Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Mô tả, phân tích các pháp tu từ từ vựng và cú pháp

Mô tả, phân tích các pháp tu từ từ vựng và cú pháp

Tải bản đầy đủ - 0trang

là một loại văn học bên cạnh thơ, kịch và tiểu thuyết, gồm nhiều thể: bút kí, hồi

kí, du kí, kí sự, tự truyện... Kí có đặc trưng là tơn trọng sự thật khách quan đời

sống, không hư cấu. Giu-lai-ép cho rằng: “Kí là một biến thể của loại tự sự”.

Nhà văn Tơ Hồi cũng nói: “Kí cũng như truyện ngắn, truyện dài hoặc thơ, hình

thù nó đấy, nhưng vóc dáng nó ln ln đổi mới, đòi hỏi sáng tạo và thích ứng.

Cho nên càng chẳng nên trói nó vào cái khn”.

Những cách tiếp cận có thể khơng giống nhau nhưng các ý kiến kể trên đã

đề cập đến đặc điểm chủ yếu của kí - một loại văn học viết về người thật, việc

thật và chứa đựng những giá trị nghệ thuật, giá trị thẩm mỹ khơng kém gì các tác

phẩm thuộc thể loại thuần văn học. Và xét cho cùng thì ký là một thể loại linh

hoạt, giãn nở với yêu cầu cao hơn về suy nghĩ và tình cảm của chủ thể. Người

viết ký thường mượn cớ thuật lại một sự kiện, một mẩu chuyện nào đó để nhân

đấy nêu lên những vấn đề này khác mà bàn bạc, mà nghị luận, mà triết luận và

trình bày những suy tưởng của mình một cách thoải mái, phóng túng. Vì vậy,

sức sống của kí văn học là dựa trên cơ sở của sự phối hợp nhiều giọng điệu,

nhiều phương thức biểu hiện.

Đặc trưng cơ bản của kí là thường phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ mà xã

hội có nhiều biến động; phản ánh sự việc và con người trong hiện thực khách

quan. Yếu tố chính xác được đặt lên hàng đầu, do đó sức hấp dẫn, sức thuyết

phục của kí một phần lớn nằm ở chính sự việc trong tác phẩm. So với truyện

ngắn, tiểu thuyết thì ký phản ánh nhanh chóng và linh hoạt cuộc sống hơn.

Bám chặt vào người thật việc thật, các tác phẩm, xét một cách tương đối, có

thể rút khoảng cách giữa cuộc sống và sự sáng tạo nghệ thuật, phục vụ kịp thời

hơn cho những nhu cầu hiểu biết thực tế của người đọc. Do vậy, tác phẩm kí

văn học có giá trị như những tư liệu lịch sử quý giá, có ý nghĩa và tác dụng rất

lớn ngay đối với sự sáng tạo nghệ thuật về sau.

Như vậy, kí là thể loại luôn tôn trọng sự thật, như Pô-lê-vôi đã nói: “Kí sự

có địa chỉ chính xác của nó”. Còn Xn Diệu, ơng ca ngợi các loại kí văn học,

xem đó là những thể loại từ trong sự sống trực tiếp mà ra, nó mang theo tất cả sự

mới mẻ và chất xanh tươi của cuộc đời. Và tác phẩm kí văn học có thể hư cấu,

10



nhưng nói chung là ít và thường ở những thành phần không xác định, với mục

đích góp phần tái hiện lại một cách xác thực người thật việc thật. Kí khơng chỉ

có chức năng thơng tin sự thật mà còn chứa đựng những giá trị nghệ thuật, giá

trị thẩm mỹ khơng kém gì các tác phẩm thuộc thể loại thuần văn học, chúng ta

có thể liệt kê một số tác phẩm như: Vũ trung tùy bút (Phạm Đình Hổ), Kỹ nghệ

lấy Tây (Vũ Trọng Phụng), Sơng Đà (Nguyễn Tn), Rất nhiều ánh lửa (Hồng

Phủ Ngọc Tường)… Và dù tuân theo những quy định khá ngặt nghèo trong hư

cấu nghệ thuật, kí vẫn thể hiện đầy đủ những đặc tính văn học của nó.

