Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ YÊU CẦU VÀ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG CÂU HỎI ĐỂ PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC VÀ KHẮC SÂU KIẾN THỨC CHO HỌC SINH TRONG MÔN LỊCH SỬ

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ YÊU CẦU VÀ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG CÂU HỎI ĐỂ PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC VÀ KHẮC SÂU KIẾN THỨC CHO HỌC SINH TRONG MÔN LỊCH SỬ

Tải bản đầy đủ - 0trang

Trong mỗi bài, mỗi mục đều ẩn chứa các tình huống có vấn đề. Bản thân các

vấn đề bao gồm các vấn đề lớn hay nhỏ, vấn đề phức tạp hay đơn giản. Giáo viên cần

xác định kiến thức trọng tâm cần đạt của tiết học để xây dựng tình huống có vấn đề

phù hợp. Có những loại tình huống có vấn đề sau:

Tình huống nghịch lí: là tình huống vấn đề xuất hiện đứng trước một sự lựa

chọn rất khó khăn giữa hai hay nhiều phương án giải quyết.

Tình huống bác bỏ: là tình huống vấn đề đòi hỏi phải bác bỏ một luận điểm ,

kết luận sai lầm. để đạt được điều đó, học sinh phải tìm ra chổ yếu, chỗ sai, chỗ thiếu

chính xác để chứng minh tính sai lầm của vấn đề.

Tình huống tại sao: là tình huống phổ biến trong dạy học. tình huống này đòi

hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức và kĩ năng vốn có để giải quyết vấn đề đặt ra.

Học sinh phải tìm ra được các mối liên hệ đặc biệt là mối liên hệ nhân quả. Tìm ra

được nguyên nhân dẫn đến kết quả đó. Trên cơ sở đó, giáo viên linh động, sáng tạo

xây dựng tình huống có vấn đề với hệ thống câu hỏi phù hợp.

Ví dụ: Khi dạy bài “Các quốc gia cổ đại phương Đông” - tiết 2, kiến thức

trọng tâm là những thành tựu lớn về văn hoá của các quốc gia cổ đại phương Đơng.

Để tạo hứng thú, phát huy tính tích cực trong học tâp của học sinh, mở đầu bài học tơi

dẫn dắt ngắn gọn và đưa học sinh vào tình huống có vấn đề: Vì sao nói phương Đơng

là cái nôi của nhân loại, nơi mà lần đầu tiên con người đã biết sáng tạo ra chữ viết,

văn học, nghệ thuật và nhiều tri thức khoa học khác? (Tình huống tại sao). Những

thành tựu văn hóa nào của người phương Đông thời cổ đại mà đến nay chúng ta vẫn

thừa hưởng?

Với cách giới thiệu bài như trên, giáo viên đã tạo cho học sinh một sự tò mò,

mong muốn khám phá.

Ví dụ: Khi dạy bài “Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành độc lập dân

tộc (Thế kỉ II đến đầu thế kỉ X)”, kiến thức trọng tâm là những nội dung cơ bản chính

sách đơ hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc ở nước ta về tổ chức bộ máy cai

trị, chính sách bóc lột kinh tế, chính sách đồng hóa dân tộc; Những chuyển biến kinh

tế, văn hóa, xã hội nước ta trong thời Bắc thuộc. Mở đầu bài học tôi dẫn dắt: Năm 179

TCN, Âu Lạc bị Triệu Đà xâm chiếm. Từ đó, đến đầu thế kỉ X, các triều đại phong

kiến phương Bắc từ triệu đến Đường thay nhau đô hộ nước ta. Chúng đã thực hiện

nhiều chính sách cai trị thâm độc với âm mưu đồng hóa dân tộc ta. Từ đó tơi đưa ra

câu hỏi có tình huống cho học sinh:

- Các triều đại phong kiến phương Bắc đã thực hiện những chính sách cai trị

gì đới với dân tộc ta?



10



- Các triều đại phong kiến phương Bắc có thực hiện được âm mưu đồng hóa

dân tộc ta khơng? Vì sao? (Tình huống nghịch lí).

Để có thể trả lời cho những câu hỏi trên, học sinh cần tập trung trong giờ học,

tích cực huy động kiến thức và kĩ năng để từng bước tìm ra lời giải đáp trên cơ sở sự

hướng dẫn của giáo viên.

