Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Tải bản đầy đủ - 0trang

giáo dục và phương pháp dạy học. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã

được xác định trong Nghị Quyết Trung ương 4 khóa VII (1/1993), Nghị quyết

Trung ương 2 khóa VIII (12/1996) và được thể chế hóa trong Luật Giáo dục sửa

đổi ban hành ngày 27/6/2005, điều 2.4, đã ghi “Phương pháp giáo dục phải phát

huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; Bồi dưỡng cho

người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn

lên”.



1.1.3. Thế nào là tích cực và hứng thú trong học tập?

Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người. Để tồn tại và phát triển,

con người luôn phải chủ động và hăng hái cải biến mơi trường tự nhiên. Bởi vậy, hình

thành và phát triển tính tích cực là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục.

Tính tích cực học hỏi về bản chất là tính tích cực nhận thức, đặc điểm ở khát vọng

thơng hiểu, có nghị lực cao trong q trình chiếm lĩnh tri thức.

Tính tích cực nhận thức trong hoạt động học hỏi liên tưởng trước tiên với động

cơ học hỏi. Động cơ đúng tạo ra hứng thú. Hứng thú là tiền đề của tự giác. Hứng thú

và tự giác là hai nhân tố tạo nên tính tích cực. Tính tích cực sản sinh nếp tư duy độc

lập. Nghĩ suy độc lập là mầm mống của sáng tạo. Ngược lại, tính tích cực sẽ phát triển

sự hứng thú, bồi dưỡng động cơ học hỏi. Tính tích cực học hỏi thể hiện ở những dấu

hiệu như: hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên, nhận xét các câu trả lời của bạn,

mạnh dạn phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề đặt ra; hoặc nêu thắc mắc, đòi hỏi

giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ; chủ động vận dụng kiến thức, kĩ năng đã

học để tiếp nhận thức kiến thức mới; say mê hoàn thành các bài tập, khơng nản chí

trước những tình huống khó khăn… Tính tích cực học tập biểu hiện qua các cấp độ từ

thấp lên cao như: Bắt chước, tìm tòi và sáng tạo.

1.2. Cơ sở thực tiễn

Khi nói về thực trạng dạy và học môn Lịch sử ở các trường phổ thông, GSNGND Phan Huy Lê - Chủ tịch Hội khoa học Lịch sử Việt Nam đã nhận định: “ Vấn

đề đánh giá thực trạng dạy, học môn Lịch sử hiện nay không phải bây giờ mới đặt ra

nhưng giờ đây đã được dư luận quan tâm rất nhiều trên các phương tiện truyền

thơng, đặc biệt là sau kì thi đại học những năm vừa qua. Có những năm kết quả thi

tuyển sinh môn Lịch sử đã thực sự gây “sớc” đới với tồn xã hội : Tỷ lệ thí sinh có

điểm thi dưới trung bình chiếm hơn 80% trong đó hơn 60% có điểm thi dưới 1 (1/10).

Qua đó cho thấy kiến thức bộ môn Lịch sử của học sinh bậc trung học phổ thơng q

yếu”. Đó là một vấn đề mà cả xã hội đang quan tâm.

Nhìn vào kết quả của việc học tập môn Lịch sử, đặc biệt là qua các kì thi tuyển,

chúng ta có thể thấy rõ về thực trạng đó. Ở trường trung học phổ thơng, trong các mơn

6



thi tốt nghiệp, có lẽ môn lịch sử là môn gây nên sự chú ý nhiều nhất của dư luận và

lập được nhiều “kỷ lục” trong thi cử ở nước ta: là mơn thi có điểm trung bình thấp

nhất trong các mơn thi tốt nghiệp THPT nhiều năm gần đây.

Trong các môn thi tuyển ở Đại học năm 2006 thì mơn sử có điểm số thấp nhất.

Trường ĐH Sư phạm Hà Nội có gần 700 bài thi mơn sử bị điểm 0; chỉ có 9% bài thi

đạt điểm từ 6 trở lên. Kết quả thi tuyển sinh môn Lịch sử của trường ĐH Sư phạm

Thành Phố Hồ Chí Minh cũng khơng khá hơn là mấy khi các bài thi đa số dưới 5

thuộc loại yếu kém.

Qua vài năm giảng dạy lớp 10 ở trường tôi nhận thấy:

*Ưu điểm

- Nhà trường, tổ bộ môn tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích giáo viên đổi

mới phương pháp dạy học. Trường đã tập huấn và phổ biến tài liệu về các phương

pháp dạy học tích cực cho giáo viên.