Nói đến thể loại này, nhà văn Tơ Hồi cho rằng: “Nhà văn là thư ký của

thời đại. Tôi nghĩ danh hiệu cao quý ấy, mệnh lệnh chiến đấu ấy, trước nhất

chúng ta trân trọng tặng những người viết ký… Đó là những tay súng trường,

cũng như những người cầm cày cầm cuốc, họ đông nhất và bao giờ cũng đi

hàng đầu và có mặt khắp nơi trên trận tuyến văn học và đời sống”.

1.2. Hoàng Phủ Ngọc Tường với thể ký

1.2.1. Vài nét về tác giả và sự nghiệp sáng tác

1.2.1.1. Vài nét về tiểu sử

Hoàng Phủ Ngọc Tường tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài Gòn khóa I, ban

Việt - Hán năm 1960; là cử nhân triết học Đại học Văn khoa Huế năm 1964 và

dạy học tại trường Quốc học Huế từ năm 1960 đến 1966. Hoàng Phủ Ngọc

Tường là một trí thức yêu nước, một chiến sĩ trong phong trào đấu tranh chống

Mỹ - Ngụy ở Thừa Thiên - Huế đòi độc lập, thống nhất Tổ quốc từ những năm 50.

Năm 1963, Hoàng Phủ Ngọc Tường là Tổng thư ký tổng hội sinh viên Huế, và là

Tổng thư ký liên minh dân tộc, dân chủ và hòa bình thành phố Huế. Từ năm 1965

đến 1975, Hoàng Phủ Ngọc Tường tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân

tộc. Sau năm 1975, ông từng giữ các chức vụ Trưởng ty văn hóa thơng tin tỉnh

Quảng Trị, Chủ tịch Hội văn nghệ Quảng Trị, Tổng biên tập tạp chí Sơng Hương,

Tạp chí Cửa Việt.

Hồng Phủ Ngọc Tường viết văn, viết báo từ khi còn rất trẻ. Năm 1959,

truyện ngắn Chuyện một người đi qua sa mạc của ông đã báo hiệu sự có mặt

của ơng trên văn đàn. Thành cơng ở cả văn xi và thơ nhưng phải nói rằng

11



Hồng Phủ Ngọc Tường đã dành gần như toàn bộ lao động nghệ thuật của mình

cho thể kí và đã gặt hái những thành tựu xuất sắc.

1.2.1.2. Sự nghiệp sáng tác

Bút kí: Ngơi sao trên đỉnh Phu Văn lâu (1972), Rất nhiều ánh lửa (1979,

giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1980), Ai đã đặt tên cho dòng sơng (1984),

Bản di chúc của cỏ lau (truyện ký, 1984), Hoa trái quanh tơi (1995), Huế - Di

tích và con người (1996), Ngọn núi ảo ảnh (2000), Trong mắt tôi (2001), Rượu

hồng đào (truyện ký, 2001) và một số bút kí đã đăng trên các báo.

Vào năm 2002 Nhà xuất bản Trẻ đã cho xuất bản Tuyển tập Hoàng Phủ

Ngọc Tường gồm 4 tập. Tập 1 là bộ sưu tập những bài nhàn đàm, dù chưa thật

đầy đủ nhưng khá tiêu biểu của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. Tập 2, 3 là

những tác phẩm bút kí đã làm nên tên tuổi của Hồng Phủ Ngọc Tường, là

những đóng góp cho “Bản đại hợp xướng ngơn từ” hồnh tráng cho nền văn học

Việt Nam hiện đại. Tập 4 là tuyển tập những tác phẩm thơ.