Ví dụ: Khi dạy bài “Các quốc gia cổ đại phương Tây - Hi Lạp và Rôma” - tiết

2, Tôi giới thiệu nội dung bài mới: Dựa vào trình độ phát triển cao về kinh tế công

thương và thể chế dân chủ, cư dân cổ đại Địa Trung Hải đã để lại cho nhân loại một

nền văn hố với nhiều thành tựu rực rỡ. Tơi đưa ra câu hỏi:

- Các quốc gia cổ đại phương Tây đã có đóng góp gì về mặt văn hóa cho nhân

loại?

- Vì sao nói các hiểu biết khoa học đến đây mới trở thành khoa học?

- Tại sao văn hóa các quốc gia cổ đại phương Tây phát triển cao hơn các q́c

gia cổ đại phương Đơng?

Tình huống trên khơng chỉ giới hạn trong nội dung bài mới tiếp thu mà học

sinh phải tư duy, nhớ lại kiến thức đã tiếp thu ở bài 3 và bài 4 (tiết 1) để so sánh, trả

lời.

Ví dụ: Khi dạy bài 23 “Phong trào Tây Sơn và sự nghiệp thống nhất đất nước,

bảo vệ Tổ quốc thế kỉ XVIII”, tôi dẫn dắt học sinh vào bài mới với tình huống có vấn

đề sau: Vào cuối thế kỉ XVIII, chế độ phong kiến ở Đàng Ngoài cũng như Đàng Trong

bước vào giai đoạn khủng hoảng suy tàn. Trong bối cảnh đó, nước ta lần lượt bị Xiêm

và nhà Thanh nhòm ngó và xâm lược. Tơi đặt câu hỏi: Vậy, trước tình hình đó, u

cầu lịch sử đặt ra là gì? Tơi để học sinh suy nghĩ và phát biểu, các em có nhiều ý kiến

khác nhau (Ví dụ: cần phải thống nhất đất nước, đánh đổ chính quyền Lê-Trịnh và

chúa Nguyễn; cần đánh bại giặc ngoại xâm để bảo vệ nền độc lập dân tộc…) Tôi đánh

giá ý kiến trên và giới thiệu bài mới: “Sứ mệnh lịch sử đó đã được phong trào nơng

dân Tây Sơn hồn thành. Chúng ta hãy xem những vấn đề trên được phong trào Tây

Sơn giải quyết như thế nào? Sau đó tơi vào bài mới. Cách đặt vấn đề như vậy sẽ thu

hút được sự chú ý học tập của học sinh. Kích thích sự tìm tòi để đi đến giải quyết vấn

đề của học sinh.

Ví dụ: Khi dạy bài 31 “Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII” Tiết 1. Sau

khi kiểm tra bài cũ học sinh, tôi mở bài một cách trực tiếp: Cách mạng tư sản Pháp

cuối thế kỉ XVIII là một cuộc cách mạng xã hội sâu rộng và triệt để nhất. V. Lênin gọi

“cách mạng Pháp là đại cách mạng”. Để thấy rõ điều đó, cơ trò chúng ta cùng nhau

tìm hiểu bài mới. Đồng thời tôi nêu rõ nhiệm vụ của các em sau bài học: Lí giải được

vì sao khẳng định rằng cách mạng tư sản Pháp 1789 là cuộc cách mạng triệt để nhất

11



so với các cuộc cách mạng tư sản Âu-Mĩ trước đó? Cách đặt vấn đề như vậy sẽ thu

hút sự chú ý học tập của học sinh. Bởi vì trước đó các em đã tìm hiểu cách mạng tư

sản Anh và Bắc Mĩ. Nhưng yêu cầu nhận thức được đặt ra ở bài 31 là điều mới mẻ,

cần liên hệ so sánh kiến thức học sinh chưa biết với kiến thức đã biết, khiến cho các

em có nhu cầu, hứng thú muốn tìm hiểu.

Lưu ý: Câu hỏi dạng này thường có tính chất bài tập. Muốn trả lời được phải

huy động kiến thức cơ bản của tồn bài. Chính vì vậy học sinh phải ch̉n bị bài kĩ

lưỡng ở nhà theo câu hỏi định hướng giáo viên giao cho các em chuẩn bị bài. Ở trên

lớp, đòi hỏi học sinh tập trung theo dõi bài giảng, biết chọn lọc sự kiện và trình bày

trước lớp.



