Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN MẠNG KHÔNG DÂY VÀ CÁC DẠNG TRUYỀN THÔNG

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN MẠNG KHÔNG DÂY VÀ CÁC DẠNG TRUYỀN THÔNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

đến 384 kbps bằng cách sử dụng công nghệ làm tăng tốc độ dữ liệu cho GSM

(EDGE), đạt đến 2 Mbps trong thế hệ 3G bằng cách sử dụng công nghệ băng

thông rộng đa truy nhập phân chia theo mã(WCDMA), đạt đến 14,4 Mbps khi

sử dụng công nghệ HSPA (High Speed Packet Access) và hiện nay ở khoảng

50-100 Mbps với QoS được đảm bảo, cải thiện hiệu suất và độ phủ sóng lớn

hơn khi sử dụng cơng nghệ 4G (hoặc LTE) [9]. Sự phát triển của công nghệ

mạng di động về tốc độ dữ liệu được thể hiện trong hình 1.2.

Mạng di động tế bào làm việc và mở rộng bằng các khối kiến trúc cơ bản

được gọi là các tế bào. Các tế bào quy định vùng phủ sóng của một mạng di

động. Các tế bào được phục vụ bởi một trạm cơ sở hạ (BS) hoặc một tập các

trạm cơ sở. Các thiết bị vật lý như ăng ten, sao lưu điện, thiết bị truyền tín

hiệu, thiết bị xử lý, … được đặt đúng vị trí trong các BS. Vùng phủ sóng của

tế bào phụ thuộc vào khả năng của các BS, chúng được kết nối với mạng lõi

và được gán một nhóm các dải tần số vơ tuyến hoặc các kênh. Mỗi BS có thể

hỗ trợ nhiều người dùng hoặc thiết bị được kết nối với nhau bằng các dải tần

số hoặc các kênh radio. Do các quy định và luật được đưa ra bởi chính phủ và

các nhóm chuẩn cơng nghệ chỉ có một tập hợp các tần số có thể được sử dụng

để truyền tín hiệu di động. Ràng buộc này thực sự giới hạn số lượng các kênh

vơ tuyến có thể được sử dụng trong các BS để truyền tín hiệu. Vì các kênh bị

hạn chế nhưng có nhiều người dùng và các tế bào trong mạng nên việc thiết

lập các thông số như tốc độ dữ liệu, định vị người dùng, công suất truyền và

cơng suất nhận, lược đồ điều chế, tiêu chí chuyển giao, … đóng một vai trò

quan trọng trong việc quản lý các tài nguyên.

Do những tiến bộ trong công nghệ không dây, mạng di động không dây tế

bào với tính năng ban đầu dùng để truyền dữ liệu thoại, giờ đây đang chuyển

từ thời kỳ điện thoại di động sang thời kỳ của điện tốn khơng dây nhờ vào

kết quả tăng tốc độ truyền dữ liệu. Điều này cho phép các mạng di động cung

cấp các dịch vụ như xem phim theo yêu cầu. Trong sự phát triển mới này tất

cả các cuộc truyền thông liên lạc được khởi tạo với sự can thiệp của con

người qua điện thoại di động hoặc các thiết bị tương tự sử dụng HTC chiếm

10



ưu thế đã cho phép các thiết bị giao tiếp với nhau mà không cần sự can thiệp

của con người nhờ vào những tiến bộ trong công nghệ phần cứng, năng lực

tính tốn của các thiết bị và trí tuệ nhân tạo. Sự phát triển này đã mở ra cánh

cửa cho các công nghệ trong tương lai như MTC để mở rộng các tính năng

của các mạng di động tế bào. Các mạng di động có tiềm năng chưa được khai

thác vơ cùng to lớn, có thể thay đổi lối sống của các thế hệ tiếp theo của

chúng ta bằng cách cung cấp nhiều dịch vụ hơn như truyền hình khơng dây,

giám sát an ninh, y tế truyền hình, theo dõi và tìm vết, ...



Hình 1.1. Sự phát triển của mạng di động tế bào về tốc độ dữ liệu



1.3. Truyền thông kiểu người

Mặc dù dịch vụ di động được bắt đầu từ thời gian trước đây chưa lâu

khi AT & T thương mại hoá dịch vụ điện thoại di động (MTS) vào giữa thập

niên 1940[10], điện thoại di động cầm tay cầm tay đầu tiên được Motorola

phát triển vào năm 1973 [11]. Mạng di động tế bào xuất hiện vào cuối những

năm 1970 và đầu những năm 1980 với việc triển khai các hệ thống điện thoại

tự động tương tự (analog) của NTT ở Tokyo (1979) và NMT ở các nước Bắc

Âu (1981) [10]. Đây là sự khởi đầu của HTC với mạng đầu tiên (1G) của

mạng di động, nơi các tín hiệu analog được sử dụng để truyền thơng tin.