1.2.1.3. Những nét đặc sắc của kí Hồng Phủ Ngọc Tường

Với Hoàng Phủ Ngọc Tường, văn học như một cái duyên tiền định, ngay từ

đầu ông đã chọn cho mình thể loại kí. Sự tự do có phần phóng túng của kí rất

thích hợp với kiểu người ln mang trong mình khát khao được “phá vỡ sự kìm

hãm của cái vỏ vật chất của sự vật biểu hiện cùng lúc sự thăng hoa của ý thức”

(Một vài suy nghĩ về thể kí). Kí Hồng Phủ Ngọc Tường bên cạnh những thơng

tin sự kiện có giá trị như những thước phim tư liệu, Hồng Phủ Ngọc Tường

ln bộc lộ một cái tơi trữ tình và trí tuệ, bộc lộ sâu sắc những suy tư, cảm xúc

chân thành sâu lắng. Trong sáng tác, Hồng Phủ Ngọc Tường ln trăn trở

“Trước khi chảy qua ngòi bút, những điều ấy đã chảy qua trái tim của anh như

một dòng máu chưa?” ( Một vài suy nghĩ về thể kí ).

Đánh giá chung về sự nghiệp văn chương của Hoàng Phủ Ngọc Tường,

sách Ngữ văn 12 có đoạn viết: “Hồng Phủ Ngọc Tường là một trong những

nhà văn chuyên về bút kí. Nét đặc sắc trong sáng tác của ông là sự kết hợp

nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy

tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hóa, lịch

12



sử, địa lí...Tất cả được thể hiện qua lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm và

tài hoa”.

1.3. Các biện pháp tu từ từ vựng và cú pháp

1.3.1. Các biện pháp tu từ từ vựng

1.3.1.1. So sánh

So sánh là một dạng thức phổ biến trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, bởi vì

khơng có cách gì khác làm cho người nghe hiểu nhanh điều mình nói bằng một

sự so sánh cụ thể. Hình thức đầy đủ nhất của phép so sánh tu từ gồm bốn yếu tố:

cái so sánh, cơ sở so sánh, từ so sánh, cái được so sánh. Tùy từng trường hợp có

thể hoặc đảo trật tự so sánh, hoặc bớt một yếu tố. Về cấu tạo nội dung, ở cả hai

vế các đối tượng về bản chất là khơng đồng loại nhưng có những thuộc tính cá

biệt giống nhau. Những thuộc tính cá biệt giống nhau là hạt nhân của nội dung

so sánh. Chẳng hạn như đoạn văn Nguyễn Cơng Hoan miêu tả hình dáng, kích

thước, màu sắc, dáng điệu của bộ râu vị quan phụ mẫu như sau: “Cái râu mới lạ

làm sao! Nó đen như vệt hắc ín và cong như cái lưỡi liềm, nó nhọn như mũi dùi

nung và hầu như đầu dao trổ. Nó khum khum quắp lấy hai mép như hai cánh

dơi, nó vất vểu ra hai mang tai gần như hai sừng củ ấu... Nó lại giúp cho cái

mồm lèm bèm thêm sự dữ dội” (Bước đường cùng).

Trong văn chương, so sánh ngồi chức năng nhận thức nó còn là phương

thức tạo hình, phương thức gợi cảm. Nói đến văn chương là nói đến so sánh.

Gơlup đã phát biểu: “Hầu như bất cứ sự biểu đạt nào cũng có thể chuyển

thành hình thức so sánh”. Một so sánh đẹp là so sánh phát hiện. Phát hiện

những gì người thường khơng nhìn ra, khơng nhận thấy . Chính vì vậy, so sánh

nghệ thuật là đôi cánh giúp chúng ta bay vào thế giới của cái đẹp, của tưởng

tượng hơn là đến ngưỡng của lôgic học.