2.2.2. Xây dựng hệ thống câu hỏi theo cấp độ nhận thức cho cả bài học.

Trong sách giáo khoa, thường sau mỗi mục, mỗi bài có từ 1 đến 3 câu hỏi,

những câu hỏi này là cơ sở để giáo viên xác định kiến thức trong sách, đồng thời bổ

sung để xây dựng hệ thống câu hỏi của bài. Việc sử dụng câu hỏi trong dạy học là một

nghệ thuật. Cho nên, khi soạn bài, giáo viên cần xây dựng hệ thống câu hỏi cho cả bài

học, câu hỏi được sắp xếp theo một trình tự phù hợp với các hoạt động học tập. Xây

dựng hệ thống câu hỏi phải mang tính vừa sức, hợp đối tượng học sinh để kích thích

được sự tìm tòi, sáng tạo tránh nhàm chán với những loại câu hỏi đều đều.

Hệ thống câu hỏi theo cấp độ nhận thức giúp cho giáo viên đạt được mục tiêu

của bài dạy, học sinh nắm được nội dung của bài học, phát huy được tính chủ động,

tích cực, sáng tạo của học sinh trong học tập. Căn cứ vào cấp độ nhận thức, có các loại

câu hỏi sau:

- Nhận biết: Với các động từ như nêu, liệt kê, trình bày, kể tên…

- Thơng hiểu: Với các động từ như giải thích, vì sao, tại sao, hãy lí giải…

- Vận dụng thấp: Với các động từ như so sánh, phân tích, chứng minh…

- Vận dụng cao: Với các động từ như bình luận, nhận xét, đánh giá, rút ra bài

học, liên hệ thực tiễn…

Ví dụ: Khi dạy bài 30 “Chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc

Mĩ”. Tôi xây dựng hệ thống câu hỏi theo cấp độ nhận thức như sau:

- Nhận biết: Hãy nêu rõ tình hình kinh tế, xã hội Bắc Mĩ trước cuộc chiến tranh

giành độc lập. Trình bày diễn biến chính của cuộc chiến tranh giành độc lập của 13

bang thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ. Yếu tố nào giúp Bắc Mĩ giành chiến thắng trong cuộc

chiến tranh giành độc lập của 13 bang thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ?



12



- Thông hiểu: Tại sao Chính phủ Anh lại kìm hãm sự phát triển của CNTB ở

Bắc Mĩ?

- Vận dụng thấp: So sánh chiến tranh giành độc lập của 13 bang thuộc địa Anh

ở Bắc Mĩ với cách mạng tư sản Hà Lan và cách mạng tư sản Anh.

- Vận dụng cao: Em có suy nghĩ gì khi được tiếp xúc với bản Tuyên ngôn độc

lập năm 1776 của nước Mĩ? Liên hệ với bản Tuyên ngôn độc lập 2/9/1945 do Chủ tịch

Hồ Chí Minh soạn thảo. (Hoặc bài học này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh học tập

như thế nào?)

Ví dụ: Khi dạy bài 31 “Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII”. Tôi xây

dựng hệ thống câu hỏi theo cấp độ nhận thức như sau:

- Nhận biết: Nêu những nét nổi bật về chính tri, kinh tế, xã hội nước Pháp trước

cách mạng 1789. Hoặc, trước cách mạng tình hình chính tri, kinh tế, xã hội nước Pháp

có gì nổi bật? Những nhà tư tưởng tiến bộ Pháp đã có vai trò như thế nào trong việc

ch̉n bị cho cách mạng. Nguyên nhân trực tiếp dẫn tới cách mạng tư sản Pháp. Lập

bảng thống kê các giai đoạn phát triển của cách mạng tư sản Pháp (theo mẫu giáo viên

yêu cầu). Trình bày ý nghĩa lịch sử của cách mạng tư sản Pháp.

- Thơng hiểu: Tại sao nói thời kì chun chính Gia-cơ-banh là đỉnh cao của

cách mạng tư sản Pháp?