Luồng mạng được gọi là HTC vì sự can thiệp của con người đối với yêu cầu

11



và chấp nhận cuộc gọi (chỉ gọi điện thoại). Thế hệ thứ hai (2G) của mạng di

động tế bào xuất hiện từ việc số hóa các tín hiệu và bổ sung các tính năng mới

như SMS. Cùng thời điểm đó hệ thống Tồn cầu về Truyền thơng di động

(GSM) và kỹ thuật đa truy cập phân chia theo mã (CDMA) xuất hiện xem

như các tiêu chuẩn sử dụng các tín hiệu số để truyền thay vì các tín hiệu

tương tự. Điều này giúp nâng cao chất lượng cuộc gọi cho người dùng cuối.

Với những công nghệ này, mạng di động dựa trên 2G có thể hỗ trợ các

phương tiện cơ bản như nhạc chuông qua các thiết bị di động, cũng như các

dịch vụ Internet cơ bản như duyệt web, chuyển email, nhưng với tốc độ dữ

liệu thấp. Mạng thế hệ 2G cũng được tối ưu hóa để hỗ trợ HTC.

Sau khi đưa ra các dịch vụ internet cơ bản và chất lượng dịch vụ được

cung cấp bởi mạng di động dựa trên 2G đã thu hút một lượng lớn người tiêu

dùng sử dụng các mạng này. Do nhu cầu ngày càng tăng về tốc độ dữ liệu,

mạng di động 2G đã nhanh chóng chuyển sang mạng di động dựa trên 3G

thơng qua việc bổ sung cơ chế truy cập gói tốc độ cao (HSPA) trên các mạng

dựa trên Hệ thống Viễn thơng Di động Tồn cầu (UMTS). Với sự tăng cường

này, các ứng dụng qua các mạng di động dựa trên 3G như các cuộc gọi, duyệt

web, ứng dụng dạng luồng, các cuộc gọi điện video, truyền tệp, … vẫn còn là

tương tác mà con người là trung tâm. Con người vẫn đóng vai trò chủ đạo

trong thiết lập u cầu, chấp nhận và hoạt động của hệ thống. Với sự gia tăng

số lượng người dùng và nguồn lực hạn chế, QoS đã quan tâm chính đối với

luồng đến của HTC trong mạng di động dựa trên 3G. Để xử lý một cách hiệu

quả, các dịch vụ HTC nên được phân chia thành bốn lớp, cụ thể là: đàm thoại,

streaming, tương tác và nền tảng[12]. Với phân loại này, một tham số QoS

quan trọng được sử dụng để tách các dịch vụ vào lớp khác nhau là độ trễ (ví

dụ tham số trễ thời gian thường được sử dụng trong các ứng dụng đa phương

tiện). Các dịch vụ cuộc gọi điện video và gửi email có ảnh hưởng khác nhau

đến người dùng cuối xét theo yếu tố độ trễ. Sự chậm trễ 5 giây trong cuộc gọi

video quan trọng hơn là sự chậm trễ 5 giây khi chuyển email. Hầu hết các ứng

dụng có độ trễ nhạy cảm như cuộc gọi video và phát trực tuyến thuộc về lớp

12



đàm thoại. Ngược lại, các ứng dụng có độ trễ kém nhạy cảm nhất như tải tệp

được giữ ở lớp nền. Cả hai lớp đàm thoại và streaming đều sử dụng luồng thời

gian thực để cung cấp mạng đáp ứng cho người dùng cuối, trong khi các lớp

tương tác và lớp nền hỗ trợ các ứng dụng internet cơ bản như duyệt web,

chuyển email, … [12].

Các mạng di động đang dần dần phát triển từ các hệ thống trung tâm

thoại tới các hệ thống trung tâm dữ liệu và thế hệ các mạng không dây hiện

nay ( hệ thống mạng 4G) hỗ trợ các loại dữ liệu chủ đạo khác như MTC đi

cùng với luồng HTC. Trong các hệ thống 5G trong tương lai, việc sử dụng

MTC cùng HTC trong mạng di động tế bào (mạng truyền thơng chính) dự

kiến sẽ phát triển mạnh mẽ. Bảng 1.3 cho thấy các loại luồng của HTC trong

mạng di động.