1.3.1.2. Ẩn dụ

Căn cứ vào từ loại và vào chức năng, có thể chia ẩn dụ ra ba loại là ẩn dụ

định danh, ẩn dụ nhận thức và ẩn dụ hình tượng. Ẩn dụ định danh là một thủ

pháp có tính chất thuần túy kĩ thuật dùng để cung cấp những tên gọi mới bằng

cách dùng vốn từ vựng cũ. Ví dụ: đầu làng, chân trời, tay ghế... đây là những ẩn

13



dụ đã được từ vựng hóa xuất hiện do kết quả của việc thay thế một tên gọi này

bằng một tên gọi khác. Ẩn dụ nhận thức nảy sinh ra do kết quả của việc làm biến

chuyển khả năng kết hợp của những từ chỉ dấu hiệu khi làm thay đổi ý nghĩa của

chúng từ cụ thể đến trừu tượng. Ví dụ: những tính từ như giá lạnh, mơn mởn,

hiền hòa vốn có ý nghĩa cụ thể và thường có khả năng kết hợp với những danh

từ như băng tuyết, cây lá, con người, nay được ẩn dụ hóa, được dùng với ý

nghĩa trừu tượng và có khả năng kết hợp với những từ như tâm hồn, tuổi xuân

(tâm hồn giá lạnh, tuổi xuân mơn mởn). Loại ẩn dụ từ vựng này là nguồn tạo

nên hiện tượng đa nghĩa. Ẩn dụ hình tượng là phương thức bình giá riêng của cá

nhân nhà văn. Bằng những sắc thái nghĩa, bằng ý nghĩa hình tượng tìm kiếm

được, ẩn dụ hình tượng tác động vào trực giác của người nhận và để lại khả

năng sáng tạo. Ẩn dụ hình tượng là nguồn sản sinh ra đồng nghĩa. Ví dụ: “Mặt

trời chân lý chói qua tim” (Tố Hữu).

1.3.1.3. Nhân hóa

Về mặt hình thức, nhân hóa có thể được cấu tạo theo hai cách: Dùng những

từ ngữ chỉ tính chất, hoạt động của người để biểu thị những tính chất hoạt động

của đối tượng không phải người; và coi các đối tượng không phải người như con

người và tâm tình, trò chuyện với chúng. Như trong tác phẩm Người lái đò sơng

Đà, Nguyễn Tn đã miêu tả một trận đánh giáp lá cà không cân sức giữa chiếc

thuyền bé nhỏ của con người với luồng nước hung hãn độc ác và những đồn

qn đá tảng lì lợm: “Phối hợp với đá, nước thác reo hò làm thanh viện cho đá,

những hòn đá bệ vệ oai phong lẫm liệt. Một hòn ấy trơng nghiêng thì y như là

đang hất hàm hỏi cái thuyền phải xưng tên tuổi trước khi giao chiến. Một hòn

khác lùi lại một chút và thách thức cái thuyền có giỏi thì cứ tiến vào”.

1.3.1.4. Hốn dụ

Về cấu tạo nội dung, hoán dụ là cách lâm thời lấy tên đối tượng này để gọi

tên đối tượng khác nhưng phải dựa trên sự liên tưởng phát hiện ra mối quan hệ

tương cận giữa hai đối tượng. Trong thực tế chúng ta thường gặp những hoán dụ

tu từ được cấu tạo dựa vào những mối quan hệ lôgic khách quan như: bộ phận

và toàn thể; chủ thể (người) và vật sở thuộc (y phục, đồ dùng); hành động, tính

14



chất và kết quả hành động, tính chất; hành động và chủ thể; số lượng xác định và

số lượng không xác định; vật chứa đựng và vật được chứa đựng; cái cụ thể và

cái trừu tượng... Ví dụ: “Hai chữ “sáng lòng” của tiếng Việt rất hay, trong lòng

có sáng thì mắt mới sáng. Mắt sáng nhờ lòng sáng, lòng càng sáng, mắt càng

sáng thì càng nhìn rõ cái mới” (Phạm Văn Đồng). Ở đây, từ “mắt sáng” biểu thị

sự nhận thức ngày càng sâu sắc, mới mẻ và đúng đắn; “lòng sáng” biểu thị tình

cảm tốt đẹp, cao q, biết yêu thương thù hận. Mối quan hệ biện chứng giữa con

mắt và tấm lòng là mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức và tình cảm, trong đó

tình cảm, tấm lòng là động lực, là cơ sở cho nhận thức.

