Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cơ sở lí luận

Cơ sở lí luận

Tải bản đầy đủ - 0trang

Thí nghiệm thực hành Vật lí là thí nghiệm do tự tay học sinh tiến hành

đưới sự hướng dẫn của giáo viên.

*Phân loại:Với dạng thí nghiệm này có nhiều cách phân loại, tuỳ

theo căn cứ để phân loại:

1.2.2.1. Căn cứ vào nội dung:

Có thể chia thí nghiệm thực hành làm hai loại:

a. Thí nghiệm thực hành định tính.

- Loại thí nghiệm này có ưu điểm nêu bật bản chất của hiện tượng.

b. Thí nghiệm thực hành định lượng.

- Loại thí nghiệm này có ưu điểm giúp học sinh nắm đ ược quan h ệ

giữa các đại lượng vật lí một cách chính xác rõ ràng.

1.2.2.2. Căn cứ vào tính chất

Có thể chia thí nghiệm thực hành làm hai loại:

a. Thí nghiệm thực hành khảo sát.

- Loại thí nghiệm này học sinh chưa biết kết quả thí nghiệm, ph ải

thơng qua thí nghiệm mới tìm ra được các kết luận cần thi ết. Lo ại thí

nghiệm này được tiến hành trong khi nghiên cứu kiến th ức m ới.

b. Thí nghiệm kiểm nghiệm

- Loại thí nghiệm này được tiến hành kiểm nghiệm lại những kết

luận đã được khẳng định cả về lí thuyết và th ực nghiệm nhằm đào sâu

vấn đề hơn.

1.3. Biện pháp thực hiện thí nghiệm

1.3.1. Thí nghiệm phải đảm bảo thành cơng:

Nếu thí nghiệm thất bại học sinh sẽ mất tin tưởng vào bài học và ảnh

hưởng xấu đến uy tín của giáo viên. Muốn làm tốt được điều này, giáo viên phải:

-Am hiểu bản chất của các hiện tượng vật lí xảy ra trong thí nghiệm.

-Nắm vững cấu tạo, tính năng, đặc điểm của từng dụng cụ thí nghiệm

cùng với những trục trặc có thể xảy ra để biết cách kịp thời khi phải sửa chữa.

Muốn vậy, giáo viên phải làm trước nhiều lần trong khi chuẩn bị bài.

1.3.2. Thí nghiệm phải ngắn gọn một cách hợp lí.

Nếu thí nghiệm kéo dài sẽ khó tập chung sự chú ý của học sinh và dễ cháy

giáo án. Muốn vậy giáo viên phải hạn chế tối đa thời gian lắp ráp thí nghiệm.

Thí nghiệm đảm bảo thành cơng ngay khơng phải làm lại. Nếu thí nghiệm kéo

dài có thể chia ra nhiều bước, mỗi bước coi như một thí nghiệm nhỏ.

1.3.3. Thí nghiệm phải đảm bảo cho cả lớp quan sát.

Để làm tốt điều này, giáo viên cần phải:

-Chuẩn bị dụng cụ thích hợp, có kích thước đủ lớn, có cấu tạo đơn giản

thể hiện rõ được bản chất của hiện tượng cần nghiên cứu. Dụng cụ phải có hình

dáng. màu sắc đẹp, hấp dẫn học sinh, có độ chính xác thích hợp.

Trang



-Sắp xếp dụng cụ một cách hợp lí. Điều này biểu hiện:

+ Chỉ bày những dụng cụ cần thiết cho thí nghiệm, khơng bày la liệt

những dụng cụ chưa dùng đến hoặc chưa dùng xong.

+ Bố trí sao cho cả lớp đêu nhìn rõ. Muốn như vậy nên sắp xếp dụng cụ

trên mặt phẳng thẳng đứng. Nếu không được phải đem đến tận bàn cho học sinh

xem. Giáo viên cũng cần chú ý khơng che lấp thí nghiệm khi thao tác.

1.3.4. Phải phát huy được tác dụng của thí nghiệm biểu diễn.

Điều đó đòi hỏi thì:

-Thí nghiệm phải được tiến hành hữu cơ với bài học, tuỳ vào mục đích

của bài học mà đưa thí nghiệm đúng lúc.

-Thí nghiệm phải tiến hành kết hợp với phương pháp giảng dạy khác nhất

là phương pháp đàm thoại và vẽ hình.

-Thí nghiệm chỉ có hiệu quả tốt khi có sự tham gia tích cực, có ý thức của

học sinh. Vì vậy giáo viên phải làm cho học sinh hiểu rõ mục đích của thí

nghiệm, cách bố trí thí nghiệm và các dụng cụ của thí nghiệm. Học sinh trực tiếp

quan sát và rút ra kết luận cần thiết.

1.4.Thực trạng và giải pháp trong hoạt động thí nghiệm ở tr ường

phổ thông hiện nay

1.4.1. Thực trạng.

Lâu nay, việc sử dụng các bộ thí nghiệm trong dạy và học Vật lí ở các

trường THPT nói chung và ở trường THPT Lý Tự Trọng nói riêng là ho ạt

động thường xuyên của mỗi giáo viên dạy Vật lí. Song để khai thác t ốt các

tiện ích, cơng năng của các bộ thí nghiệm này trong việc xây d ựng ph ương

án dạy học mỗi bài học vật lí cụ thể để từ đó góp phần vào nâng cao ch ất

lượng dạy học bộ mơn thì khơng nhiều người làm đ ược, khơng th ường

xun làm được.