- Vận dụng thấp: So sánh cách mạng tư sản Pháp với các cuộc cách mạng tư

sản đã học (cách mạng tư sản Hà Lan, cách mạng tư sản Anh, chiến tranh giành độc

lập của 13 bang thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ) về nhiệm vụ, động lực, hình thức, kết quả, ý

nghĩa.

- Vận dụng cao: Khi đề cập đến cách mạng tư sản Pháp, Lênin nhận xét: “Cách

mạng Pháp xứng đáng là một đại cách mạng. Nó đã làm biết bao nhiêu việc cho giai

cấp của nó, tức là giai cấp tư sản, đến nỗi trọn thế kỉ XIX là thế kỉ đem lại văn minh

và văn hóa cho tồn thể nhân laoij đã diến tiến dưới dấu hiệu của cách mạng Pháp”.

Em hãy cho biết ý kiến của mình về nhận xét trên.

Như vậy, các dạng câu hỏi nêu trên tạo thành một hệ thống câu hỏi hồn chỉnh,

giúp cho học sinh trong q trình học tập lịch sử phát hiện ra nguyên nhân, diễn biến,

kết quả và ý nghĩa của một sự kiện hay một quá trình lịch sử. Giáo viên nên vận dụng

nhuần nhuyễn trong các tiết dạy nhằm giúp các em vừa biết được các sự kiện vừa đi

sâu hiểu bản chất của sự kiện. Những dạng câu hỏi trên khơng chỉ đòi hỏi học sinh

nhớ các sự kiện lịch sử cơ bản mà phải suy nghĩ nhận thức sâu sắc bản chất của sự

kiện lịch sử từ đó vận dụng vào giải quyết vấn đề của cuộc sống.

13



2.2.3. Xây dựng câu hỏi củng cố toàn bài, chương.

Kiến thức lịch sử là một chuỗi mắt xích, có liên quan với nhau. Vì vậy, giáo

viên cần phải giúp học sinh nhận thức rõ mối liên quan giữa các sự kiện lịch sử. Nhằm

giúp học sinh nhận thức kiến thức lịch sử đã học sâu sắc hơn, biết tổng hợp, so sánh,

giải thích, phân tích, đánh giá các sự kiện lịch sử đã học sau một bài, một chương tôi

thường sử dụng những câu hỏi nâng cao, tổng hợp kiến thức của toàn bài hoặc chương

để học sinh suy nghĩ, tìm đáp án trả lời nhằm phát huy tính tích cực học tập, phát

triển tư duy của học sinh, giúp các em nhận thức rõ vai trò của mơn lịch sử trong cuộc

sống, rút ra những bài học kinh nghiệm cho thực tiễn.

Ví dụ: Khi dạy xong chương 2-Xã hội cổ đại. Tôi đưa ra các câu hỏi để củng

cố chương: So với văn hóa cổ đại phương Đơng, văn hóa cổ đại Hi Lạp và Rơ- ma

phát triển như thế nào? Vì sao văn hóa cổ đại Hi Lạp và Rơ-ma lại phát triển được như

thế?

Ví dụ: Khi dạy bài 19 “Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ở các thế kỉ

X-XV”. Tôi đưa ra các câu hỏi để củng cố bài:

- Hãy phân tích nguyên nhân thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống ngoại

xâm ở các thế kỉ X-XV.

- Hãy phân tích ý nghĩa lịch sử của các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ở

các thế kỉ X-XV.

Ví dụ: Khi dạy xong Chương 1-các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỉ XVI

đến cuối XVIII. Tôi đưa ra các câu hỏi để củng cố chương:

- So sánh cách mạng tư sản Hà Lan, cách mạng tư sản Anh, chiến tranh giành

độc lập của 13 bang thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ và cách mạng tư sản Pháp. (giáo viên gợi

ý cho học sinh tìm những điểm giống và khác về nhiệm vụ, động lực, hình thức, kết

quả, ý nghĩa.

- Hãy chọn một sự kiện lịch sử tiêu biểu về cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế

kỉ XVI đến cuối XVIII mà em thích và giải thích tại sao lại lựa chọn sự kiện đó.

- Trong các cuộc cách mạng tư sản từ giữa thế kỉ XVI đến cuối XVIII xuất hiện

nhiều nhân vật lịch sử. Em thích nhất nhân vật lịch sử nào? Tại sao?