1.3.2. Các biện pháp tu từ cú pháp

1.3.2.1. Những kiểu câu chuyển đổi tình thái

Thứ nhất là câu hỏi - khẳng định (câu hỏi tu từ), tức là người hỏi chỉ nhằm

để khẳng định một ý kiến nào đó chứ khơng phải để nghe người đối thoại thơng

tin điều mình muốn biết. Câu hỏi tu từ dùng hình thức câu hỏi nhưng khơng phải

để hỏi mà cái chính là để tăng tính diễn cảm của phát ngơn vốn có nội dung

khẳng định hoặc phủ định hoặc sai khiến một cách có cảm xúc. Ví dụ: “Văn thơ

ta ngày xưa nói lên cái đẹp của đất nước cũng có những câu rất hay nhưng

chưa nhiều. Phải chăng người lao động thì quá tất bật với cuộc sống gay go,

còn nhà nho thì lại vướng vì cái nhìn sách vở?” (Hồi Thanh).

Thứ hai là câu hỏi - phủ định. Kiểu câu này có hình thức hỏi nhưng để phủ

định. Trong giao tiếp, người đối thoại dựa vào tình huống để xác định tình thái

của câu hỏi là xác thực hay là câu hỏi - phủ định. Ví dụ: "Một cái oan hồn đã

hiện lên, đã ốp đồng vào miệng người sống mà thốt ra tồn những lời hằn học,

cái oan hồn ấy khơng chịu buông tha ông nữa rồi. Cái oan hồn ấy đã lên tiếng

nói, thề quyết làm người sống phải lụn bại mới nghe. Biết đến lúc nào cái nàng

hầu cụ Huấn mới ngi giận và cái âm ốn kia mới hết theo ông?” (Khoa thi

cuối cùng - Nguyễn Tuân). Câu hỏi - phủ định được nhà văn sử dụng vang lên

như một hồi chuông réo rắt giữa cái xã hội thực dân nửa phong kiến lúc bấy giờ,

khiến cho sức ám ảnh của chuyện cứ xốy mãi vào trong lòng người đọc, “biết

đến bao giờ” hay đúng hơn là sẽ không bao giờ, không bao giờ nàng hầu cụ

15



Huấn nguôi giận, cái oan hồn đó còn theo ơng mãi cho tới khi ông thôi vướng

bận vào chốn quan trường.

“Khi sao phong gấm rủ là,

Giờ sao tan tác như hoa giữa đường?

Mặt sao dày gió dạn sương,

Thân sao bướm chán ong chường bấy thân?”

1.3.2.2. Phép lặp cú pháp

Ví dụ: “Tay ơng lêu nghêu như cái sào, chân ông lúc nào cũng khuỳnh

khuỳnh gò lại như kẹp lấy một cuống lái tưởng tượng, giọng ông ào ào như

tiếng nước trước mặt ghềnh sơng, nhỡn giới ơng vòi vọi như lúc nào cũng mong

một cái bến xa nào đó trong sương mù” (Người lái đò sơng Đà - Nguyễn Tn).

Câu văn trên là một câu ghép gồm bốn vế câu, trong đó mỗi vế câu là một kết

cấu C-V; mỗi vế câu đều được cấu tạo theo mơ hình: C = Danh từ + Đại từ (làm

định ngữ), V= Tính từ + “như” + bổ ngữ. Cấu trúc lặp lại đó tạo cho câu văn tính

nhịp điệu hài hòa, khiến ta có cảm giác như những nhịp chèo đò của ơng lái một người anh hùng cưỡi gió đạp sóng, người nghệ sĩ chở đò có tay lái tài hoa.