Sở dĩ có thực trạng trên, theo tơi là do một số nguyên nhân sau:

a. Thiết bị đang thiếu nhiều, những thiết bị đã có thì hỏng rất nhiều

có thiết bị thì hỏng một phần hoặc hỏng tồn phần. Ngoài ra, cũng cần phải

thừa nhận rằng, khả năng sử dụng các thiết bị dạy học hiện đại cũng như thao tác

TN của một bộ phận GV hiện nay nói chung còn hạn chế.

b. Các bộ thí nghiệm chỉ thường được dùng trong các giờ thực hành của

học sinh. Đa số thí nghiệm chỉ dùng được một cách định tính, thậm chí nhiều

dụng cụ khơng còn sử dụng được và giáo viên chỉ giới thiệu cho học sinh là có

dụng cụ như thế và hướng dẫn học sinh cách thí nghiệm.

c. Trong các giờ dạy bài mới, một số giáo viên cũng có ý thức sử dụng thí

nghiệm nhưng việc dùng thí nghiệm thường chỉ với ý nghĩa minh họa cho kiến

thức (làm tăng tính trực quan) mà ít dùng để khảo sát việc xây dựng từng đơn vị

kiến thức của bài học.

Trang



d. Một phần khác không kém phần quan trọng chính là ở đội ngũ giáo

viên (GV), chúng ta chưa mạnh dạn tìm tòi, nghiên cứu sử dụng, để các TN VL,

các phương tiện dạy học hiện đại thực sự mang lại hiệu quả.

1.4.2. Giải pháp.

Theo tôi, cần có một số giải pháp sau:

a. Trước hết, chúng ta phải nhận thức được việc s ử dụng có ch ất

lượng đồ dùng dạy học sẽ nâng cao chất lượng dạy học, giờ dạy sẽ nhẹ

nhàng hơn và học sinh hiểu bài hơn.

b. Giáo viên thường xuyên có ý thức học hỏi để nâng cao khả năng sử

dụng thí nghiệm vào dạy học có hiệu quả cao.

c. Các bộ thí nghiệm được cung cấp ở trường phổ thông ngày càng đầy đủ

và hồn thiện, tuy nhiên một số thí nghiệm vẫn chưa làm nổi bật hoặc làm rõ

được hiện tượng, hoặc có những bài chưa có thí nghiệm. Vì vậy người giáo viên

cần có những sự thay đổi, bổ sung cũng như thiết kế những dụng cụ phù hợp với

nội dung bài dạy và trình độ học sinh của mình.

2. Phân tích một số thí nghiệm trong chương trình vật lí 11 cơ bản

2.1. Chương 5: Cảm ứng điện từ

2.1.1. Thí nghiệm về hiện tượng cảm ứng điện từ. (bài 23 Vật lí 11cơ bản)

a. Nội dung thí nghiệm

- Thí nghiệm gồm điện kế được nối với

vòng dây kín và một nam châm.

- Khi cho thanh nam châm chuyển động

tương đối so với khung dây (ra xa hoặc

lại gần) thì kim điện kế bị lệch→trong

vòng dây xuất hiện dòng điện cảm ứng.

- Thí nghiệm này còn được sử dụng để

xác định chiều của dòng điện cảm ứng

(kiểm chứng định luật Len-xơ). Chẳng

hạn, ở hình bên khi thanh nam châm

chuyển động ra xa vòng dây thì dòng

điện cảm ứng được sinh ra có chiều

chống lại sự giảm của cảm ứng từ

xuyên qua vòng dây nên dòng điện có

chiều như hình vẽ.

b. Khó khăn khi tiến hành thí nghiệm

- Thí nghiệm để nhận biết sự tồn tại của

dòng điện cảm ứng là khá rõ ràng

nhưng để nhận biết chiều của dòng điện

cảm ứng thì lại rất khó để quan sát

được.

Trang



c. Khắc phục

- Ta thay cuộn dây gồm nhiều vòng

dây: phương pháp này có thể tăng suất

điện động cảm ứng nên dấu hiệu để

quan sát rõ ràng hơn.

Dùng cuộn dây gồm nhiều vòng dây

- Sử dụng thanh nam châm lớn hơn.



Sử dụng nam châm lớn

d. Thí nghiệm tương tự

- Bằng cách thay đổi điện trở ở biến trở,

ta có thể tăng hoặc giảm cường độ dòng

điện trong mạch. Khi dòng điện biến

thiên sẽ làm cho từ thông trong ống dây

biến thiên theo. Từ thơng biến thiên

xun qua vòng dây sẽ suất hiện suất

điện động cảm ứng trong vòng dây.

- Khắc phục: Tương tự như thí nghiệm

trên, ta có thể thay vòng dây bằng cuộn

dây để tăng độ lớn của dòng điện cảm

ứng giúp cho việc quan sát hiện tường

được rõ ràng hơn.



Trang



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cơ sở lí luận

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×