2.2.4. Lựa chọn câu hỏi để rèn luyện kĩ năng thảo luận nhóm

Để rèn luyện kĩ năng thảo luận nhóm cho học sinh, bên cạnh cơng tác tổ chức

(phân công nhiệm vụ, chuẩn bị tài liệu, phương tiện hỗ trợ…) thì việc sử dụng câu hỏi

đóng một vai trò hết sức quan trọng vì nó là chủ đề để thảo luận, để học sinh tự mình

giải quyết những mâu thuẫn trong kiến thức. Nếu sử dụng câu hỏi quá dễ sẽ tạo tâm lí

14



nhàm chán (chẳng có gì để thảo luận), còn sử dụng câu hỏi quá khó, vượt xa khả năng

hiểu biết của học sinh sẽ gây áp lực rất lớn. Do đó, việc xây dựng câu hỏi có tác dụng

rất lớn trong việc rèn luyện kĩ năng thảo luận nhóm của học sinh.

Ví dụ: Khi dạy bài “Các quốc gia cổ đại phương Tây” (Tiết 2), tơi đưa câu hỏi

thảo luận nhóm như sau:

- Nhóm 1: Những hiểu biết của cư dân Địa Trung Hải về lịch và chữ viết. So

với cư dân cổ đại phương Đơng có gì tiến bộ hơn? Ý nghĩa của việc phát minh ra chữ

viết?

- Nhóm 2: Hãy trình bày những hiểu biết về các lĩnh vực khoa học của cư dân

cổ đại phương Tây-Hy Lạp và Rôma? Tại sao nói: "Khoa học đã có từ lâu nhưng đến

Hy Lạp, Rôma khoa học mới thực sự trở thành khoa học"?

- Nhóm 3: Nêu những thành tựu về văn học, nghệ thuật của cư dân cổ đại Địa

Trung Hải. Rút ra nhận xét.

Ví dụ: Khi dạy bài “Trung Quốc thời phong kiến” (Tiết 2), tơi đưa câu hỏi thảo

luận nhóm như sau:

Nhóm 1: Đánh giá mặt tích cực và hạn chế của Nho giáo.

Nhóm 2: So sánh sự phát triển của sử học qua các thời kì.

Nhóm 3: Giá trị nội dung các tác phẩm văn học Trung Quốc thời phong kiến.

Nhóm 4: Rút ra nhận xét về các thành tựu khoa học kĩ thuật của Trung Quốc

thời phong kiến. Những hiểu biết của em về “Tứ đại phát minh”.

Ví dụ: Khi dạy bài “Ấn Độ thời phong kiến” (Tiết 1), tơi đưa câu hỏi thảo luận

nhóm như sau:

Nhóm 1: Nêu khái quát quá trình hình thành vương triều Gúp-ta. Phân tích vai

trò về mặt chính trị của vương triều này.

Nhóm 2: Điểm nổi bật trong văn hố Ấn Độ dưới thời Gúp ta là gì?

Nhóm 3: Văn hố Ấn Độ thời Gúp-ta đã ảnh hưởng như thế nào đến Ấn Độ

giai đoạn sau và ảnh hưởng ở những lĩnh vực nào?

Ví dụ: Khi dạy bài “Phong Trào Tây Sơn và sự nghiệp thống nhất đất nước,

bảo vệ Tổ quốc cuối thế kỉ XVIII” tôi đưa câu hỏi để học sinh thảo luận ở cuối bài:

Đánh giá công lao của phong trào Tây Sơn trong việc thống nhất đất nước.



15



Lưu ý: Câu hỏi thảo luận nhóm phải yêu cầu học sinh tư duy, suy nghĩ trả lời

chứ không đơn thuần là các kiến thức có sẵn hết trong sách giáo khoa. Hay nói cách

khác đó là các câu hỏi thuộc mức độ thơng hiểu hoặc vận dụng hoặc có sự kết hợp

giữa các mức độ, không nên chỉ dùng mỗi câu hỏi nhận biết để thảo luận. Trong quá

trình sử dụng câu hỏi để rèn luyện kĩ năng thảo luận nhóm, giáo viên phải ln quan

sát, nhắc nhở, điều chỉnh thảo luận khi các em đưa ra ý kiến xa rời vấn đề thảo luận.