1.3.2.3. Phép mở rộng cấu trúc câu

Dùng cụm C-V làm thành phần câu hoặc thành phần của cụm từ để mở

rộng câu. Chẳng hạn: “Văn chương gây cho ta những tình cảm ta khơng có,

luyện cho ta những tình cảm ta sẵn có”, trong đó cụm C-V “ta khơng có”, “ta

sẵn có” được sử dụng làm thành phần của cụm từ để mở rộng câu.

Dùng thành phần phụ chú để mở rộng cấu trúc câu nhằm chú giải thêm

một khía cạnh nào đó có liên quan đến sự tình nêu trong câu, giúp người đọc

hiểu hơn về nội dung của câu hay dụng ý của người viết. Thành phần phụ chú có

tác dụng làm sáng tỏ cho phần có liên quan bằng việc giải thích, chứng minh, bổ

sung, bình luận... Ví dụ: “Lão làm bộ đấy! Thật ra thì lão chỉ tâm ngẩm thế,

nhưng cũng ra phết đấy chứ chả vừa đâu: lão vừa xin tơi một ít bả chó” (Nam

Cao) (thành phần phụ chú có chức năng chứng minh), “Cuộc sống của người lái

đò sơng Đà quả là một cuộc chiến đấu hàng ngày với thiên nhiên, một thứ thiên



16



nhiên Tây Bắc có nhiều lúc trơng nó thành ra diện mạo và tâm địa của thứ kẻ

thù số một” (Nguyễn Tuân) (thành phần phụ chú có chức năng bình luận).

2. Tìm hiểu các biện pháp tu từ từ vựng và cú pháp trong tác phẩm

“Ai đã đặt tên cho dòng sơng?”.

2.1. Giá trị biểu hiện của biện pháp tu từ qua nhan đề của tác phẩm

“Ai đã đặt tên cho dòng sơng?”.

Đặt đầu đề cho một văn bản ngày nay đã trở thành một “nghệ thuật” phức

tạp mà yếu tố chi phối là mục đích sử dụng văn bản. Với thể loại ký, một loại

hình nghệ thuật, một hình thức hoạt động thực tiễn - tinh thần có tham vọng can

dự trực tiếp vào mọi lĩnh vực của đời sống, thì ln hướng đến đặc trưng cơ bản

nhất là tính xác thực của việc ghi chép. Cách đặt đầu đề của văn bản thường

định hướng cho người đọc những thông tin cơ bản của văn bản. Như P.Teo đã

khẳng định: “Đầu đề cũng là một cách thức thể hiện tư tưởng hay thái độ của

người viết nhằm hướng người đọc theo một cách hiểu nào đó”.