- Hầu hết giáo viên dạy môn Lịch sử trong nhà trường đều nhận thức rõ về tầm

quan trọng của việc đổi mới phương pháp tiếp thu kiến thức của học sinh. Vì vậy,

trong quá trình dạy học trong một chừng mực nhất định giáo viên cũng đã có nhiều cố

gắng trong việc phát huy tính tích cực và tạo hứng thú cho học sinh. Trong soạn giảng

có hướng đổi mới phương pháp dạy học bằng nhiều hình thức như đặt câu hỏi có vấn

đề, đưa ra những tình huống để học sinh giải quyết, xây dựng hệ thống câu hỏi phát

huy tính tích cực của học sinh. Trong quá trình dạy học đã kết hợp nhuần nhuyễn các

đồ dùng dạy học, khai thác một cách triệt để các đồ dùng và phương tiện dạy học như

tranh, ảnh, bản đồ, ứng dụng công nghệ thông tin thường xuyên vào giảng dạy.

- Đa số học sinh có ý thức học tập tốt, khả năng tiếp thu và giải quyết vấn đề

nhanh nhạy. Các em tỏ ra hứng thú với các câu hỏi tư duy động não.

*Tồn tại và nguyên nhân

- Việc thực hiện dạy học tích cực bằng cách sử dụng hệ thống câu hỏi để phát

huy tính tích cực và hứng thú của học sinh còn chưa được đồng đều giữa các giáo

viên, một số giáo viên chưa vận dụng linh hoạt vào bài dạy. Do đó, chưa phát huy hết

tích tích cực cũng như chưa tạo được hứng thú thật sự của các em đối với bộ môn.

- Vẫn còn một số ít giáo viên chưa cải tiến nội dung và phương pháp dạy học,

chưa gây được hứng thú học tập cho học sinh, lối dạy truyền thụ một chiều “thầy nói,

trò nghe”, “thầy đọc, trò chép” tuy có giảm nhưng vẫn còn. Từ đó, dẫn đến học sinh

nhàm chán, học một cách thụ động, dẫn đến chất lượng ở một số lớp chưa cao.



7



- Một số giáo viên còn xem nhẹ việc sử dụng hệ thống câu hỏi để tương tác với

học sinh. Việc vận dụng đổi mới phương pháp vào các tiết dạy chưa linh hoạt, sinh

động, hấp dẫn, chưa tạo được hứng thú học tập bộ môn cho học sinh. Đôi lúc giáo

viên đặt câu hỏi hơi khó, học sinh khơng trả lời được nhưng lại khơng có hệ thống câu

hỏi gợi mở để dẫn dắt học sinh khai thác. Hoặc ở một số tiết giáo viên chỉ nêu vài ba

câu cho học sinh khá giỏi trả lời chưa có câu hỏi dành cho đối tượng học sinh trung

bình. Cho nên đối tượng này ít được chú ý, các em thêm tự ti về năng lực của mình và

cảm thấy chán nản mơn học.

- Có bộ phận không nhỏ học sinh chỉ học bài đối phó, sự say mê và hứng thú thật

sự chưa có. Việc ghi nhớ các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử còn yếu. Đa số các

em chưa độc lập suy nghĩ để trả lời câu hỏi mà phải lệ thuộc hoàn toàn vào sách giáo

khoa, hay chỉ nêu một mốc thời gian mà không hiểu được ý nghĩa hay bản chất của sự

kiện, hiện tượng lịch sử.



8



CHƯƠNG 2: MỘT SỐ YÊU CẦU VÀ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG CÂU HỎI ĐỂ

PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC VÀ KHẮC SÂU KIẾN THỨC CHO HỌC

SINH TRONG MÔN LỊCH SỬ

2.1. Yêu cầu

Việc sử dụng câu hỏi trong q trình dạy học nói chung, dạy lịch Sử nói riêng

có lẽ khơng một giáo viên nào không sử dụng, nhưng sử dụng câu hỏi phải đúng lúc,

đúng kiểu bài lên lớp đồng thời phải phù hợp với mức kiến thức của đối tượng học

sinh. Hơn nữa phải đưa ra câu hỏi làm sao phải phát huy được tư duy của các em, câu

hỏi cần xoáy vào trọng tâm của bài.

Đặt câu hỏi trong dạy học lịch sử là một trong những biện pháp quan trọng để

phát triển tư duy học sinh. Song sử dụng câu hỏi và hệ thống câu hỏi như thế nào để

phát huy tính tích cực của học sinh là một vấn đề khó và phức tạp. Để thực hiện tốt

vấn đề trên, trước hết giáo viên phải thực hiện tốt khâu soạn giáo án. Trước đây chúng

ta xác định mục đích, yêu cầu của bài học là “Làm cho học sinh nắm được, hiểu

được.” Có nghĩa là trong giờ dạy, giáo viên là trung tâm, học sinh thụ động tiếp thu

kiến thức, nhận thông tin từ người thầy. Nhưng từ khi đổi mới chương trình sách giáo

khoa, đổi mới phương pháp giảng dạy, khâu soạn giảng cũng có nhiều thay đổi, mục

tiêu bài học có mức độ: Nhận biết, thơng hiểu, vận dụng (thấp, cao). Như vậy, chúng

ta đã chuyển hoạt động của giáo viên sang hoạt động của học sinh là chính, học sinh

xây dựng kiến thức cho mình dưới sự hướng dẫn của giáo viên thông qua hệ thống câu

hỏi. Học sinh khơng chỉ nắm kiến thức mà còn nắm phương pháp để hiểu và vận dụng

kiến thức vào thực tiễn cuộc sống.