Thái độ nhiệt tình, động viên của giáo viên cũng góp phần rất lớn tạo nên sự thành

cơng trong hoạt động nhóm của học sinh.

2.3. Vận dụng vào tiết học cụ thể

Dưới đây là bài minh họa cho việc vận dụng phương pháp sử dụng câu hỏi để

phát huy tính tích cực và gây hứng thú cho học sinh trong dạy học Lịch sử lớp 10: Bài

11 “Tây Âu thời hậu kì trung đại” (Tiết 1).

Bài 11: TÂY ÂU THỜI HẬU KỲ TRUNG ĐẠI (TIẾT 1)

1. MỤC TIÊU

1.1. Kiến thức :



Học sinh cần năm được những kiến thức sau :

- Nhu cầu về vàng bạc, nguyên liệu, thị trường đã dẫn đến các cuộc phát kiến địa lý.

Nó đã đem lại cho châu Âu nhiều của cải và sự hiểu biết mới về trái đất, về các dân

tộc trên thế giới.

- Nội dung và hệ quả của 4 cuộc phát kiến lớn về địa lí.

1.2. Kỹ năng

- Biết sử dụng bản đồ mô tả các cuộc phát kiến địa lý, đồng thời biết tự vẽ bản đồ.

- Thông qua các sự kiện lịch sử, biết phân tích và khái qt hóa rút ra kết luận.

1.3. Thái độ

- Giáo dục học sinh tinh thần dũng cảm, khám phá cái mới; tinh thần đoàn kết các dân

tộc. Giúp học sinh hiểu giá trị của lao động, căm ghét bọn bóc lột, hiểu giá trị lao động

của người bị áp bức.

- Giúp học sinh biết quý trọng những di sản văn hóa các dân tộc trên thế giới, đồng

thời có hiểu biết về tơn giáo để có thái độ đúng đắn với các tôn giáo đang tồn tại ở

nước ta.

- Tích hợp giáo dục mơi trường: giáo dục cho học sinh về việc mở rộng môi trường

giao dịch trên thế giới.

16



2. CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH

2.1. CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN

- Thiết bị dạy học: Lược đồ “Những cuộc phát kiến địa lý”, Ảnh chân dung: C.

Colombo, Ma-gien-lăng, hình tàu Caraven, phiếu học tập…

- Học liệu: Sách giáo khoa, sách giáo viên, chuẩn kiến thức kĩ năng, giáo trình lịch sử

thế giới trung đại, những mẩu chuyện lịch sử thế giới…

2.2. CHUẨN BỊ CỦA HỌC SINH: Tìm hiểu các cuộc phát kiến lớn về địa lí, sưu

tầm tranh ảnh, chân dung các nhà phát kiến địa lí…

3. TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP

3.1. Ổn định lớp: Kiểm tra sĩ số, kiểm tra vệ sinh, kiểm tra tác phong học sinh.

3.2. Kiểm tra bài cũ: Tại sao nói “Thành thị là bơng hoa rực rỡ của Tây Âu thời trung

đại”? (5 phút)

3.3. Tiến trình bài học

Giáo viên dẫn dắt vào mới mới bằng tình huống có vấn đề như sau: Thế kỉ XVXVI, ở Tây Âu đã diễn ra các cuộc phát kiến lớn về địa lí. Vậy, nguyên nhân-điều kiện

nào dẫn đến các cuộc phát kiến địa lý? Nội dung, hệ quả của các cuộc phát kiến lớn về

địa lí; các cuộc phát kiến lớn về địa lí có tác động gì đối với nước ta? Để biết những

vấn đề trên, cơ trò chúng ta cùng tìm hiểu bài mới.

HOẠT ĐỘNG 1 (10 phút)

1. Phương pháp: vấn đáp, giảng giải, phân tích, trực quan.

2. Hình thức tổ chức hoạt động

Hoạt động của GV



Hoạt động của HS



- GV dẫn dắt vào mục.



Nội dung cần nắm



*Cả lớp, cá nhân

1. Những cuộc phát

HS theo dõi, suy nghĩ, trả kiến địa lý

- GV hỏi: phát kiến là gì? lời.

Phát kiến địa lý là gì? (Sự

a. Nguyên nhân và điều

phát hiện có ý nghĩa khoa

kiện

Sự

tiến

bộ

khoa

học

kỹ

học về mặt địa lý…)

*Nguyên nhân:

thuật.