Thế hệ



Kiểu luồng HTC



1G



Âm thanh (Cuộc gọi di động)

Âm thanh số



2G



Tin nhắn

Dữ liệu (tốc độ truyền dữ liệu thấp)



3G



Âm thanh, hình ảnh và video chất lượng cao

Dữ liệu



4G



Dữ liệu tốc độ cao

VoIP



Bảng 1.1. Các dạng luồng của HTC trong mạng di động tế bào



13



1.4. Truyền thông kiểu máy

Giao tiếp máy MTC hoặc M2M có thể được định nghĩa như một hình

thức giao tiếp dữ liệu mà hai hay nhiều thực thể tương tác một cách độc lập

với nhau mà không cần bất kỳ sự tương tác hoặc giám sát của con người.

Truyền thơng này có thể xảy ra bằng cách sử dụng các hệ thống có dây hoặc

khơng dây. Ý tưởng chính của MTC là giảm sự phụ thuộc của các thiết bị vào

hành động của con người, làm cho các thiết bị có khả năng tự khởi tạo các

hành động dựa trên thơng tin có sẵn trong mạng. Để thay thế cho việc đưa ra

quyết định thơng minh của con người bằng máy móc cần có một số thông tin

thu được từ các thiết bị và năng lực xử lý của các thiết bị. Thông thường, một

số lượng lớn các thiết bị MTC tham gia vào các ứng dụng MTC và trong hầu

hết các trường hợp các thiết bị MTC hỗ trợ truyền dữ liệu. Các ứng dụng

MTC bao gồm trong các lĩnh vực trong vận tải, chăm sóc sức khoẻ, an tồn,

an ninh, theo dõi, nhà thông minh, … và di động tế bào phù hợp với các loại

ứng dụng này.

Một số ưu điểm quan trọng của việc sử dụng MTC trong mạng di động

tế bào bao gồm: (1) Việc sử dụng vùng phủ sóng rộng lớn do mạng di động

cung cấp. Trên thực tế, sử dụng MTC trong các mạng di động, nhà mạng

(MNOs) có thể cung cấp dịch vụ di động liền mạch khắp nơi trên thế giới với

các giải pháp mạnh mẽ về an ninh, tính cơ động cao, đảm bảo độ trễ, băng

thông cao, với những thay đổi giới hạn trong tiêu chuẩn hiện hành và chi phí

thấp khi thực hiện và hoạt động; (2) Cơng nghệ mạng di động (ví dụ như

femtocell) [13] có thể được sử dụng để cung cấp QoS mong muốn cho các

ứng dụng quan trọng như: nhàchăm sóc người già, dịch vụ y tế từ xa, ...

Sự phát triển nhanh chóng trong việc sử dụng các thiết bị MTC trong

mạng di động dự kiến sẽ xảy ra trong thập kỷ tới, với tỷ lệ hàng năm là trên

20% để đạt 200 triệu thiết bị MTC đến năm 2019 [4]. Theo GSMA [14], một

tổ chức hàng đầu châu Âu, các kết nối MTC đạt 195 triệu vào cuối năm 2013

và đã đạt hơn 9 tỷ kết nối tính đến tháng 4 năm 2018, tăng đều đặn

4.90%/năm trong ba năm gần đây.

14



Các tính năng nổi bật của các ứng dụng MTC (khác với ứng dụng

HTC) đã được mô tả trong bản thảo dự án 3GPP [15]. Trong đó cho biết rằng

không cần thiết phải ứng dụng MTC tuân theo tất cả các tính năng của ứng

dụng HTC và các tính năng này có thể được kích hoạt riêng lẻ trong một hệ

thống. Các đặc trưng của MTC công bố bởi 3GPP Release 10 [5] có thể được

tóm tắt như sau:

- Truyền dữ liệu nhỏ: các gói dữ liệu nhỏ có thể được trao đổi trong

luồng MTC. Ngồi ra, các thiết bị MTC có thể gửi dữ liệu thu được như nhiệt

độ, tốc độ chuyển động, tọa độ GPS, ...

- Số lượng lớn các thiết bị: luồng MTC có thể liên kết được một số

lượng lớn các thiết bị kết nối trong một mạng tại cùng một thời điểm.