Để đạt mục đích trên, đòi hỏi giáo viên phải đầu tư cho bài soạn, đặc biệt là việc xây

dựng hệ thống câu hỏi của bài dạy. Sử dụng câu hỏi trong dạy học lịch sử để phát huy

tính tích cưc trong học tập và khắc sâu kiến thức cho học sinh phải được thực hiện

linh hoạt ở tất cả các bước trong giờ dạy.

2.2. Biện pháp



2.2.1. Xây dựng tình huống có vấn đề bằng câu hỏi trước khi vào bài mới.

Xây dựng tình huống có vấn đề có ý nghĩa đặc biệt đối với việc phát huy tính

tích cực và tạo hứng thú học tập cho học sinh. Trước khi vào bài mới, giáo viên nên

nêu tạo tình huống có vấn đề để điều khiển học sinh giải quyết theo hướng tích cực.

Các câu hỏi nêu vấn đề đưa ra vào đầu giờ nhằm động viên sự chú ý, huy động năng

lực nhận thức của học sinh vào việc theo dõi bài giảng để tìm câu trả lời. Những câu

hỏi này là vấn đề cơ bản mà học sinh phải nắm vững. Đương nhiên, khi đặt câu hỏi

này không yêu cầu học sinh trả lời ngay mà chỉ sau khi giáo viên cung cấp đầy đủ

kiến thức thì học sinh mới trả lời được.

9



Trong mỗi bài, mỗi mục đều ẩn chứa các tình huống có vấn đề. Bản thân các

vấn đề bao gồm các vấn đề lớn hay nhỏ, vấn đề phức tạp hay đơn giản. Giáo viên cần

xác định kiến thức trọng tâm cần đạt của tiết học để xây dựng tình huống có vấn đề

phù hợp. Có những loại tình huống có vấn đề sau:

Tình huống nghịch lí: là tình huống vấn đề xuất hiện đứng trước một sự lựa

chọn rất khó khăn giữa hai hay nhiều phương án giải quyết.

Tình huống bác bỏ: là tình huống vấn đề đòi hỏi phải bác bỏ một luận điểm ,

kết luận sai lầm. để đạt được điều đó, học sinh phải tìm ra chổ yếu, chỗ sai, chỗ thiếu

chính xác để chứng minh tính sai lầm của vấn đề.

Tình huống tại sao: là tình huống phổ biến trong dạy học. tình huống này đòi

hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức và kĩ năng vốn có để giải quyết vấn đề đặt ra.

Học sinh phải tìm ra được các mối liên hệ đặc biệt là mối liên hệ nhân quả. Tìm ra

được nguyên nhân dẫn đến kết quả đó. Trên cơ sở đó, giáo viên linh động, sáng tạo

xây dựng tình huống có vấn đề với hệ thống câu hỏi phù hợp.

Ví dụ: Khi dạy bài “Các quốc gia cổ đại phương Đông” - tiết 2, kiến thức

trọng tâm là những thành tựu lớn về văn hoá của các quốc gia cổ đại phương Đông.

Để tạo hứng thú, phát huy tính tích cực trong học tâp của học sinh, mở đầu bài học tôi

dẫn dắt ngắn gọn và đưa học sinh vào tình huống có vấn đề: Vì sao nói phương Đơng

là cái nơi của nhân loại, nơi mà lần đầu tiên con người đã biết sáng tạo ra chữ viết,

văn học, nghệ thuật và nhiều tri thức khoa học khác? (Tình huống tại sao). Những

thành tựu văn hóa nào của người phương Đông thời cổ đại mà đến nay chúng ta vẫn

thừa hưởng?

Với cách giới thiệu bài như trên, giáo viên đã tạo cho học sinh một sự tò mò,

mong muốn khám phá.

Ví dụ: Khi dạy bài “Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành độc lập dân

tộc (Thế kỉ II đến đầu thế kỉ X)”, kiến thức trọng tâm là những nội dung cơ bản chính

sách đơ hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc ở nước ta về tổ chức bộ máy cai

trị, chính sách bóc lột kinh tế, chính sách đồng hóa dân tộc; Những chuyển biến kinh

tế, văn hóa, xã hội nước ta trong thời Bắc thuộc. Mở đầu bài học tôi dẫn dắt: Năm 179

TCN, Âu Lạc bị Triệu Đà xâm chiếm. Từ đó, đến đầu thế kỉ X, các triều đại phong

kiến phương Bắc từ triệu đến Đường thay nhau đô hộ nước ta. Chúng đã thực hiện

nhiều chính sách cai trị thâm độc với âm mưu đồng hóa dân tộc ta. Từ đó tơi đưa ra

câu hỏi có tình huống cho học sinh:

- Các triều đại phong kiến phương Bắc đã thực hiện những chính sách cai trị

gì đới với dân tộc ta?



10



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×