn thương L. và dần tách L. ra khỏi sự hoạt động chung của lớp học.

2.3. Sự kỳ thị của phụ huynh học sinh đối với học sinh nhiễm HIV tại

Trường trung học cơ sở Ngô Quyền

Là trường học với số học sinh chủ yếu xuất phát từ các gia đình làm

nơng nghiệp, bố mẹ các học sinh chủ yếu làm ruộng và các công việc lao động

tự do khác trong xã hội. Do vậy, hiểu biết của đông đảo các bậc phụ huynh về

đại dịch HIV còn khá nhiều hạn chế do thông tin tuyên truyền chưa đến tận nơi,

hay tuyên truyền còn chưa đầy đủ. Những suy nghĩ sai lệch về đại dịch HIV và

những cách lây nhiễm HIV dẫn đến các hoạt động bảo vệ con cái chưa đúng

cách, qua đó ảnh hưởng tới tâm lý cũng như tinh thần của các học sinh nhiễm

HIV và gia đình của các em.

Có một số phụ huynh ngày đưa con đến nhận lớp khi vừa vào trường

trung học, họ biết con mình cùng học với học sinh nhiễm HIV thì khá là căng

thẳng, họ đưa ra những ý kiến muốn đổi lớp cho con và tạo sức ép cho nhà

trường để con của mìn khơng phải học cùng những em học sinh nhiễm HIV đó

16



Chỉ vì những định kiến lối cũ, những thông điệp, thông tin tuyên truyền

chưa đầy đủ đến từng người dân về phòng, chống lây nhiễm HIV mà đã dẫn đến

những tình huống gây tổn thương cho M. cũng như mẹ M. Cần phải nâng cao

hơn nữa hiệu quả công tác truyền thông và sự quan tâm từ mọi người tỏng cộng

đồng tới những học sinh nhiễm HV tại trường học.

3.Đánh giá thực trạng hoạt động hỗ trợ của CTXH trong giảm kỳ thị đối

với học sinh nhiễm HIV tại trường THCS Ngô Quyền, thành phố Hòa Bình.

- Trong những năm gần đây, nhiều phòng CTXH được mở ra nhiều hơn ở các

bệnh viện trong địa bàn thành phố. Tại một số trường học trong địa bàn cũng đã

có phòng CTXH trong đó có trường THCS Ngơ Quyền.

- Phòng CTXH của trường Ngơ Quyền hiện có 2 nhân viên CTXH, và đã giúp

đỡ được khá nhiều trường hợp trong trường như:

+ Mở các cuộc tuyên truyền nhỏ về HIV cho các học sinh và cán bộ giáo

viên, nhân viên trong nhà trường.

+ Tuyên truyền nâng cao nhận thức cho chính những em học sinh bị nhiễm

HIV để các em có thể tự tin hơn.

+ Giúp các em nhiễm HIV tiếp cận các hoạt động hỗ trợ, các dịch vụ dành

cho người nhiễm HIV...

- Bên cạnh các hoat động đã làm được, phòng CTXH của trường còn có một

số hạn chế như: đội ngũ nhân viên còn ít chưa đáp ứng được cơng việc, việc kết

nối các dịch vụ tới học sinh còn ít...

III. Ngun nhân, ảnh hưởng, giải pháp của kỳ thị đối với học sinh nhiễm

HIV tại Trường trung học cơ sở Ngô Quyền, Thành phố Hòa Bình.

1. Ngun nhân của kỳ thị đối với học sinh nhiễm HIV tại Trường trung học

cơ sở Ngơ Quyền, Thành phố Hòa Bình

Sự kỳ thị học sinh nhiễm HIV tại trường học có thể nảy sinh từ nhiều

nguyên nhân khác nhau. Do các nguyên nhân khách quan như bản chất tự nhiên

của bệnh, định kiến xã hội; hay những nguyên nhân tất yếu như truyền thông



17



chưa đầy đủ chưa truyền tới tận từng người dân, hay sự thiếu hiểu biết về

HIV/AIDS.

1.1. Do bản chất tự nhiên của bệnh

HIV là một đại dịch bệnh nghiêm có thể dẫn đến chết người. Hiện nay

chưa có thuốc điều trị chữa HIV, có có tại một số trung tâm chăm sóc hỡ trợ

người HIV có thuốc ARV và điều trị methadone. Khả năng lây nhiễm HIV trong

cộng đồng cao, tất cả mọi người đều có thể bị nhiễm HIV khơng phân biệt lứa

tuổi, giới tính,…Điều này làm mọi người dân trong cộng đồng lo sợ, và đặc biệt

là ở trong các trường học họ thường tránh xa những trường hợp nhiễm HIV. Từ

đó dẫn đến tình trạng học sinh nhiễm HIV bị cô lập, kỳ thị trong cuộc sống và

gây nên những hậu quả nghiêm trọng cho bản thân người nhiễm HIV và gia đình

của các em học sinh đó.

1.2. Do sự thiếu hiểu biết về HIV/AIDS của các học sinh, thầy cô giáo và các

bậc phụ huynh

Sự kỳ thị của các học sinh, thầy cô giáo và các bậc phụ huynh trong

trường học đối với những học sinh nhiễm HIV một phần do kiến thức, hiểu biết

về HIV của mọi người còn hạn chế, còn áp đặt những định kiến xã hội vào căn

bệnh này để hình thành những suy nghĩ, hành vi mang tính tiêu cực. Một số

nhận thức còn chưa đúng về HIV, cụ thể như:

- Những trường hợp bị nhiễm HIV từ mẹ sang con thường do lối sống khơng

lành mạnh của người mẹ. Từ đó những người con của họ lớn lên sẽ cũng giống

bố mẹ sẽ không là học sinh tốt để mọi người an tâm cho con cái mình học cùng.

Hoặc cụ thể trường hợp em K. bị nhiễm HIV do bạn bè rủ rê, mọi người càng có

nhận thức sai hơn về em và càng có những sự kỳ thị hơn. Do nhận thức của họ

chưa hiểu rõ về HIV nên có những đánh giá chưa đúng.

- HIV là căn bệnh chết người, khả năng lây nhiễm cao nên sự tiếp xúc thông

thường cũng có nguy cơ lây nhiễm HIV. Các bậc phụ huynh, các em học sinh

luôn tránh xa, cô lập hay không chơi chung với các học sinh nhiễm HIV. Trên



18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Giai đoạn cấp tính : Đa số người nhiễm HIV trong giai đoạn đầu thường không có biểu hiện gì ra bên ngoài để người khác có thể biết được. Khi HIV xâm nhập vào cơ thể, chúng tấn công các tế bào miễn dịch CD4 và dựa vào ca

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×