- Tính di động thấp: nói chung sự di chuyển của các thiết bị MTC rất

hạn chế, chỉ được giới hạn trong một khu vực nhất định.

- Kiểm soát thời gian: việc truyền và nhận dữ liệu trong thiết bị MTC

được giới hạn trong khoảng thời gian cụ thể (slots).

- Dung sai thời gian: Các thiết bị MTC có thể nhận biết được luồng và

làm trễ việc truyền dữ liệu của chúng.

- Cảnh báo ưu tiên: Các thiết bị MTC có thể ưu tiên gửi các thơng báo

có cảnh báo ưu tiên như cảnh báo trộm, cảnh báo cháy, ...

- Chỉ dùng chuyển mạch gói: các dịch vụ chuyển mạch gói được cung

cấp cho các thiết bị MTC có hoặc khơng cần các dịch vụ tích hợp thuê bao di

động.

- Kết nối an toàn: yêu cầu kết nối an toàn giữa các thiết bị MTC và máy

chủ.

- Giám sát MTC: tính năng này được sử dụng bởi các ứng dụng MTC

đòi hỏi phải giám sát các sự kiện liên quan đến thiết bị MTC.

- Kích hoạt định vị: thiết bị MTC được kích hoạt bằng cách sử dụng

thơng tin vị trí của chúng.

- Tần suất truyền không thường xuyên: truyền ngẫu nhiên và khoảng

cách giữa các lần truyền liên tiếp xa nhau từ các thiết bị MTC.

15



- Chỉ truyền thông đối với thiết bị di động gốc: truyền thông thiết bị di

động gốc được triển khai cho các ứng dụng MTC di động.

- Đầu cuối di chuyển khơng thường xun: Tính năng này được sử

dụng để giảm tần suất quản lý di động của các thiết bị MTC và hỗ trợ truyền

thông thiết bị di động ban đầu.

- Mạng cung cấp đích đến cho dữ liệu đường lên: tính năng này có thể

được sử dụng cho mục đích truyền dữ liệu lên mạng.

- Các tính năng MTC dựa trên nhóm: các thiết bị MTC có thể được

quản lý như một nhóm trong trường hợp cần phải truyền cùng một thông điệp

hoặc cần phải thực thi chính sách QoS kết hợp nhiều thiết bị MTC.

Một loạt các ứng dụng dựa trên MTC đã được báo cáo trong các khu

vực công và tư nhân, một số trong số đó được trình bày trong Bảng 2.2.