- Cho HS xem bản đồ con - Các nhà hàng hải có hiểu

- Sản xuất phát triển, nhu

đường giao lưu, buôn bán biết nhiều về đại dương,

cầu về hương liệu, thị

qua Tây Á, Địa Trung Hải ở có quan niệm đúng về

hình dạng Trái đất, đã vẽ trường và vàng bạc cao.

thế kỉ XV, đưa ra câu hỏi

được hải đồ ghi rõ các

17



Nguyên nhân dẫn đến các vùng đất, các hòn đảo có

dân cư.

cuộc phát kiến địa lý?

- Máy móc thiên văn, la

- Cho HS xem 1 số hình bàn được sử dụng trong

ảnh về máy móc thiên văn, việc định hướng đại

la bàn… đưa ra câu hỏi dương bao la.

những điều kiện dẫn đến - Kỹ thuật đóng tàu có

nhiều tiến bộ, đóng được

các cuộc phát kiến địa lý?

những con tàu có bánh lái

và hệ thống buồm lớn như

- GV nhận xét, chốt ý.

tàu Caraven.

HOẠT ĐỘNG 2. (15 phút)



- Con đường giao lưu,

buôn bán qua Tây Á và

Địa Trung Hải bị người

Ả-rập độc chiếm.

*Điều kiện: KHKT có

nhiều tiến bộ: ngành

hàng hải, những hiểu

biết về hải đồ, bản đồ...



1. Phương pháp: vấn đáp, thuyết minh, giảng giải, phân tích, trực quan, thảo luận

nhóm.

2. Hình thức tổ chức hoạt động

Hoạt động của GV



Hoạt động của HS



- GV dẫn dắt vào mục.



*Nhóm

- HS thảo luận, hoàn

- GV phát phiếu học tập, thành phiếu học tập.

yêu cầu HS dựa trên tài liệu - HS trình bày kết quả

SGK điền nội dung thơng thảo luận, HS khác bổ

sung.

tin.

- HS quan sát lược đồ

Tên Tên Thời Kết “Các cuộc phát kiến địa

nước nhà gian quả lý”, HS lên bảng mơ tả lại

hành trình của các nhà

thám

thám hiểm.

hiểm

+ 1487, B. Điaxơ đã đi

vòng cực Nam của lục địa

Phi, đặt tên là mũi Bão

Tố.



Nội dung

b. Các cuộc phát kiến

địa lý

- Năm 1487, B. Điaxơ

đã đi vòng cực Nam của

lục địa c. Phi, đặt tên là

mũi Hải Vọng.

- Năm 1492, C.Côlômbô

đi từ Tây Ban Nha đến

CuBa và một số đảo

vùng biển Ăngti. Ông là

người đầu tiên phát hiện

ra Châu Mỹ.



- Năm 1497, Vaxcô đơ

+ 1497, Vaxcô đơ Ga-ma

Ga-ma đi đến Calicut

đến được calicut Ấn Độ.

Ấn Độ

- GV nhận xét, chốt ý.

+ 1492, C.Côlômbô đã

- Năm 1519-1522, Ph.

dẫn đầu đoàn thuỷ thủ về

- Sử dụng lược đồ “Các

Magienlan là người đã

hướng Tây, đến được Cu

cuộc phát kiến địa lý”.

thực hiện chuyến đi đầu

Ba và một số đảo vùng

tiên vòng quanh thế giới

- Cho học sinh xem hình C. Angti.

bằng đường biển.

Côlômbô, kể vài chi tiết về

+ Magienlan là người đã

18



nhân vật này. GV đưa đoạn

thơng tin về hành trình đoàn

thám hiểm của Magienlan.

Yêu cầu HS rút ra nhận xét

về tinh thần của các nhà

thám hiểm.



thực hiện chuyến đi đầu

tiên vòng quanh thế giới

bằng đường biển từ năm

1519- 1522.



- GV: Nhận xét, chốt ý.

Nhấn mạnh tinh thần dũng

cảm của các nhà thám hiểm.

- Vì sao BĐN và TBN là 2

nước đi tiên phong trong

các cuộc phát kiến địa lí?