Qua cấu trúc ngữ pháp của các đầu đề trong kí Hồng Phủ Ngọc Tường,

chúng ta có thể thấy ngồi tính xác thực, đầu đề còn chứa đựng những giá trị

nghệ thuật, giá trị thẩm mỹ một cách sâu sắc. Câu hỏi tu từ Ai đã đặt tên cho

dòng sơng? đã nhấn mạnh ðối týợng phiếm chỉ “ai” và ðặc trýng về hýõng thõm

của dòng sơng Hương nhằm ngợi ca tình yêu thiên nhiên, tình cảm sâu nặng

dành cho q hương xứ sở. Dòng sơng ln là một biểu tượng đẹp cho quê

hương và là đối tượng thẩm mỹ, là nguồn cảm hứng cho thi ca. Sông Hương

không chỉ là dòng sơng của cảm hứng nghệ thuật, dòng chảy của sơng Hương là

dòng chảy của tâm linh, là dấu ấn tâm hồn của người dân xứ Huế. Dòng sông

với những vẻ đẹp làm say đắm bao tao nhân mặc khách. Trong cái nhìn tinh tế

của Tản Đà, sơng Hương là “dòng sơng trắng - lá cây xanh”, trong cái “hùng

tâm tráng chí” của Cao Bá Qt, dòng sơng như “kiếm dựng trời xanh” (Ai đã

đặt tên cho dòng sơng?), Nguyễn Du thì thở dài “Hương giang nhất phiến

nguyệt - Kim cổ hứa đa sầu” (Một vầng trăng sông Hương. Cổ kim buồn khơn

xiết) (Sử thi buồn). Với Hồng Phủ Ngọc Tường, sông Hương vừa là một cảnh

quan thiên nhiên lại vừa là một thành phần của văn hóa phi vật thể của cố đơ

17



Huế. Sơng Hương - dòng sơng in bóng tâm hồn cũng là dòng sơng soi chiếu

phận người. Dòng sơng đã gợi cho tác giả một sự liên tưởng khi lần giở từng

trang quá khứ. Sông Hương hiện lên trong sáng tác của Hoàng Phủ Ngọc Tường

ở nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau. Với tình cảm sâu nặng, tài quan sát tỉ mỉ

của một nhà địa lý có tầm văn hóa sâu rộng và vốn ngơn từ phong phú, Hồng

Phủ Ngọc Tường đã tái hiện thủy trình của sơng Hương uốn khúc thăng trầm

qua nhiều vùng miền khi dữ dội hoang dại, khi dịu dàng, mềm mại.

Sông Hương - cái tên đẹp như vậy từ đâu mà có? Câu hỏi bâng khuâng của

một nhà thơ Hà Nội đã được lý giải bằng một huyền thoại: Vì u q con sơng

xinh đẹp, con người ở hai bờ sơng Hương đã nấu nước trăm lồi hoa đổ xuống

lòng sơng, để làn nước thơm tho mãi mãi. Câu hỏi tu từ “Ai đã đặt tên cho dòng

sơng?” được tác giả đặt ra trong đầu đề và lặp lại hai lần trong tác phẩm nhằm

lưu ý mọi người về cái tên đẹp của dòng sơng và cũng là cái cớ để tác giả ngợi

ca vẻ đẹp của quê hương. Câu hỏi được đặt ra nhưng không mong đợi câu trả lời

vì đáp án của nó là huyền thoại trong dân gian nhằm khẳng định tình yêu tha

thiết của người dân cố đơ với dòng sơng q hương; đồng thời thể hiện lòng biết

ơn chân thành, sự thán phục, ngưỡng mộ của tác giả và mọi người đối với những

người khai phá mảnh đất này. Và đặc biệt là khát khao được gửi gắm vào tên gọi

“sông Hương” tất cả “những ước vọng muốn đem cái Đẹp và tiếng Thơm để xây

đắp văn hóa và lịch sử”.

2.2. Giá trị ngữ nghĩa của các biện pháp tu từ cú pháp trong tác phẩm

“Ai đã đặt tên cho dòng sơng”

Ký của Hồng Phủ Ngọc Tường thiên về bộc lộ cảm xúc, mỗi chi tiết đời

sống được ông cảm nhận và khám phá không chỉ bằng giác quan mà bằng cả

tâm hồn và trái tim người nghệ sĩ. Trong “Ai đã đặt tên cho dòng sơng”, tác giả

miêu tả: “Chính trong những giây phút bồng bềnh giữa cõi thực và cõi thơ ấy,

tôi đã cảm nhận ra cái âm hưởng sâu thẳm của Huế trên mỗi trang Truyện

Kiều: dòng sơng đáy nước in trời và những nội cỏ thơm, nắng vàng khói biếc,

nỗi u hoài của dương liễu và sắc đẹp nồng nàn của hoa trà mi, những mùa thu

quan san, những vầng trăng thắm thiết”. Với 7 ngữ danh từ được sử dụng trong

18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Mô tả, phân tích các pháp tu từ từ vựng và cú pháp

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×