Các dạng ứng dụng MTC



Ví dụ

Cuộc gọi khẩn cấp

Quản lý phi đội máy bay



Sự theo dõi và truy vết



Theo dõi trộm cắp

Luồng thông tin

Hải quân

Taxi công nghệ

Điện



Đồng hồ đo lường thông minh



Gas

Nước

Theo dõi bệnh nhân từ xa



Sức khỏe



Trợ giúp cuộc sống

Dáng vóc cá nhân



16



Điều khiển truy nhập

An tồn



Hệ thống cảnh báo

Hệ thống giám sát

Điều khiển nhiệt



Nhà thông minh



Điều khiển ánh sáng

Điều khiển trang thiết bị



Chẩn đốn phương tiện giao

thơng

Điều khiển và duy trì hoạt động từ

xa

Điều khiển máy bán hàng từ

xa

Bảng 1.2. Các ứng dụng MTC



1.5. Thực trạng hiện tại trong 3GPP các đặc trưng cơ bản

Nghiên cứu ban đầu về MTC của 3GPP được giới thiệu trong phiên bản

8 [3]. Trong phiên bản 3GPP 10 [5], sự hỗ trợ cho luồng MTC cùng với các

yêu cầu dịch vụ cho luồng MTC đã được giới thiệu. Chúng bao gồm các tùy

chọn đăng ký, tiến trình gửi và nhận dữ liệu dựa trên trình kích hoạt, sơ đồ địa

chỉ, tính phí, an ninh và các yêu cầu quản trị từ xa, ... Nhóm làm việc kiến

trúc hệ thống 2 (SA2) của 3GPP đã đưa ra các yêu cầu kiến trúc và các mơ

hình để hỗ trợ MTC trong mạng 3GPP [16]. Trong phiên bản 3GPP 10+ [16],

xác định rằng dồn tồn lực để phân tích và tối ưu hóa kiến trúc mạng nhằm

mục đích giảm tác động của MTC đối với các luồng thông thường trong mạng

di động tế bào. Trong bối cảnh này, do mong muốn sử dụng một số lượng lớn

các thiết bị MTC thì các vấn đề chính như địa chỉ IP, tắc nghẽn tín hiệu, quá

tải truyền thông, … yêu cầu phải được cải thiện. Tất cả những vấn đề đó

được báo cáo trong [16] rằng một trong những cách tối ưu hóa hệ thống để

giải quyết những vấn đề này bao gồm việc sử dụng địa chỉ IPv6 và nhóm các

thiết bị MTC tương tự nhau để quản lý. Một kiến trúc chung dựa trên MTC

được đề xuất bởi 3GPP [16] [15] như mô tả trong hình 1.2, bao gồm ba thành

phần chính, cụ thể là: miền thiết bị MTC, miền mạng và miền ứng dụng

MTC.

Miền thiết bị MTC: miền này bao gồm tất cả các thiết bị MTC được cài

đặt để thu thập và truyền tải dữ liệu tự trị. Máy dò khói, thiết bị kiểm sốt

trộm cắp, báo cháy, đồng hồ đo thơng minh, thiết bị theo dõi sức khoẻ, thiết bị

17



cảm biến thu thập dữ liệu, thiết bị theo dõi, cảm biến luồng, … là ví dụ về

thiết bị vật lý MTC thuộc miền này. Các thiết bị này truyền dữ liệu tới các

máy chủ MTC hoặc truyền với nhau



Hình 1.2. Kiến trúc chung của MTC.



Miền mạng: miền này là xương sống của tồn bộ hệ thống MTC.

Mục đích của miền này là cung cấp môi trường truyền thông giữa các thiết bị

MTC và các máy chủ MTC hoặc giữa các thiết bị MTC với nhau thơng qua

mạng có dây hoặc khơng dây. Các mạng di động tế bào 3GPP như UMTS

hoặc LTE dự kiến sẽ được sử dụng làm miền mạng cho các ứng dụng MTC.

Miền ứng dụng MTC: miền này bao gồm các máy chủ MTC phục vụ

như đích đến cho dữ liệu được truyền bởi các thiết bị MTC qua mạng. Dựa

trên nhiều kịch bản sử dụng máy chủ MTC có thể được kiểm sốt và quản lý

bởi các nhà khai thác mạng di động hoặc các nhà cung cấp dịch vụ bên thứ ba

[5]. Các máy chủ MTC cung cấp cho người dùng cuối một giao diện để truy

cập các ứng dụng MTC được chỉ định.

Theo 3GPP [16], kịch bản truyền thơng của luồng MTC có thể được

tách thành hai mơ hình dựa trên các u cầu khác nhau:

Mơ hình truyền thơng trực tiếp: Trong mơ hình này, có sự liên lạc

trực tiếp giữa các thiết bị MTC được cung cấp bởi tác tử 3GPP. Thiết bị MTC

bên trong cùng một miền mạng hoặc các miền mạng khác nhau có thể truyền

thơng với nhau trực tiếp và như vậy thiết lập thành kết nối ngang hàng [15].

Hình 1.3 cho thấy kịch bản truyền thông giữa các thiết bị MTC.



18



Hình 1.3. Thiết bị MTC truyền thơng trực tiếp với nhau.



(a)



(b)



Hình 1.4. Thiết bị MTC truyền thơng với một hoặc nhiều máy chủ MTC (a)

MTC Server nằm trong miền mạng và (b) MTC Server nằm ngồi miền mạng



Mơ hình truyền thơng gián tiếp: Mơ hình này mơ tả mơ hình kháchchủ, trong đó MTC thiết bị (khách) truyền dữ liệu tới một hoặc nhiều máy chủ

MTC. Kịch bản này có thể ứng dụng trong đo lường thông minh, điều khiển

luồng, các ứng dụng giám sát, ... [15]. Ngoài ra, trong mơ hình truyền thơng

này máy chủ MTC có thể nằm bên trong miền mạng, do đó nó có thể được

điều khiển bởi nhà cung cấp dịch vụ 3GPP (tương ứng là nhà cung cấp dịch

vụ bên thứ ba). Khi máy chủ MTC nằm trong miền mạng, nhà cung cấp mạng

cung cấp API cho người dùng MTC để truy cập vào máy chủ. Hình 1.4 cho

thấy kịch bản truyền thơng giữa các thiết bị MTC và các máy chủ MTC.