- HS suy nghĩ, trả lời.

- Hướng đi của TBN và

BĐN có gì khác nhau?

- GV nhận xét, chốt ý.

HOẠT ĐỘNG 3. (10 phút)

1. Phương pháp: vấn đáp, thuyết minh, thảo luận nhóm, trực quan.

2. Hình thức tổ chức hoạt động

Hoạt động của GV



Nội dung



- Vì sao nói phát kiến địa lí

*Cả lớp, cá nhân

được coi như một “cuộc

HS trình bày, HS khác bổ

cách mạng thực sự” trong

sung.

lĩnh vực giao thông và tri

thức?

- Khẳng định trái đất hình

cầu.

- GV nhận xét và chốt ý.



Hoạt động của HS

c. Hệ quả

*Tích cực:

- Đem lại hiểu biết mới

về Trái Đất, về những

con đường mới, dân tộc

mới.



- Tạo điều kiện giao lưu

văn hóa, văn minh.

- Tạo điều kiện giao lưu

văn hóa, văn minh.

- Thúc đẩy thương nghiệp

phát triển, tạo điều kiện - Thúc đẩy thương

cho CNTB ra đời.

nghiệp phát triển, thị

trường được mở rộng,

- Theo em, các cuộc phát HS suy nghĩ, trả lời:

kiến địa lý trên có tác động Thuyền bn châu Âu tìm tạo điều kiện cho CNTB

ra đời.

gì đối với sự phát triển của

đến với Đại Việt ngày một

- GV cho HS xem đoạn

video về cuộc xâm chiếm

thuộc địa. Yêu cầu HS rút

ra nhận xét. (Hậu quả tiêu

cực của các phát kiên địa lí.



19



nước ta?



nhiều, góp phần mở rộng *Hạn chế: nảy sinh qt

thị trường trong nước, cướp bóc thuộc địa,bn

thúc đẩy sự hưng thịnh bán nô lệ.

của 1 số đô thị, giáo sĩ

Thiên chúa giáo đến

truyền đạo ở nước ta, thúc

đẩy giao lưu văn hóa

Đơng – Tây. Các nước tư

bản phương Tây, tiêu biểu

là Pháp, bắt đầu dòm ngó

và âm mưu xâm lược

nước ta…



Tích hợp mơi trường: mở

rộng mơi trường giao dịch

trên thế giới...



2. Sự nảy sinh CNTB ở

Tây Âu.



Mục 2: Giáo viên hướng

dẫn học sinh đọc thêm,

không dạy, nhưng giáo viên

cần giúp học sinh nắm khái

quát một số vấn đề: Giải

thích khái niệm CNTB...



(Giảm tải)



4. TỔNG KẾT VÀ HƯỚNG DẪN HỌC TẬP (5 phút)

4.1. Tổng kết: Sự ra đời của thành thị thúc đẩy kinh tế hàng hóa phát triển ở Tây Âu.

Nhu cầu về hương liệu, vàng bạc, thị trường ngày một tăng. Việc tìm con đường đi

sang phương Đơng đã thúc đẩy các cuộc phát kiến lớn về địa lí. Nó mang lại nguồn

của cải lớn về châu Âu cũng như những hiểu biết mới về Trái Đất.

4.2. Hướng dẫn học tập

*Học bài cũ và trả lời câu hỏi: Nguyên nhân và hệ quả của các cuộc phát kiến địa lí?

Trong các hệ quả của cuộc phát kiến địa lý, hệ quả nào quan trọng nhất? Vì sao?

*Chuẩn bị bài mới “Tây Âu hậu kì trung đại” : Hồn cảnh, nội dung, đặc điểm của

phong trào Văn hóa Phục hưng.

2.4. Kết quả thực nghiệm

Việc sử dụng câu hỏi để phát huy tính tích cực và khắc sâu kiến thức cho học

sinh trong môn Lịch sử lớp 10 đã được bản thân tôi tiến hành thử nghiệm từ năm học

2017-2018. Qua thực hiện, hiệu quả đề tài được đánh giá bằng kết quả học tập của học

20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ YÊU CẦU VÀ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG CÂU HỎI ĐỂ PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC VÀ KHẮC SÂU KIẾN THỨC CHO HỌC SINH TRONG MÔN LỊCH SỬ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×