1.6. Quản lý tài nguyên vô tuyến điện

Trong các mạng di động tế bào cần phải có một lược đồ quản lý tài

nguyên vô tuyến (RRM) để đảm bảo rằng các luồng đến từ các thiết bị dựa

trên MTC có thể được phục vụ một cách thích hợp bằng cách sử dụng một số

lượng hạn chế các tài nguyên có sẵn và đảm bảo rằng các thiết bị này sẽ

không bị thiếu thốn tài nguyên. Mục đích cơ bản của lược đồ RRM tận dụng

tối đa các nguồn lực hạn chế và đảm bảo QoS phù hợp bằng cách sử dụng các

chiến lược và các thuật toán cấp phát tài nguyên khác nhau. Điều khiển đầu

vào, quản lý hàng đợi, lập lịch luồng và kiểm soát năng lượng là những thành

19



phần quan trọng nhất [17] tham gia vào việc thiết kế khung hoạt động của

RRM. Các thành phần này có thể được mô tả như sau:

Điều khiển đầu vào: điều khiển đầu vào sẽ giúp lược đồ RRM đảm bảo

chất lượng dịch vụ cho cả người dùng đến và đang sử dụng. Giúp xác định số

người dùng thích hợp được chấp nhận vào mạng. Để làm được điều này,

thành phần này sẽ giám sát các nguồn tài ngun vơ tuyến đang có và điều

chỉnh luồng vào và luồng đang thực hiện cho phù hợp. Một số lược đồ điều

khiển đầu vào sẽ ưu tiên người dùng trong các lớp dịch vụ khác nhau để đảm

bảo chất lượng dịch vụ theo yêu cầu. Ví dụ: cuộc gọi điện video (hoặc luồng

video) sẽ yêu cấp phát tài nguyên ngay lập tức vì bất kỳ sự chậm trễ nào trong

việc truyền dữ liệu sẽ dẫn đến kết quả không đạt yêu cầu. Ngược lại, sự chậm

trễ vài giây trong việc truyền tin nhắn máy nhắn tin (truyền dữ liệu) không

làm thay đổi nhiều đến người dùng cuối. Bởi vì khơng có hạn chế về sự di

chuyển của các thiết bị di động, các thiết bị này có thể tự do di chuyển từ một

trạm cơ sở (tế bào) này sang một trạm khác. Do đó, ưu tiên các cuộc gọi là

một tính năng quan trọng của mạng di động tế bào được thực hiện bởi lược đồ

kiểm soát đầu vào.

Quản lý hàng đợi: Một yếu tố quan trọng khác của lược đồ RRM là

quản lý hàng đợi, xác định trình tự hành động được thực hiện đối với các gói

tin đến trong hàng đợi của bộ truyền không dây trước khi truyền. Điều này rất

quan trọng vì nó giúp tránh được sự tắc nghẽn trong quá trình truyền. Một hệ

thống quản lý hàng đợi sẽ làm giảm tốc độ truyền dữ liệu khi nó phát hiện ra

rằng các gói dữ liệu trong hàng đợi đã đạt đến một mức độ nhất định và nếu

thêm các gói dữ liệu sẽ dẫn đến việc một số gói tin bị loại bỏ.

Lập lịch: Sự truyền thực sự của các gói dữ liệu ra khỏi hàng đợi được

xử lý bởi phần lập lịch luồng của lược đồ quản lý hàng đợi, xác định hàng đợi

nào(trong số hàng đợi đã sẵn sàng) cần được ưu tiên khi việc truyền đi được

quyết định bởi trình lập lịch luồng dựa trên chính sách lập lịch đã xác định.

Thông thường, kỹ thuật xoay vòng hoặc xoay vòng có trọng số được sử dụng

làm chính sách lập lịch.

Điều khiển cơng suất: Thành phần này dùng để điều khiển nhiễu giữa

những người sử dụng trong cùng một hệ thống ở giới hạn nhất định để đạt

được tốc độ truyền tốt hơn. Trong mạng không dây đa người dùng như mạng

di động tế bào CDMA tất cả người dùng sử dụng cùng một băng thông để

truyền thì cơng suất truyền của người sử dụng được điều khiển bởi thành phần

điều khiển công suất, thông qua cách này làm tăng thêm hiệu suất sử dụng lại

các kênh radio hiện có.

Việc triển khai các ứng dụng MTC qua mạng di động tế bào được thiết

kế theo các đặc trưng của luồng HTC tạo ra một số thách thức đối với RRM.

20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN MẠNG KHÔNG DÂY VÀ CÁC DẠNG TRUYỀN THÔNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×